Bài tổng quan
Long, Hổ hai bên huyệt và dáng núi chầu phía trước
Có thế rồng cúi hổ phục thì con cháu hiếu đễ, có thế hai bên chĩa mũi nhọn vào nhau thì đời đời mắc tội đồ hình. Cách một dải đất phía trước, người xưa còn phân biệt án sơn gần mà thấp với triều sơn xa mà cao. Vì sao họ bảo núi nhỏ ngay trước mắt đôi khi quý hơn núi lớn ở tít xa?
Thanh Long ở bên tả, Bạch Hổ ở bên hữu: hai cánh tay ấy ôm lấy huyệt để hộ vệ cho nó. Người xưa chọn ra mười thế làm ví dụ, từ những thế cát như rồng cúi hổ phục cho đến những thế hung như hai tay giao nhau cắt chéo, rồi liệt thêm hàng chục dạng khác chỉ bằng tên gọi. Cuối cùng họ còn dặn rằng có khi thiếu hẳn một bên mà huyệt vẫn cát lợi.
Mười thế Long Hổ cát và hung
Trước hết, Long Hổ có hai nguồn: hoặc do chính thân núi của huyệt tự dang ra, hoặc là núi ngoài kéo đến, và khi hai bên khớp lại với nhau thì gọi là tấu hợp.
Giáng phục là Long Hổ cúi đầu nghiêng mình, uyển chuyển hữu tình. Ngô công nói rằng long giáng hổ phục thì cửa nhà nghĩa khí hòa thuận, con cháu hiếu đễ, vợ thiếp hiền lương, thân ứng đủ năm điều phúc. Tỉ hòa là Long Hổ hai bên tả hữu cân xứng nhau, không bên nào mạnh, không bên nào yếu. Phạm công nói long và hổ bằng nhau thì chủ sinh con thi đỗ cao.
Tuân nhượng là Long Hổ trước sau không đối nghịch, không tranh giành. Dương công nói Thanh Long nhường nhịn Bạch Hổ thì quần thần chẳng thiếu một ai; hạ huyệt tại nơi ấy thì thêm phúc thêm lộc, tiền của như nước, vàng bạc chất thành gò, nhiều không kể xiết. Lại có thế Long Hổ hai bên cùng tiến ra phía trước như tướng sĩ phục dịch; Phạm công nói long và hổ cùng dương oai tác thế là phú quý song toàn.
Đới ấn là hai bên tả hữu có vài gò nhỏ như mang ấn. Ngô Bài Nha nói nếu cả hai bên cùng đeo ấn rủ xuống thì sinh ra thần đồng bảy tuổi đã thông kinh sử, văn chương nổi tiếng một đời, quyền cao chức trọng, bậc đế vương cũng không dám coi thường. Đới nha đao là hai bên xuất hiện hình hai cây đao vừa nhọn vừa sắc. Phạm công nói bên cạnh long lộ nha đao thì thân mặc áo gấm, tay giữ ấn; bên cạnh hổ có nha đao thì thân làm danh tướng, thống lĩnh mười vạn tinh binh. Hốt ấn là một bên là gò đất hình tròn, một bên là sườn núi dốc đứng. Đổng Thư nói hốt ấn nếu nằm trên mình Long Hổ thì sản sinh tài tử, anh hùng thống lĩnh vạn người.
Cũng hai cánh tay ấy, khi giơ ra ôm huyệt thì thành thế quý, khi giơ ra đấu nhau thì thành thế họa.
Đới kiếm là sơn thể thẳng, nhọn đầu, nhô ra phía trước. Ngô công nói Long Hổ giữ kiếm, đầu kiếm vừa sắc vừa nhọn thì người sẽ được tự do, nắm quyền hành theo đúng ý nguyện. Giao hội là Long Hổ hai bên ôm lấy quả cung; Ngô công nói Thanh Long Bạch Hổ giao nhau, ôm vòng quả cung thì huyệt địa này phát phúc phát tài nhanh chóng, nước cũng dồi dào. Khai tranh là hai bên vươn rộng ra rồi ôm vòng lại; Điển Lễ nói hai bên cùng ngồi mà không giơ tay ngăn chặn thì chỉ e có chuyện gian dâm.
Tương đấu là hai bên tả hữu mang khí thế kháng địch. Sách "Dao Tiên" nói cùng đến lưỡng cung, ai cũng bảo là hay, nhưng chủ về sát thương, gây vô số phiền não. Lưỡng tranh là có gò đất, núi đất, núi đối nhau; ngạn ngữ nói Long Hổ hai bên tả hữu tương tranh thì anh em bất hòa. Tương xạ là Long Hổ hai bên chĩa mũi nhọn vào nhau, đối địch. Họ Tạ nói Long Hổ chĩa mũi nhọn vào nhau thì đời đời kiếp kiếp đều mắc tội đồ hình.
