Bài tổng quan
Long đồn trú hay lặc trú, huyệt trụy cung hay soạn cung
Có con Long đi một đường dài mệt lả, rồi bỗng dựng đầu lên; có con Long lao đi hung hãn, rồi bỗng quay ngược lại. Cả hai đều dừng, theo hai cách khác nhau. Còn tới huyệt, người xưa phân ra trụy cung, soạn cung, rồi bốn dấu hiệu cho thấy khí đã ngưng kết: trướng, quầng, cổ họng và viên bi…
Mục lục · 5 phần
- 01Sinh tử của Long nằm ở ba âm ba dương, sinh tử của huyệt nằm ở dương nhiều âm ít
- 02Long đồn trú, Long lặc trú: mau trong chậm, chậm trong mau
- 03Kiêm, sấn, thiếp: ba cách một vì sao mượn hành khác; hình, khí, ảnh: ba mức của huyệt
- 04Trướng, luân vựng, yết hầu, viên bi: bốn dấu hiệu khí đã ngưng kết
- 05Tọa đăng, tọa vượng, tọa sát; kim thai, bảo thai, phá thai
Sinh tử của Long nằm ở ba âm ba dương, sinh tử của huyệt nằm ở dương nhiều âm ít
Một con Long thuần âm thì không sinh, thuần dương thì không thành. Chỉ khi hai khí đổi chỗ cho nhau thì Long mới đẻ ra được một huyệt.
Muốn phân biệt sinh tử của Long cần phân rõ tam âm tam dương; muốn nhận biết sinh tử của huyệt cần biết rõ dương nhiều âm ít.
Đoạn này nói về việc nhận khí bằng âm dương của mạch. Theo Ngô công thì lấy Kim, Mộc, Hỏa làm dương, Thủy, Thổ làm âm; thế gọi là tam âm tam dương. Long hành tiến nhất định phải có âm dương, có vậy mới biến hóa được, sinh sôi được. Nếu Long không biến hóa thì không thành Chân Long; cho nên cần có Kim, Mộc, Hỏa gặp Thủy, Thổ, hoặc Thủy, Thổ gặp Kim, Mộc, Hỏa để Long thành thai; có vậy Long mới kết huyệt tốt. Bằng không, Long thuần âm không sinh, thuần dương không thành, chỉ có thể dựng chùa xây miếu mà thôi.
Ngày nay lập huyệt chỉ cần có Kim khai khẩu, Mộc sinh nha, Thổ sinh giáp ở nơi nhập thủ kết huyệt, như vậy gọi là âm đến dương nhận. Hoặc như mạch nhập thủ hiểm trở mà gấp rút, nhưng khi vào huyệt địa thế lại bằng phẳng hoàn toàn, thì cũng là cách âm đến dương nhận. Dương đến âm nhận cũng tương tự. Bộ "Tam Bảo Kinh" viết: "Âm ít dương nhiều thì táng, âm nhiều dương ít thì không nên gượng ép".
Vì sao cần dương nhiều? Vì vạn vật sinh ra từ dương, chết đi trong âm, nên huyệt tình lấy dương làm chủ. Dù dương đến âm nhận, trong âm vẫn có dương tồn tại, như vậy mới mai táng được. Ví dụ cái gò ở đất bằng thuộc cách dương đến âm nhận, thì đỉnh gò cần bằng phẳng mới không bị sát khí xâm phạm; nếu đỉnh gò nhọn hoắt thì đó là thuần âm mang theo sát khí, không hạ táng được. Chỉ cần bên cạnh có chỗ bằng phẳng để âm dương có nơi phối hợp thì mới kết huyệt.
Long đồn trú, Long lặc trú: mau trong chậm, chậm trong mau
Có con Long đi một đường dài mệt lả rồi bỗng dựng đầu lên. Có con Long lao đi hung hãn rồi bỗng quay ngược. Cả hai đều dừng, theo hai cách khác nhau.
Long có biến thể, làm Đồn Trú hoặc Lặc Trú; huyệt có biến cách, làm Trụy Cung hoặc Soạn Cung.
