Bài tổng quan
Dòng dõi rồng đất: tổ tông, cha mẹ và chỗ nhập thủ
Một con rồng đất cũng có gia phả: tổ tông là ngọn núi nào, cha mẹ là quả đồi nào, nó được thai nghén ở đâu. Người xem đất đọc gia phả ấy để biết rồng quý hay tiện, già hay non, dài hay ngắn. Nhưng đi ngàn dặm mà bước vào cửa sai chỗ thì gia phả đẹp đến đâu cũng thành vô nghĩa…
Người ta nhìn gương mặt một con người để đoán gốc gác của họ, và các thầy địa lý cũng nhìn một con rồng đất theo cách ấy: trước hết hỏi nó sinh ra từ đâu, tổ tông là ngọn núi nào, cha mẹ là quả đồi nào. Quý hay tiện, già hay non, dài hay ngắn của long đều có thể đọc được từ dòng dõi đó.
Quý long và tiện long
Long có quý long và tiện long. Khi xét quý tiện phải phân rõ tổ tông và phụ mẫu của long, cũng giống như xem tướng một con người phải biết tổ tiên của người ấy. Cổ thư dạy con cháu đời sau sẽ giống tổ tiên vì được tổ tiên truyền lại tinh hoa. "Ngọc Tủy Kinh" nói thai khí của quý long chẳng phải tầm thường, con cháu sinh ra cũng thừa hưởng tinh hoa của tổ tông; trải bao phen biến đổi, cải tạo thì tinh hoa càng được đúc kết, từ đó có thể xét đoán phú quý. Giữa trùng điệp núi đồi, long phải xuyên qua ở vị trí trung ương thì mới sinh quý long; long xuyên giữa núi non, uyển chuyển khúc chiết mới thật là quý long. Nếu quý long không đứng ở chính giữa thì tinh khí ẩn tàng sẽ khuyết thiếu. Họ Bốc nói tổ tông hùng vĩ uy nghi thì con cháu rất tôn quý.
Kinh còn có một dấu hiệu lạ: trên đỉnh núi có hồ nước là chỗ tinh khí của chân long kết tụ. Hồ ấy thường được mây mưa bổ sung nước, gọi là "Thiên Hán Tỉnh"; nếu hồ nằm trên đỉnh quý long ở trung ương thì giá trị vô cùng. Kinh ví loại địa thế ấy như mang trong mình muôn vàn châu báu mà bề ngoài lại rất tầm thường. Dương công dặn nếu long không xuyên qua trùng điệp các sơn mạch mà tiến tới thì cần có hồ nước bình lặng. Ngô công nói long xuyên qua trung tâm các sơn mạch sẽ sinh quý nhân; long đi ra từ dưới thế Hoa Cái cũng rất cao quý.
Nhất Hạnh thiền sư nói sơn mạch nào tiến về phía trước cũng có quý tiện. Phía trên quý long có rất nhiều tinh tú sáng sủa đẹp đẽ. Tiện long tự thân cũng từ trung tâm mà ra, nhưng sơn mạch xung quanh hỗn tạp, nên dù có địa huyệt cũng chẳng có gì cao quý.
Long dài, long ngắn, long già, long non
Dài hay ngắn quyết định huyệt lớn hay nhỏ; già hay non quyết định nơi nào đáng tìm.
Long có trường long và đoản long: trường long kết đại huyệt, đoản long kết tiểu huyệt. "Ngọc Long Kinh" nói tiểu long có khi kéo dài không dưới năm mươi dặm, nhưng hai mươi, ba mươi dặm cũng là đất tốt; long chỉ cần kéo dài vài dặm cũng có địa huyệt, vậy cần gì tìm long dài mấy trăm mấy ngàn dặm. Dương công thì nói khi tìm long, vài ngàn dặm cũng không kể là dài mà vài ba trăm dặm cũng không gọi là ngắn. Liêu công dạy nơi can long cư trú phải phân xa gần: từ ngàn dặm trở lên là đại quận, hai ba trăm dặm là châu; vượt qua số ấy có thể sinh quý nhân, còn long chỉ dài trong vòng một trăm dặm thì chỉ là huyện thành, nhỏ hơn nữa là trấn, là thôn. Tử Vi nói đại long dài từ một ngàn dặm trở lên, muốn tìm huyệt của nó phải mất rất nhiều tâm lực; long dài vài trăm dặm chỉ là quận thành.
Long mạch rộng lớn hùng vĩ là lão long, nhỏ bé thanh tú là nộn long. Kéo dài trải rộng là lão long, thu nhỏ có trật tự là nộn long. Vì thế sơn mạch của lão long trông thô, tinh tú bên trên khi tỏ khi mờ; nộn long thì linh hoạt đa dạng, thường sinh ra chi long và cước long, và có thể tìm địa huyệt ở những chỗ ấy. Liêu công nói lão long là đại sơn mạch với bề ngoài thô kệch, còn nộn long là sơn mạch đã thay da đổi lốt. Trên thân lão long sinh ra chi cước mới thì chính đó là nộn long.
