Chuyển đến nội dung chính
Quay lại Nho Gia

Bài tổng quan

Luận Ngữ – Vi Chính: Trị Nước Bằng Đức Và Những Lời Dạy Về Đạo Hiếu

Đạo Học - Nho Gia16/09/202630 phút đọc4 lượt đọc
Luận Ngữ – Vi Chính: Trị Nước Bằng Đức Và Những Lời Dạy Về Đạo Hiếu

Người cầm quyền dùng đức để cai trị thì được lòng dân như sao Bắc Đẩu đứng yên cho các vì sao chầu về. Cai trị bằng pháp lệnh và hình phạt thì dân chỉ tránh tội mà không biết hổ thẹn, còn dẫn dắt bằng đức và lễ thì dân vừa biết hổ thẹn vừa tự sửa mình. Thiên Vi Chính cũng chứa đoạn Khổng Tử tự kể các chặng đời mình, từ mười lăm tuổi dốc chí học đến bảy mươi tuổi theo lòng mà không vượt khuôn phép, cùng bốn câu trả lời khác nhau về đạo hiếu. Từ đó mạch bàn chuyển sang ôn cũ biết mới, học mà không nghĩ, biết thì nói biết, và cách dùng người để dân phục. Riêng câu người quân tử không giống đồ dùng đã chứa cả một quan niệm về tài năng.


Tiết 1–8: Lấy đức trị dân, các chặng đời người và bốn lời hỏi về hiếu

1. Khổng Tử nói: "Cầm quyền lãnh đạo quốc gia cần phải dựa vào đạo đức thì dân chúng đều quy thuận. Tự mình giống như sao Bắc Đẩu vậy, ở cố định một nơi, còn các vì sao khác đều chầu quay quanh nó".

Lời bình

Theo Khổng Tử thì đạo trị nước trước hết là nắm được chính quyền quốc gia. Đối với người lãnh đạo quốc gia mà nói, trị nước phải dựa vào lực lượng chính quyền, nhưng dễ quên mất một điều là trị nước còn phải dựa vào đạo đức, sức mạnh giáo hóa của lễ nghĩa, của văn minh tinh thần. Nếu chú trọng xây dựng mặt đạo đức, chủ trương phát huy tác dụng của quy phạm đạo đức xã hội, người lãnh đạo quốc gia sẽ giống như sao Bắc Đẩu ngự ở một góc trời, còn dân chúng thiên hạ thì giống như các hành tinh khác đoàn kết xung quanh người lãnh đạo. Người lãnh đạo có đức sẽ được nhân dân ủng hộ, thiên hạ thái bình. Người lãnh đạo thất đức sẽ bị nhân dân phản đối. Cho nên trong lịch sử Trung Quốc, gọi tư tưởng chính trị của Khổng Tử là đức chính.

2. Khổng Tử nói: "Kinh Thi có ba trăm bài, có thể dùng một câu để khái quát là: trong đó không có tư tưởng xấu và tư tưởng tà ác".

Lời bình

Kinh Thi có ba trăm bài là chỉ số chẵn, kỳ thực có ba trăm linh năm bài, phân ra ba phần: phong, nhã, tụng. Các bài trong Kinh Thi có nội dung khác nhau, phong cách khác nhau, nhưng đều từ nhiều góc độ phản ánh bộ mặt kinh tế - chính trị của xã hội thời nhà Chu, ca tụng cái hay cái đẹp, cái cao thượng, tao nhã của xã hội đương thời. Khổng Tử bình luận Kinh Thi không dài, chỉ khái quát một câu là trong đó không có tư tưởng tà ác. Không có tư tưởng tà ác mới trở thành kinh điển, trở thành tác phẩm tinh hoa, để tiếng thơm muôn đời.

Cho nên ngày nay chúng ta mới dùng lý luận khoa học để vũ trang cho nhân dân, dùng dư luận chính xác để hướng dẫn nhân dân, dùng tinh thần cao thượng để sáng tạo nhân vật, dùng tác phẩm ưu tú để cổ vũ nhân dân là vậy.