Đoạn này dùng sự nhanh chậm, nổi chìm của Long để bàn về biến luật của khí. Phàm Chân Long hành tiến, nếu đi được vài chục tiết thì gọi là Trường Hành Kim Thủy. Đi một quãng đường dài, phần lớn Long đều mệt mỏi suy nhược, nhưng vẫn tiến tới, tứ chi vây cánh không rút lại, đầu ngực không ưỡn cao, dường như rất mỏi mệt. Đến khi tới nơi lập huyệt, thế núi chợt dựng đứng, vươn cao thành chủ tinh, tứ chi của Long không ngừng lật chuyển, mà chi tiết hai bên lại rất có lực. Núi hai bên tả hữu tiến tới tụ hội, triều, án và cục diện cũng đến hộ vệ; thế Long đang tiến lại chuyển quan có lực, kết thành thủy khẩu. Đó là đại địa, còn gọi là cách nội vượng. Thế núi bỗng nhiên vươn cao như vậy gọi là Đồn Trú. Toàn thân Long phía trước hòa hoãn mà sau lại dựng cao, chân khí tự sẽ kết tụ; điều này tương đồng với cách "lấy mau trong chậm" của huyệt pháp.
Long thể hành tiến, suốt dọc đường khí thế cuồng bạo uy mãnh, thế không thể dừng, lại đột nhiên đứt đoạn; đến khi Long nổi lên lại thì tỏ vẻ muốn dừng bước, đi thêm vài ba tiết nữa thì toàn bộ đều quay ngược lại. Trường hợp này Long là Lặc Trú, và giống với cách "lấy chậm trong mau" của huyệt pháp.
Huyệt trụy cung: mượn sa xa, nước xa
Phàm khi lập huyệt cần lấy âm dương xung hòa, thần khí ngưng tụ làm chủ. Ở nơi lập huyệt, ranh giới rõ ràng mà hà tu nhạt, sơn triều đối ở rất xa, sơn hộ vệ lại thưa thớt, mà nơi chân khí đã kết tụ lại không dịch chuyển được. Lúc này dù huyệt trường cao cũng nên đào sâu thêm từ một trượng đến một trượng rưỡi. Nhưng phải xem triều sơn phía trước, chiếu sơn bên ngoài, và nơi thư hùng phối hợp nông hay sâu; như vậy gọi là "thừa trừ giả tá", hoàn toàn lấy chiếu sơn làm chủ. Vì chiếu sơn hạ xuống mà đặt viễn sa, viễn thủy, nên gọi là Trụy Cung. Kinh viết:
Sơn thế ở dưới thấp ẩn tàng cao điểm, thu nạp triều sơn phía trước, nhờ vào nông sâu, sinh khí sẽ tụ hợp.
Huyệt soạn cung: nơi các núi cùng tụ
Lại như các ngọn sơn phong đều tụ tập trên đất bằng. Trên bình nguyên có hồ lớn ở nơi ẩn chú, nên gọi cách này là "Chư Tiên Tụ Hợp Cách". Các Long đều tụ hợp ở giữa. Nhưng địa thế này rất sâu rộng, khó hạ táng, nên cần nhận định khí thế, tinh thần, xác định rõ nơi nào Long có thể tụ hội, vì thu nạp khí bốn phương, sau cùng mới lập huyệt đắp đất thành mộ. Như thế cần lấy đường cục, lập bạch tòa, lấy sự hộ vệ và chào đón của các núi làm chuẩn. Vì chân huyệt là nơi các núi hội tụ, nên gọi là Soạn Cung. Kinh viết:
Có no trong cơn đói mà âm hồi; có dư trong bệnh mà dương trú.
Nghĩa là trong cái đói có cái no, trong bệnh tật có sự thuyên giảm, nên dương trú ngụ; đó cũng là nói về địa thế. Những địa thế như vậy đều được Liêu công đặc biệt chú ý. Đó cũng là biến thể của huyệt pháp.
Kiêm, sấn, thiếp: ba cách một vì sao mượn hành khác; hình, khí, ảnh: ba mức của huyệt
Ít khi một ngọn núi mang đúng một dáng. Nó nhờ một hành khác ôm lấy, lót dưới hoặc viền quanh, và huyệt tốt khi đọc đúng ba lớp ấy.
Tinh thể có chính có phụ, cần phân biệt kiêm, sấn, thiếp. Huyệt tình có hiển lộ có mơ hồ, cần phân biệt hình, khí, ảnh.