Đế đô và các viên cục trên đất
Dương công kể về hình thức "Tử Vi viên": ngoài có tiền môn, trong có hậu môn; Hoa Cái và Tam Đài có tiền vệ và hậu vệ; ở giữa có dòng nước đi qua gọi là Ngự Câu, chảy quanh thành thị uốn lượn uyển chuyển. Viên cục vuông vức chỉnh tề thì gọi là Thái Vi, sông nước chảy ngang qua thành, vượt qua cục thế Thái Vi. Hai cổng Đông Hoa và Tây Hoa phía trước có sông chảy qua, bên ngoài sông nước bốn bề đều có núi non sắp xếp; đó đều là Chấp Pháp tinh, lại chia ra hai bên làm binh vệ.
Liêu công nói Thái Vi viên cần nhất là vuông vắn, hai bên tả hữu có Chấp Pháp tinh, lại có Đại Phiên ở phương Tây. Thượng tướng và thứ tướng nối liền với Đông Phiên, thượng tướng và thứ tướng cũng liên kết với nhau; Tây Phiên cửu môn chia thành thập tinh, và một con sông chảy vòng qua viên thành. Viên cục bốn tòa môn thì gọi là Thiên Thị, hết thảy sơn mạch sông nước đều tới hội tụ. Thiên Thị viên có tổng cộng hai mươi hai tinh tú giáng xuống Quốc và Địa; giữa Quốc và Địa có bốn tòa môn chia Đông, Tây, Nam, Bắc, tách các dòng chảy, và các con sông đều tới đây tụ hợp. Thái Hà chảy về phương đông, đế tòa ở phương bắc; viên cục như thế được xem là đại cát.
Nói tới đế đô là nói tới kinh thành nơi thiên tử cư trú, nơi vạn sự vạn vật trong thiên hạ hội hợp, nơi ban mệnh lệnh và chính sách ra bốn phương, quản lý văn võ bá quan, thống lĩnh muôn dân, nơi cao quý nhất thiên hạ. Vì vậy trên nó kết hợp với cục thế của thiên tinh, dưới nó có tinh khí thịnh vượng của chính mạch. Tinh khí trên trời cao là tinh cung của đế tòa, dưới đất là đế đô; trên trời có khí tượng thì dưới đất có hình thế. Cho nên phải quan sát kỹ cả thiên văn lẫn địa thế mới thấu hiểu được chỗ tinh diệu của địa lý.
Thái tổ sơn và thiếu tổ sơn
Phép tìm long là phải tìm ra nơi khởi thủy của nó; vì vậy trước tiên quan sát núi tổ tông, phân biệt xa hay gần, dài hay ngắn, nhẹ nhõm hay nặng nề. Bao nhiêu tinh khí ẩn trong long đều phải xét đoán dựa trên mấy điều ấy. Nhưng thái tổ sơn kéo ra quá dài, e khó thấy diện mạo chân thực, nên các phép này thích hợp với thiếu tổ sơn hơn: quan sát mạch của nó khởi từ đâu rồi mới luận tốt xấu.
Tìm long phải tìm tổ tông; không phân biệt được tổ tông thì đừng nói nhiều.
Một bài phú cổ nhắc rằng tìm tổ tông sơn không được bỏ dở giữa chừng; gốc rễ tổ sơn thô kệch mà chi long lại quá nhiều, nguồn nước sâu, sông chảy quá dài thì chưa kể. Tổ tông cao vút sừng sững thì con cháu đời sau ắt tôn quý vô cùng. "Long Tủy Kinh" chỉ dặn xem nơi phát nguồn có tốt hay không, vì núi tổ tông nhất định phải tốt mới làm cơ sở cho đời sau. Liêu công gọi tổ tông cao lớn hùng vĩ là Lâu Điện, thường có mây khói hiển hiện trên đỉnh.
Ông còn nói nếu khí kết tụ ở huyệt của sơn mạch thì nhất định có chủ sơn cao vượt lên. Nếu huyệt kết trong ba, bốn đốt long thì phúc trạch ẩn chứa trong đó rất lớn; nếu số đốt rời xa thì phúc trạch kém đi, cần có chủ sơn vượt lên mới là cát. Chủ sơn lớn nhỏ phải tương hợp với cách của long.
