Chuyển đến nội dung chính
Quay lại Đạo Gia

Bài tổng quan

Quái huyệt: những thế đất kỳ lạ nhưng vẫn là huyệt thật

Đạo Học - Đạo Gia06/10/202615 phút đọc2 lượt đọc
Quái huyệt: những thế đất kỳ lạ nhưng vẫn là huyệt thật

Có huyệt nằm trên đỉnh cao đến mức người thường kinh hãi bỏ qua, có huyệt nằm giữa ruộng sâu, giữa hồ nước, giữa khe đá, thậm chí mang hình móng chân hạc hay da trâu. Người xưa gọi đó là quái huyệt và dặn rằng sai một bước là hại cả một nhà. Vậy làm sao phân biệt kỳ lạ mà thật với kỳ lạ mà giả?


Quái huyệt là địa huyệt kỳ dị, kỳ quặc. Trong phong thủy, cái kỳ dị còn khó hiểu hơn nhiều chuyện đời thường: địa thế có khéo, có vụng. "Khéo" là hình dáng đẹp đẽ mà lại kỳ lạ, vị trí của nó khiến người ta còn phân vân. "Vụng" là hình dáng xấu xí đến mức không ai dám cắm huyệt. Ngạn ngữ nói cái kỳ quái cũng có muôn hình ngàn vẻ, khó ai đoán biết.

Nhưng về đại thể, nếu thấy long là chân, không giả, thì mới hạ táng, định huyệt. Còn nếu chưa hiểu rõ tính tình của sơn mạch, hà lưu, chưa biết khí mạch tụ hay tán thì cũng chớ tùy tiện nói ra để dẫn dắt người khác. Cổ ngữ dặn dùng thuốc sai chỉ hại một mạng người, còn hành thuật phong thủy sai thì gây họa cho cả một gia đình. Đủ thấy việc này quan hệ rất lớn, không nên tùy tiện nói cho người khác biết. Nghiêm Bá Điêu nói xưa nay địa thế tốt xấu là thiên cơ bí mật, không thể nói cho kẻ phàm tục hay biết. Họ Trần nhận xét tinh khí đại địa tạo nên địa huyệt thông thường thì không cần thầy phong thủy cũng nhận ra, vì nó tạo nên đô thị thành quách; nhưng nếu thế đất tạo nên địa huyệt quái dị thì chỉ bậc thánh nhân mới hiểu được.

Huyệt trên đỉnh cao, huyệt dưới ruộng sâu

"Thiên xảo huyệt" là thế chân huyệt nằm cao trên đỉnh của vạn ngọn núi, như mộ tổ của thừa tướng Tăng Lượng ở phủ Tuyền Châu. Tử Vi nói thiên xảo huyệt là huyệt tốt nhất, vị trí nằm trên cao nhất; người tầm thường thấy nó thì trong lòng kinh hãi, dễ dàng bỏ qua, chỉ biết chân huyệt ở trên cao thì khó hạ huyệt. Đứng trên đỉnh thiên xảo nhìn xuống thanh long, bạch hổ và các ngọn núi xung quanh thì thấy chúng đều thấp bé. Khi tiến vào huyệt như đi giữa tầng không, nhìn ra bốn phía có thể bao quát địa hình trong phạm vi hơn trăm dặm. Địa huyệt này chủ sinh thần đồng và trạng nguyên, con cháu đời sau đại phú đại quý.

Ngược lại, "một nê huyệt" là thế huyệt nằm thấp dưới ruộng sâu, như mộ tổ họ Vương ở huyện Vĩnh Khang. Dương công nói khi long mạch tới bình dương thì không cần xem hành tung của nó mà chỉ cần xem có thủy bao bọc, đó chính là chân long. Liêu công nói long mạch giống con rùa lẩn trốn, tông tích ẩn hiện trong ruộng sâu, chỉ cần có thủy bao bọc thì là chân long. "Thiên phong huyệt", đất tổ của một vị thị lang họ Trình, là chân huyệt cô độc lộ ra, bốn phía trống trải, gió thổi tới nhưng khi gió vừa tới thì huyệt địa bèn ẩn tàng lại. Liêu công nói chân địa huyệt tọa lạc nơi đất trống, cách triều sơn khá xa, nhưng quả thực không sợ gió bốn phương tám hướng thổi tới.