3. Khổng Tử nói: "Dùng mệnh lệnh pháp luật để hướng dẫn chỉ đạo dân, dùng hình phạt để quản lý dân, làm như vậy tuy có thể giảm được phạm pháp, nhưng người phạm pháp không biết xấu hổ sỉ nhục. Dùng đạo đức để hướng dẫn chỉ đạo dân, dùng lễ nghĩa để giáo hóa dân, làm như vậy chẳng những dân hiểu được thế nào là nhục nhã khi phạm tội, mà còn cam tâm tình nguyện sửa chữa sai lầm của mình tận gốc từ mặt tư tưởng".

Lời bình

Đây là quan điểm cực kỳ quan trọng về tư tưởng chính trị của Khổng Tử.

Quản lý lãnh đạo quốc gia có hai tay. Một tay là pháp chế, một tay là giáo dục tư tưởng đạo đức. Nếu chỉ dùng pháp luật, pháp lệnh, pháp quy để quản lý dân chúng, dùng hình phạt để ràng buộc dân chúng, như vậy sẽ giảm được phạm tội, nhưng nhân dân chúng không biết phạm tội là điều đáng sỉ nhục. Người không biết sỉ nhục là người không có nhân cách, là người không được giáo dục, không có văn minh tinh thần, tuy có thể nhất thời không dám làm ác để tạm tránh khỏi hình phạt, nhưng lòng không quên làm ác. Quản lý như vậy không giải quyết được căn bản vấn đề.

Nếu lấy đạo đức ràng buộc dân, quản lý dân, dùng lễ nghĩa cảm hóa dân, giáo dục cổ vũ mọi người, làm cho mọi người hiểu được phạm tội tội nhục nhã như thế nào, từ đó nâng cao sự tự giác tu dưỡng nhân cách để trở thành người có đạo đức, có ý thức tư tưởng trong sạch, văn minh tinh thần được nâng cao, nền tảng đạo đức được củng cố. Như vậy thì thiên hạ thái bình, bốn phương vô sự, con người có thể hoàn toàn tự giác tránh được phạm tội.

Đây chính là tư tưởng chính trị của Khổng Tử. Người nắm quyền cai trị nước mà chỉ dùng pháp luật, hình phạt, ấy là cậy ở nơi ngọn; còn nếu dùng đạo đức và lễ nghĩa giáo hóa dân, ấy là dò đến tận gốc vậy.

4. Khổng Tử nói: "Lúc mười lăm tuổi, ta đã để chí nỗ lực học tập. Ba mươi tuổi đã xác định được chí hướng. Bốn mươi tuổi đã hiểu được sự lý, không còn bị mê hoặc. Năm mươi tuổi đã hiểu được mệnh trời. Sáu mươi tuổi nghe người khác nói đều thuận tai cả. Bảy mươi tuổi đã có thể theo lòng muốn nhưng không hề vượt ra ngoài khuôn phép".

Lời bình

Đây là câu nói nổi tiếng trong Luận Ngữ, là sự trải nghiệm và tổng kết của Khổng Tử, khắc họa chân thực một đời trải qua bao sương gió, vất vả, gian nan của ông và đã trở thành triết học nhân sinh, kinh điển của phái Nho gia.

Khổng Tử khái quát cuộc đời của mình rồi phân ra sáu giai đoạn.

Giai đoạn thứ nhất - Lúc mười lăm tuổi mới bắt đầu có chí nỗ lực học tập: Chí là sự đam mê ham muốn, là mục tiêu phấn đấu. Chỉ có xác định được chí mới có thể lúc nào cũng tâm niệm vào mục tiêu đó, phấn đấu không mệt mỏi. Mười lăm tuổi, Khổng Tử bắt đầu có chí học tập đạo của thánh hiền, đạo của tiên vương. Đó là nền tảng để cho Khổng Tử học tập cả đời không mệt mỏi.