Khi chi long quá nhiều, trải dài khúc chiết, nếu khí độ hành tiến uốn lượn thì cũng không nhất thiết phải có thiếu tổ sơn; có thể gọi chúng là "đại địa". Chỉ cần khi sắp nhập huyệt, trong vài đốt long có chỗ đứt đoạn rời ra, thu nạp tinh khí, hội hợp sơn thế qua mạch, như vậy cũng có thể xem là thiếu tổ sơn. Long bình địa cũng như thế: sau huyệt nhất định phải có đứt đoạn mới là cát, đường phân thủy cũng phải rõ ràng mới thu giữ được tinh khí. Trên bình nguyên đa phần tinh khí tản mát, nên phải có nơi thu hồi giữ lại mới quý. Nơi bình địa không có núi để làm thiếu tổ sơn thì phải dựa vào những chỗ đứt quãng giữ tinh khí làm tiêu chuẩn, hoặc tìm mạch lạc có dạng đỉnh bạc, tơ nhện, vết móng ngựa. Chúng giống con rắn lẩn trong đám cây cối, như sợi tơ vương khi ngó sen đứt lìa, hoặc có hình lưng trâu; có như vậy mới thu hồi tinh khí, tụ tập đến huyệt.
Cha mẹ của núi: nơi thai nghén và nơi nghỉ dưỡng
Sơn mạch dù chỉ dài vài dặm cũng đều bắt nguồn từ tổ tông sơn. Thoạt đầu nó kết thành thai nghén tại phụ mẫu sơn, đến khi sinh trưởng rồi mới biến thành hình long. Muốn nhận rõ long thế, chọn đúng huyệt địa, muốn biết phụ sơn sinh thế nào, mẫu sơn dưỡng ra sao, chỉ cần dựa vào sao Huyền Vũ ở phương bắc, tên gọi là phụ mẫu. Nơi lạc mạch là thai, như thai nhi thừa hưởng huyết mạch của cha mẹ; nơi tinh khí lưu kết tụ hợp gọi là "tức", giống như cha mẹ hoài thai dưỡng dục nó. Nhìn về hướng Huyền Vũ, tựa như thai nhi sắp thành nam hay nữ, đã đủ hình dáng đầu, mặt, tứ chi. Địa huyệt mà tinh khí kết tụ chính là nơi sinh ra, như thai nhi sắp chào đời.
Họ Bốc nói tìm tổ tông long mạch, sao có thể dừng ở nửa chừng? Phụ mẫu hoài thai, mọi thần thông biến hóa trong đó thật ảo diệu vô cùng.
Xuất thân: nhánh nào của tổ sơn là nơi con rồng bắt đầu
Từ một ngọn tổ sơn, hàng trăm mạch cùng đi xuống; chỉ một mạch thành rồng chính.
Muốn xét xuất thân của long phải xem nơi thiếu tổ sơn phát tán mạch lạc. Dưới một tổ sơn nhất định có rất nhiều "kỳ long", tức long nhánh, và xấu đẹp, cát hung của chúng đều lộ ra ở đây. Nếu kỳ long kỳ dị thì gọi là "xuất thân"; long mạch từ đó trải ra ắt là nơi kết huyệt phú quý. "Ngọc Tủy Kinh" nói tổ tông khi sinh long là sinh cùng lúc một trăm long, vừa sinh ra đã có nhẹ có nặng. Đại long nặng hơn nên tọa giữa, số còn lại như cành lá tản ra ngoài.
Ngô Bạch Vân dặn muốn tìm đất lành phải tìm tổ tông, và còn phải ở chỗ rời xa tổ tông mà tra xét hành tung; long mạch ẩn tránh xuống dưới, núi cao tú mỹ vô cùng. Nếu thấy trước được tiền đồ thì có thể thấy khí lạ ấy đẹp tốt hay không. Tử Vi nói long mà không có tinh diệu, trải ra dưới thấp thì đó là long xuất thân bẩn tiện.
Nhập thủ: chặng cuối quyết định tất cả
Đi ngàn dặm mà vào cửa sai chỗ thì cũng như chưa từng đi.
Long mạch từ ngoài ngàn dặm tới đây, điều cần xem chỉ là nơi nó kết tụ. Vì vậy khi xét long đẹp hay xấu, hay các long cách, chỉ cần dựa vào ba bốn đốt long lúc nhập thủ, cho đến tiêu chuẩn thiếu tổ sơn là đủ. Những long cách cao quý thường có dáng như ngựa phi, chuỗi hạt, chữ "ngọc", chữ "ngư", chữ "chi" và nhiều hình khác. Ngược lại có long cách trì hoãn nhu nhược, hoặc bề ngoài thô kệch hung ác, kéo rất dài mà không có cước long chi long; đó là những long hung ác.
Có hai tình huống đáng nhớ. Thứ nhất, long mạch từ xa tới không thật tốt, nhưng khi sắp nhập thủ gần huyệt lại biến thành long tốt thì mới cát; chỉ cần tìm ra nơi long mạch hạ lạc, nơi không tốt sẽ phát sinh tán lạc, lúc ấy mới nên tìm cát địa để tiếp phúc khí. Thứ hai, long mạch đẹp từ xa tới, nhưng khi sắp nhập thủ cận huyệt lại biến không tốt thì chủ hung hiểm, tuyệt đối không thể định huyệt ở đó.
Nguồn: Lưu Bá Ôn, Địa Lý Toàn Thư, tập 1.