Huyệt giữa nước và bên bờ nước

Có huyệt nằm cạnh nước, có huyệt nằm trong nước, và có huyệt chỉ hiện ra khi nước rút.

"Thủy trực huyệt" là đất của một vị cửu công tử ở huyện Thăng: hai con sông chảy thẳng, nhưng khí tới cạnh chân huyệt thì tự dựa sát vào sơn mạch. Dương công kể từng thấy huyệt địa giống hình ngọn thương, có hai con sông kẹp bên sườn; kinh gọi cảnh hà lưu kẹp chặt hai bên sườn ấy là "quỷ kiếp". "Uông dương huyệt" là chân huyệt kết tụ ngay giữa hồ, nước mênh mông bao bọc. Tử Vi nói phải biết chỗ xảo diệu của thủy: long mạch nằm giữa sóng nước, lúc ẩn lúc hiện; tìm được long mạch rồi lại không biết chân huyệt ở đâu, nào ngờ nó nằm chính giữa dòng nước.

"Thạch lý huyệt", đất tổ của trạng nguyên Mao Toán ở huyện Tiền Đường, là chân huyệt kết tụ trong sơn thạch, phải tách khe đá ra mới thấy được thổ mạch. Tử Vi nói cũng có những nơi sơn thạch khắp nơi, đá chồng lên đá, tìm mãi cũng không có một chút đất nào, khó kiếm ra chân huyệt; nơi ấy không hợp với chân mạch của long nhưng lại không thể bỏ qua. "Tuyền cản huyệt", đất tổ họ Tiết ở huyện Giang Âm, có tuyền nhãn tức mắt suối ở bên dưới; sau khi hạ táng, nước suối lại cạn khô. Tây Sơn nói suối có nhiều loại, suối ôn hỏa là tốt nhất, đây là tuyền thủy thịnh vượng, tinh khí tập trung.

"Thủy thiên huyệt", đất tổ của trạng nguyên Tạ Thiên huyện Dư Diễn, nằm sát bờ hà lưu; sau khi hạ táng, thủy thành sẽ dịch chuyển. Họ Bốc nói an lăng mộ tại thiên cốc thì sẽ biến thiên. "Hồ tân huyệt", đất tổ của bảng nhãn Lục Đại Lâm huyện Hội Dư, dựa sát bờ hồ, đến mùa thu đông mới lộ ra. Dương công nói chính ông cũng từng thấy chân huyệt sát mép nước, người thường thấy thế liền bảo trong đó không có tinh khí ẩn tàng. Còn một huyệt nằm trong ruộng nước, mùa xuân thì hà thủy giao lưu; Dương công nhắc lại câu quen thuộc: ở bình địa, địa thế cao một tấc thì là sơn mà thấp một tấc thì là thủy.

"Bồi thổ huyệt" là chân huyệt kết tụ trên mặt đất, gọi là bồi thổ táng: tinh khí nổi lên trên, không hợp hạ táng sâu mà phải mai táng trên gò đất. "Thạch hạ huyệt" là chân huyệt tọa lạc giữa khe đá, có tinh khí đại địa lưu thông đến đó. Liêu công nói nếu là đá cuối thì đừng hoài nghi, có thể đem huyệt an tại khe đá; thổ huyệt ở đó thật quý giá vô cùng. "Chân lưu huyệt" thì bài phú nói hà lưu chạy thẳng kẹp hai bên huyệt rồi chuyển mình, uốn lượn bao bọc huyệt địa, sản sinh công hầu quý nhân.

Huyệt trên đất trống, nơi gió bốn phương thổi tới

"Tả phi huyệt" là địa hình có tả sa phi vũ, phía dưới và đằng sau có núi bao bọc. Dương công nói có sa như dao, như kiếm, thuận theo hà lưu bay lượn; thầy địa lý thế tục thấy loại địa thế này sẽ phán đoán là dẫn người ta ly tổ xa quê, nào biết trong đó có chân long. "Bình dương huyệt" là địa huyệt không ẩn tàng mà bỗng nổi lên trên bình dương; Văn Tiết nói huyệt bình dương không sợ gió từ bốn phương thổi tới. Một địa huyệt khác có rất nhiều dư khí của chân long, cách xa núi xung quanh mấy chục dặm; Ngô công nói nếu dư khí của chân long không kéo dài mấy chục dặm thì nhất định không sinh huyệt địa của vương hầu khanh tướng.