Câu này nói về sự khác nhau về hình thể của tinh tú nhập lộ; chân khí cũng có tụ hợp, có biến hóa, phải phân biệt cho kỹ. Hiện nay về phương diện tinh tú nhập thủ, người ta chỉ biết ngũ tinh, cửu tinh hợp thành thể gì rồi cắm huyệt hạ táng, mà không hiểu rằng tinh tú đa phần không có chính hình; mỗi tinh tú có ba thể thế là kiêm, sấn (lót), thiếp (viền). Ví dụ Kim tinh chuyển Thổ, chuyển Thủy thì gọi là kiêm Thổ, kiêm Thủy. Kim tinh kéo thêm Hỏa, Mộc thì là kiêm Hỏa, kiêm Mộc; nếu hai yếu tố tương sinh thì cát lợi, xung khắc thì hung hiểm. Sấn là thứ làm nền cho cái khác lộ rõ hơn; thiếp (viền) cũng đại loại như vậy. Sấn, thiếp có thể ở eo lưng, ở phía trước, hoặc ở hai bên Long mạch. Xét đến sấn, thiếp cũng phải xem tương sinh tương khắc mà luận cát hung, thì mới có được chân khí của Long.
Lại nói về huyệt trường, có thể thấy hình thể oa, kiềm, nhũ, đột. Cổ nhân dựa vào bốn hình thể ấy mà hạ táng, gọi là "hình táng" (táng theo hình thể). Nhưng khi hình thể oa, kiềm, nhũ, đột không rõ ràng, chỉ hơi nhô lên, hơi lõm xuống, tức là chỉ có chân khí mà không có hình thể, thì cổ nhân dùng phép "khí táng". Bởi lẽ Chân Long đã hành tiến đến một nơi nào, hoặc tới bình địa, hoặc tới đồng ruộng, hoặc tới gò đống, ắt có chân khí. Chân khí này hiển lộ, linh quang của nó sẽ có ảnh, tựa như mặt trời mặt trăng in bóng dưới dòng sông. Loại ảnh huyệt này quá ư ảo diệu, là sự thần tình của tạo hóa, hiếm ai hay biết.
Trướng, luân vựng, yết hầu, viên bi: bốn dấu hiệu khí đã ngưng kết
Một con Long muốn vào ổ phải có màn che; một cái huyệt muốn giữ khí phải có quầng sáng, cổ họng nhỏ và hình tròn như viên bi.
Cái trướng nếu không mở, Long sẽ không nhập sào; luân vựng nếu không che, huyệt sẽ không trụ lại. Yết hầu nếu không nhỏ, khí sẽ chẳng tụ kết; viên bi không tròn, khí sẽ chẳng sung mãn.
Đây là nói những nơi chân khí ngưng kết. Nay người ta chỉ thấy sơn thế đến đã cho đó là Long, không biết rằng nơi Long cuộn mình mới là sào huyệt của Long. Tất phải có trướng, có cái (nắp) mới thành một thế màn trướng để Long dừng lại. Long có cái, có trướng thì sau một hồi lao tới đầy khí thế mới vươn vai, ưỡn bụng, tận hết sát khí, để tạo sinh khí, xúc kết thành huyệt. Nếu không phải Long cái trướng, không phải thuần âm, mà cô đơn trực lộ, thì dù có xúc kết cũng chẳng phải chân huyệt.
Luân vựng là gì? Nơi có huyệt thì giống như cái bánh xe (luân), khí âm không nặng, khí dương tự sẽ thông thương. Xưa nay người ta vẫn bảo huyệt có tam luân là vô cùng tôn quý. Vựng nghĩa là quầng, tán của mặt trời, có ảnh mà vô hình trạng, tròn tròn không khuyết, cũng không nghiêng lệch. Người thời nay bảo đó là đồ hình Thái Cực. Có vựng (quầng, tán) thì mới là huyệt thực thụ. Yết hầu là gì? Là nơi Long nhập thủ co hẹp lại như cái yết hầu của người. Hẹp như thế mới giữ được khí, không để khí tán thoát. Đến lúc khí xúc kết, nơi huyệt lại phải tròn trịa như viên bi thì khí mới sung mãn, hình dạng mới đẹp đẽ. Nếu khuyết hãm thì chẳng thể hạ huyệt.
Ngũ tinh không rời Thủy Thổ, cửu tinh có Phụ Bật kèm bên
Ngũ tinh không rời Thủy Thổ, cửu tinh thường có Phụ, Bật kèm bên. Thổ tinh không dựa vào ngũ tinh, nhưng Thủy Thổ phải dính liền với nhau.