Phi tẩu là Long Hổ hai bên tả hữu không châu đầu vào nhau. Họ Phạm nói Long Hổ bay tản ra hai hướng thì cha con chia lìa, mỗi người một nơi. Thôi xa là hai tay giơ thẳng ra. Hà Dã Vân nói hai tay Long Hổ đẩy xe thì ruộng vườn của gia đình không còn lại một tấc đất. Chiết tỷ là hai bên bị lõm vào gần như đứt lìa. Họ Phạm nói hai bên eo lưng Long Hổ thấp hãm, lại bị gió thổi, thì gia nhân cô đơn thê thảm.
Phản bối là Long Hổ quay lưng vào nhau, vô tình ôm huyệt. Đổng công nói Long Hổ chạy ngược hướng nhau, lưng cong đối lưng, con cháu sinh ra thuộc loại phản nghịch, đánh chửi cả cha mẹ. Đoản thúc là Long Hổ ôm giữ thai, không duỗi ra phía trước. Họ Bốc nói Long Hổ bảo hộ thai mà không duỗi thân tới trước huyệt thì gọi là lậu thai. Thuận thủy là hai ngọn Long Hổ theo hướng nước chảy xuống mà bay đi. Họ Phạm nói Long sơn theo nước đi ra thì bán sạch ruộng vườn, rơi vào cảnh bần hàn; Hổ sơn theo nước đi thì là cách ngọn giáo dài giết người.
Giao lộ là hai cánh tay cắt chéo nhau; chủ gia đình tự sát, bị kiếm kẹp, gặp tai họa. Họ Bốc nói tối kỵ đặt địa huyệt theo cách giao lộ. Mười thế trên chỉ nêu làm ví dụ, cách cát và cách hung của Long Hổ còn nhiều hơn thế.
Những dạng Long Hổ khác chỉ còn lại tên gọi
Ngoài mười thế có lời bình, người xưa còn vẽ một loạt dạng khác kèm tên: Phá Toái, Tiềm Xạ, Tháp Lạc, Phản Tấu, Tà Phi, Giáp Chủng, Ngang Đầu, Bài Diện, Đoạn Yêu, Lộ Cân, Điệp Chỉ, Tật Chủ, Quyến Nã, Chùng Não, Hãm Đê, Hạ Đường, Chiêm Hoài, Tẩu Thoán, Thô Đại, Sấu Nhược, Đoản Thúc, Thông Hiệp, Trực Ngạnh. Hai dạng cuối của loạt này là Thanh Long phân phòng và Bạch Hổ phân phòng, với lời chú rằng minh đường đối án thì quản các vị trí trung phòng, nhất phòng, ngũ phòng, bát phòng.
Có Long Hổ chưa chắc đã cát, thiếu một bên chưa chắc đã hung
Sách "Tạng Thư" nói bên tả là Thanh Long, bên hữu là Bạch Hổ; hai bên hộ vệ địa huyệt, không thể thiếu, nhưng cũng đừng quá câu nệ. Có khi thiếu Thanh Long, Bạch Hổ mà vẫn rất cát lợi, có khi đủ cả Long Hổ lại hóa hung. Điều hệ trọng nhất là long phải thật, huyệt phải tốt. Nếu long huyệt mê hoặc lừa người thì dù Thanh Long Bạch Hổ đẹp đến đâu rốt cuộc cũng chỉ là giả dối.
Sách "Thuyết Mã Hình" nói sơn mạch lộ ra thành long, tán phát sinh khí, tất có Thanh Long Bạch Hổ hộ vệ. Khi ấy huyệt trường vô cùng kín đáo, sinh khí tụ hợp. Sa của nó có khi từ hai bên tả hữu phát ra làm Thanh Long Bạch Hổ, có khi chính thân núi trải ra, phân sơn ra bao lấy mình mà làm Long Hổ. Cũng có khi một bên do thân núi sinh ra, bên kia là núi ngoài chạy tới, hai bên hợp lại thành Long Hổ. Sa do thân núi sinh ra gọi là chủ, sa do núi ngoài đến gọi là thứ. Nhưng dù thế nào cũng phải bao quanh huyệt trường, đừng để địa huyệt cô đơn, lộ ra ngoài, gió thổi tới thì mới là đất đẹp.
Táng Thư viết: Thanh Long phải khúc chiết, Bạch Hổ phải quy phục. Long Hổ bao ôm như chuỗi ngọc. Đó là Phúc Long từ phía trước đến kết huyệt, gia đình sẽ phú quý vững vàng.
Họ Bốc nói Thanh Long Bạch Hổ phải rõ ràng, tử tế; Hổ sơn tối kỵ ngẩng đầu lên, Long sa thì không được phạm vào chủ sơn. Liêu công nói Thanh Long Bạch Hổ từ xưa vẫn gọi là hộ vệ long huyệt, họa phúc gắn liền với nhau. Họ Lưu nói nước chảy qua từ bên tả thì bên tả không có sa cũng được; nước chảy qua từ bên hữu thì bên hữu không có sa cũng được. Sách "Chỉ Nam" nói có Long sa mà không có Hổ sơn thì phần nhiều vẫn cát lợi, có Hổ sơn mà không có Long sa cũng không kể là hung; nếu lại có núi ngoài xa dàn trải tới tiếp ứng thì hiển nhiên đó là huyệt tốt, thường xuyên có phúc khí.