"Tọa không huyệt", đất tổ của công thần Lưu Nhan, là chân huyệt tọa lạc nơi trống trải, nhưng chỉ cần bên cạnh có sông nước chảy qua thì không sợ gió từ khắp nơi thổi tới. Liêu công nói long huyệt ở nơi trống trải, triều sơn ở rất xa nhưng vẫn không sợ gió bốn phương tám hướng. Lại có huyệt trước mặt địa thế thấp, bằng phẳng, nhưng nếu quay đầu trông về tổ sơn thì cát; họ Bốc nói nếu sơn thế là chân long ngoảnh đầu nhìn về tổ tiên thì địa huyệt sẽ sinh quý nhân. "Hợp khí huyệt", đất tổ của trạng nguyên họ Tần huyện Lâm Hải, là thế hai long mạch cùng đến một lúc; kinh nói có long mạch do tinh khí của hai long hợp lại, hai dòng sông và ba tòa núi hợp thành một trường địa huyệt.

Huyệt xấu xí, thô kệch mà vẫn quý

Nhiều huyệt tốt nhất lại mang hình dáng khiến người ta muốn quay mặt đi.

"Thoát long huyệt", đất tổ của trạng nguyên họ Vương huyện Dư Diên, được quyết ca mô tả: long mạch xuyên qua điền địa, vượt qua hà lưu, để lại vết tích, thạch cốt chợt lộ ra thì đó là long mạch; nó rất kỳ dị, xảo diệu, cần lưu ý quan sát long cách. "Nhũ trường huyệt", đất tổ họ Trần huyện Tân Xương, cho thấy địa huyệt dù xấu xa, kỳ dị, thô kệch cũng không nên bỏ qua xem thường: đó là địa huyệt có nhũ đã thẳng lại dài, hai bên tả hữu không có gì ngăn trở. Dương công nói tham lang và liêm trinh đều biểu lộ hình răng lược, hai bên tả hữu cũng không có gì ngăn trở; trên đoạn thẳng ấy cũng có chân huyệt mà không ai hạ táng, họ còn cho rằng không có thanh long bạch hổ hộ vệ. Ai ngờ sau khi hạ huyệt lại sinh ra công hầu khanh tướng.

"Thiên trắc huyệt", đất tổ của tiến sĩ họ Ngô huyện Tiền Đường, là địa huyệt có phần đầu nghiêng lệch. Liêu công nói trong thế nhân phàm tục, kẻ nửa vời luận địa rất nhiều nhưng chưa biết vận dụng cách đào địa; họ thường mai táng ở chính diện mà chưa từng định huyệt trên sườn nghiêng dốc, làm sao nhận ra chỗ kỳ dị huyền diệu của chân huyệt. "Phong diệp huyệt" là thế bên dưới địa huyệt sinh ra địa thế nhọn như chiếc lá phong hình chĩa ba; cổ ngữ nói nếu là chĩa ba của kim tinh thì nên hạ táng trên đầu. "Ngọc cân huyệt", đất tổ họ Trương huyện Đức Hưng, là thế phía sau địa huyệt trống trải; thực ra đó là thế dương trung âm biến, kiềm hợp.

"Phác tí huyệt" có chủy bộ trước địa huyệt vừa thẳng vừa dài, chia hai tay ra ôm ấp; bài phú nói nếu thổ có thừa thì cần bớt, nếu sơn không đủ thì cần bồi. "Kim kiển huyệt" có trước mặt địa huyệt là ngòi sâu, đó chính là kim kiển với ngân tảo; thực ra là thế âm trung dương biến chính kiềm, hai tay duỗi ra rất dài. "Hạc trảo huyệt" xấu xí như móng chân hạc, chân lộ ra ngoài. Dương công nói lộc tồn và đới lộc đều không có dị huyệt; khi dị huyệt kết tụ thì giống móng hạc, hình dạng hai bên ngắn nhỏ, một bên chân ôm tự nhiên lấy chính thân. "Ngưu bì huyệt" là huyệt trải ra trên bình địa; Dương công nói long mạch tản mác có hình giống da trâu, rất xấu xí nhưng lại khiến người ta phát đạt, phú quý song toàn.