Hai câu này nói về tổng thể và phân thể của tinh tú trong phép dựa vào khí mà hạ táng. Trong vũ trụ không có Thủy thì chẳng có sinh, không có Thổ thì chẳng có thành; Long nếu không có Thủy Thổ cũng chẳng là Long, huyệt không có Thủy Thổ ắt chẳng là huyệt. Cho nên phàm khi Long nhập thủ, ngũ tinh tuy tự có thể, nhưng Thủy và Thổ tất chẳng thể thiếu. Cổ nhân nói: "Tinh tú hoặc kết thành nhũ, hoặc kết thành kiềm, trên đầu nhất định phải tròn trặn". Vì phàm là nơi tròn trịa, tinh thể nhất định sẽ là thể ở trên, cũng gọi là "hóa sinh não".
Phàm ở chỗ nước chảy giới hợp thì là thể Thủy, cũng gọi là "giải nhãn, hà tu" (mắt cua, râu tôm). Hai sao Phụ, Bật cũng ngụ ý Thủy Thổ. Vì Phụ là Kim, Bật là Thủy, trong cửu tinh hai sao này ẩn tàng, thường phò trợ hai bên cho bảy sao khác; nên khi lập huyệt, bất kể là Tham Lang, Cự Môn hay Vũ Khúc, cuối cùng vẫn phải lấy Tả Phụ làm cái, Hữu Bật làm thừa. Câu "thừa Kim, tương Thủy" ngụ ý như thế. Đó là chỗ hóa hợp của tổng thể tinh tú.
Trong táng pháp có nói đến "cái, chiêm, ỷ, chàng" (nắp, dính, dựa, va đập), nhưng người ta chỉ xem khí thế cương nhu, hoãn cấp mà không hiểu cách dùng tinh tú tạo huyệt của cổ nhân là phải từ thể trên (thượng thể) của tinh tú mà phân biệt, để tránh thoát khí. Đây là chỗ phân thể của tinh tú.
Tọa đăng, tọa vượng, tọa sát; kim thai, bảo thai, phá thai
Có ba cách ngồi trước ba loại Long, và có ba cách mở thai tùy theo âm dương nhiều ít. Mỗi cách đều gắn với một hình ảnh: cây ngô đồng, lá sen, hạt hạnh đào.
Tọa đăng, tọa vượng, tọa sát là tọa pháp; kim thai, bảo thai, phá thai là tác pháp.
Tọa đăng là gì? Long hùng hổ, vội vã, khi khí thế của nó giận dữ cuồng nộ thì không thể tiếp cận, cho nên ở chỗ thoáng đãng phải xem bốn phía ứng với nó, thấy có thể hạ huyệt thì hạ huyệt. Điều này hợp với câu nói từ xưa "thoát sát tọa đăng".
Tọa vượng là gì? Long bình thản, chậm chạp, khí thế rất yếu; yếu thì chẳng nên lợi dụng, mà phải nhận khí ở chỗ vượng. Ví như ở một dải đất bằng phẳng, phàm thấy chỗ nổi gồ lên như gò đống thì đó là thôn ấp, nơi có mộ phần. Đây gọi là tọa vượng.
Tọa sát là gì? Kim coi Hỏa là sát; ở chỗ Kim và Hỏa giao nhau, huyệt sẽ phải chịu sự bắn phá của Kim và Hỏa.
Kim thai là gì? Long mạch ở đất bình dương thì toàn bộ sát khí tán thoát. Đến chỗ nhập thủ, huyệt như ấn chướng, kim bàn sẽ là thuần dương, thì dùng đất chỗ khác đắp lên thành mộ. Bảo thai là gì? Long mạch có dư sinh khí, nhưng chỉ lấy bốn phần mười. Phá thai là gì? Âm khí chiếm ưu thế thì không dùng cách mở lớn, cũng không đào sâu.
Kim thai thì như cây ngô đồng, huyệt kết trên lá cây, toàn bộ thai lộ ra ngoài. Bảo thai thì như lá sen, đài sen, huyệt chỉ lộ một chút. Phá thai thì như bị bao kín trong hạt, hạt hạnh đào, phải phá vỡ vỏ mới lộ ra huyệt.
Nguồn: Lưu Bá Ôn, Địa Lý Toàn Thư, tập 2.