Núi chầu và núi án: một ngọn ở xa, một ngọn ở gần
Triều sơn và án sơn vốn không giống nhau, không thể xếp chung một chỗ. Núi ở gần ngay trước mặt mà thấp thì gọi là án sơn; núi cao lớn ở xa hơn thì gọi là triều sơn. Án giống như quý nhân ngồi sau chiếc bàn công đường; triều giống như chủ và khách ngồi đối diện nhau.
Ngô công nói chủ sơn ở dưới thấp mà không có chân khí, chân mạch thì dù phía trước có cả vạn lớp núi cũng vô dụng. Ông còn nói nếu ở ngoài án sơn mà thấy ngay trời xanh thì con cháu đời sau chẳng được lâu dài.
Triều sơn phải có tình với ta, như tân khách ra mắt chủ nhân, bề tôi yết kiến thiên tử, con cái phụng dưỡng cha, vợ thiếp phục tùng chồng. Đứng trên huyệt nhìn ra phía trước, thấy xa xa có ngọn núi ngay ngắn, khác hẳn các ngọn núi xung quanh, thì đúng là thiên nhiên đang vái chào; đó mới là triều sơn chân chính.
Kinh viết: chỉ có triều sơn mới thấy rõ địa huyệt chân chính. Chân long giấu chân huyệt nên khó tìm; chỉ triều sơn là có tình, dựa vào nó mà đoán ngay được nơi sinh ra bậc công hầu khanh tướng, giống như có quân tử đứng đợi bên trong cổng, bên ngoài cổng có quân tử đến thăm.
Liêu công nói núi từ chính diện hướng tới gọi là triều, không ngại ở xa. Dương công nói triều sơn có thật có giả: thật thì hướng tới triều bái, giả thì không hướng tới, dù hình dáng nhọn hay tròn. Triều sơn chân chính đến sà vào lòng ta, nhọn hay tròn đều được, nhưng nhất định phải có nhấp nhô cao thấp; đừng thích thứ nhọn sắc, nghiêng lệch, chạy đi. Sơn mạch chạy thẳng đi gọi là Trụy Triều sơn, dù nhọn hay tròn cũng vô dụng, giống như quý nhân quay lưng về phía ta, chẳng có tình ý gì.
Án sơn thì giống như đuôi cây bút lông chỉ thẳng lên trời, nhưng phải từ chính diện hướng tới mới là án sơn chân chính. Nếu nó lệch đi, ngọn núi lại hướng về phía trước thì với ta vừa như hữu tình, vừa như vô tình. Thầy phong thủy mà cắm huyệt ở thế đất ấy chẳng phải đã hại cả gia đình người ta sao? Cũng có chân long hoàn toàn không có triều sơn, khi ấy chỉ cần xem dòng nước tụ ở giữa. Người xưa phân triều sơn thành ba mặt: đặc triều, hoành triều và ngụy triều.
Ngô công nói triều sơn vốn thích tự mình đến chầu. Trước hết thân núi tương ứng vái chào trước mặt, đối diện cũng có chân long quay mình lại. Đối diện có núi thì mặt hướng vào núi, không có núi thì mặt hướng vào nước; nước mà có chân tình thì phát phú quý lớn lao.
Họ Phạm nói triều sơn từ xa tới thì không ngại ngọn chọc thẳng lên trời cao, còn triều sơn từ gần tới thì không thể cao quá đầu. Họ Bốc nói triều sơn ở vòng ngoài cao ngất trời cũng không bằng một án sơn ngay trước mắt; người đời phần nhiều chỉ thích núi lớn từ xa chạy tới mà tránh núi nhỏ ngay gần, ai ngờ rằng hiểu rõ núi nhỏ ở gần còn hơn hiểu lầm núi lớn ở xa. Sách "Bát Đoạn Cẩm" nói nếu có án sơn thì khỏi cần triều thủy; nếu có nước triều ứng mà không có án sơn thì phú quý cũng rất nhiều. Chu Tiên Thiêu nói có án sơn thì cần đoan trang vuông vức; không có núi thì cần có nước từ phía trước đến triều ứng.
Triều sơn vuông vức mà tinh tú thì chủ sinh vương hầu khanh tướng. Triều sơn nhọn hoắt, linh tú thì chủ sinh bậc văn hào nổi danh. Triều sơn tròn trặn đầy đặn thì chủ sinh người đại phú và tiểu quý.
Nguồn: Lưu Bá Ôn, Địa Lý Toàn Thư, tập 1.