"Chiết tí huyệt" là địa huyệt thiếu mất một cánh tay. Dương công nói có địa huyệt tay trái dài tay phải ngắn và ngược lại; người thường không biết huyệt này sẽ sản sinh người hiền lương. Tử Vi nói có địa huyệt tay dài tay ngắn, không có nhũ cũng không có đột, không biết nên hạ táng ở đâu; huyệt này gọi là "long thúc", tức long co rút, nên tìm kiếm ở nơi co rút vì tinh khí ẩn tàng trong đó. Chân huyệt ở bên tả hay bên hữu đều như vậy, nhất định có ngoại sơn làm thanh long bạch hổ. Phạm công nói thủy từ bên hữu chảy lại thì cũng có thể không có sa bên tả; thủy từ bên tả chảy lại thì cũng có thể không có sa bên hữu.

Có huyệt địa thoạt nhìn bình thế rất xấu nhưng nếu quan sát kỹ thì có thái cực đồ nằm trong. Dương công dặn loại địa thế này nếu bị khuyết, phạm vào vòng tròn thái cực đồ thì thủy sẽ xói mòn phần mộ, phá hoại quan tài. Lại có quái huyệt trông tựa cây thương, nhưng chỉ cần tiền sơn và hộ sơn trải dài thì là cát địa. Dương công nói phàm những ngọn núi nhọn như mũi thương thì cần có ngoại sơn bao bọc, bằng không sẽ phát sinh tai họa; ngoại sơn bao bọc tầng tầng lớp lớp, huyệt tựa cây trường thương, hai bên đều có tua ngà thì dù nhọn cũng không đáng sợ. Sơn thế hùng dũng tiến tới, khí thế khó dừng lại nên thành mũi nhọn rồi cũng tới kết huyệt; điều chính yếu là núi trước mặt phải bao bọc cho đến tận trước huyệt, con cháu sẽ đời đời làm quan.

Những hình dáng gọi tên theo đồ vật

"Ngưỡng ngõa huyệt" thì Liêu công nhắc hoành long kết huyệt nhất định phải có quỷ sơn, lạc sơn phải đứng sát phía sau. "Phản chưởng huyệt" trông tựa lòng bàn tay ngửa; Dương công nói hình dạng chân huyệt tựa bàn tay ngửa, song lòng bàn tay tương đối bằng phẳng. "Bổ bích huyệt" giống con bướm đang lao đầu vào tường, quan sát kỹ không có nhiều chỗ nhô cao; ngạn ngữ nói phải an huyệt trong đột, đó chính là cầu cái tinh tế trong cái thô kệch. "Đăng oa huyệt" có hình dạng như ngọn đèn treo trên tường, chỉ thấy đột hơi ngửa lên trên, trong gấp có hoãn, tinh khí kết tụ tại nơi ngửa lên cao; đây chính là huyệt thiên diệu. "Đấu phủ huyệt" có hình như cái rìu. Kinh nói nếu chỉ biết huyệt mà không biết quái huyệt, chỉ thích sơn mạch ôm ấp bao bọc, hộ vệ hai bên thì dù có hạ táng, phần lớn cũng chỉ là hạ táng trong "hư hoa", tức hoa dối. Tả hữu của hư hoa tựa hồ có tình, nhưng xét kỹ lại không phải chính hình; hư hoa tác huyệt dù hay, diệu, xảo cũng không phải chân huyệt thực tốt.

"Bản huyệt" là quái huyệt lõm xuống mà lạc sơn nhô cao. Tử Vi nói cũng có huyệt địa lõm xuống, hai vai nhô cao, đối diện với chủ sơn cúi đầu sát đất; nhũ đấu sinh đối với nơi lõm, hạ táng ở đây thì cát. "Vô đối sơn huyệt" là huyệt không có án sơn, các dòng chảy đều nội tụ tại đây. Dương công nói cũng có chân huyệt không có triều sơn, chỉ thấy các hà lưu đều hội tụ trong, hồ nước mênh mông nằm ngoài minh đường như cùng ôm lấy huyệt; nếu tiền sơn tạp loạn không có chương pháp thì phải tìm hồ, ao tích nước. Rồi lại có "vô long hổ huyệt", đất tổ của một vị thị lang họ Trình ở huyện Hứa Ninh, chẳng có thanh long bạch hổ vẫn thành đất phát.

"Đột khởi huyệt" là thế long mạch đến tận cùng bỗng dựng đứng, cao vượt lên, nên tìm chân huyệt ở giữa mạch; có người nói ở nơi bình địa mà có đột khởi huyệt mới là kỳ tích. Thế địa huyệt cắt rời long mạch thì gọi là "trảm quan huyệt"; kinh nói giả trảm quan huyệt có hình dạng khác xa chân trảm quan huyệt.

Kỵ long huyệt: huyệt trên sống lưng rồng

"Kỵ long huyệt" nằm trên sống lưng của chân long, phú quý vô cùng. Liêu công nói kỵ long phải ở trên sống lưng của long, nơi long dừng bước, phú quý vô địch. Bài ca cổ nhắc ba mươi sáu loại phi long huyệt, nếu không phải thần tiên thì khó phân biệt: thủy phân thành hình chữ "bát", phân lưu ra hai bên; địa huyệt phía trước rất bằng phẳng, không có long, không có hổ, cũng chẳng có minh đường, thủy lưu chạy về phía trước đến mấy dặm. Huyền vũ tuy đoan chính nhưng tinh khí lại giao thoa, phong thủy sư tầm thường ai dám bình luận lung tung. Tinh khí của chân long thịnh vượng, khó bề ngăn giữ, sau khi kết huyệt khí còn muốn tràn lên phía trước; hộ vệ hai bên thân long, triều sơn, án sơn cũng rất đoan chính trang nghiêm, bốn phương tám hướng đều hội tụ ở đằng trước, thì khỏi cần hỏi có ngoại dương hay không, chỉ cần xem hàng rào vây quanh và giáp hộ là đủ.

Hộ long và hộ thủy ở hai bên tả hữu quay đầu giao kết xung quanh chính long, có khi trông như lưng rùa, có khi như lưng ngựa, hoặc như mình hạc, như phượng hoàng ngự ấn, thanh long nhả châu, thiên mã ngẩng đầu, rắn bò qua đường. Bất kể án sơn nhọn hay tròn, dàn ngang hay thẳng đứng, chỉ cần tìm xem chân long trụ ở chỗ nào, xem nó có hợp thành chữ thập với thiên tâm hay không. Địa huyệt có khi nằm trên bình dương, có khi trên hà lưu, thủy hồ, có khi ở lưng chừng ngọn núi cao lớn, có khi sơn mạch trùng trùng điệp điệp vây quanh, có khi thủy cục dài tới hàng chục vạn trượng. Chỉ có thần tiên mới thấy được quy mô lớn đến thế; dựa vào một thủy hồ mà đoán định hàng trăm thủy hồ, vận dụng trí tuệ và đôi mắt mà xác lập chính huyệt, đâu cần tới địa đồ. Chẳng có địa hình nào là kỳ quái: hai bên tả hữu bảo hộ chặt chẽ, thủy lưu tuy chảy dài về trước ba trăm dặm nhưng hình uốn khúc chữ "chi", chữ "huyền" lại có quan hệ chặt chẽ.

Kỵ long huyệt là một dạng quái huyệt. Chỗ xảo diệu ở phía trước và phía sau đều căn cứ vào cách quan sát hình dáng, diện mạo của hai phía mà thấy. Bất kể sơn mạch là ngàn trùng hay vạn tụ, bậc cao minh đều hiểu ra đạo lý, biết rõ cát hung họa phúc. Nếu biết định kỵ long huyệt thì các đời sau con cháu đầy đàn, ân đức hưởng không nhỏ, đời đời đại phú đại quý, làm đến bậc khanh, tướng, công, hầu.

Nguồn: Lưu Bá Ôn, Địa Lý Toàn Thư, tập 1.

Kiều Oanh Trần

Tác giả

Kiều Oanh Trần

Nghiên cứu Mệnh lý - Tử vi - Tâm lý học

Theo dõi trên Facebook

Chia sẻ bài viết

FacebookXLinkedInZalo
Quay lại Đạo Gia