Giai đoạn thứ hai - Ba mươi tuổi xác định được chí hướng: Có lập được hướng mới có thể kiên trì không mệt mỏi. Có người lập được hướng nhưng không bền chí, hôm nay theo đuổi cái này, mai theo đuổi cái khác, kết cục là ngày tháng trôi qua không đạt được gì cả. Chỉ có xác định được chí và hướng, kiên trì lâu dài mới đạt được mục đích cuối cùng.

Giai đoạn thứ ba - Bốn mươi tuổi đã hiểu được sự lý, không còn bị mê hoặc: Càng đến tuổi trung niên, sự đời đã từng trải, đương nhiên đã có cách nhìn đối với sự vật, nên không còn bị mê hoặc bởi bên ngoài, tức là không còn hồ đồ, không còn bàng hoàng do dự nữa. Từ đó đầu óc đã tỉnh táo, ý chí đã kiên định, chỉ có dũng cảm tiến lên chứ không chịu quay đầu.

Giai đoạn thứ tư - Năm mươi tuổi đã hiểu được mệnh trời: Mệnh trời là quy luật vận hành của trời đất, của vạn sự vạn vật, là quy luật khách quan, tính tất nhiên của sự vật. Nắm bắt được mệnh trời tức là hiểu được tính tất nhiên, tức là biết thuận theo trào lưu, thuận theo đại cục.

Giai đoạn thứ năm - Sáu mươi tuổi nghe người khác nói đều thuận tai: Người khi còn trẻ, va chạm ít, từng trải chưa nhiều, thiếu kinh nghiệm sống, nên nhìn hay nghe cái gì khác đi đều không thấy thuận mắt lót tai, không ưng ý, không thoải mái. Tuổi đã qua sáu mươi nhìn cái gì cũng thấy thuận mắt, nghe cái gì cũng thấy thuận tai. Chỉ có những người đã trải qua nhiều biến cố trong đời mới có được kinh nghiệm xử thế phong phú, chủ động tự kiềm chế, để có thể nhìn đời lúc nào cũng thấy thuận mắt, thuận tai.

Giai đoạn thứ sáu - Bảy mươi tuổi theo lòng muốn nhưng không hề vượt ra ngoài khuôn phép: Bảy mươi tuổi là tuổi "cổ lai hy" xưa nay hiếm, nhìn nhận sự đời đã thực sự chín muồi, nên lòng muốn như thế nào là có thể làm được như thế ấy, làm việc gì cũng không vượt quá sự lý của nó, không vượt quá quy tắc, quy phạm của xã hội.

Lịch trình nhận thức, tư tưởng của con người là không ngừng vươn lên. Con người không chỉ dừng lại ở một trình độ, mà không ngừng đột phá, không ngừng tiến bộ nâng cao, không ngừng phấn đấu đạt đến trình độ mới. Vì vậy câu nói trên của Khổng Tử đã trở thành triết lý nhân sinh.

5. Mạnh Ý Tử hỏi về đạo hiếu. Khổng Tử nói: "Không được vi phạm lễ". Có một lần Phàn Trì đánh xe cho Khổng Tử, Khổng Tử kể lại với Phàn Trì rằng: "Mạnh Ý Tử có hỏi ta về đạo hiếu, ta trả lời là không được vi phạm lễ". Phàn Trì hỏi lại: "Đây là có ý như thế nào?". Khổng Tử nói: "Cha mẹ lúc còn sống, phải theo lễ mà đối xử phụng sự. Cha mẹ chết, phải theo lễ mà an táng, theo lễ mà cúng tế".

6. Mạnh Vũ Bá hỏi về đạo hiếu. Khổng Tử nói: "Làm cha mẹ chỉ lo sợ con mang bệnh tật mà thôi".

7. Tử Du hỏi về đạo hiếu. Khổng Tử nói: "Ngày nay, thấy ai có thể nuôi dưỡng được cha mẹ, thì người ta gọi là có hiếu. Nhưng đến như giống chó ngựa thì người ta cũng nuôi được vậy. Cho nên nếu không có lòng hiếu kính cha mẹ trong khi nuôi dưỡng, thì nuôi cha mẹ và nuôi chó ngựa có gì khác nhau?".

8. Tử Hạ hỏi về đạo hiếu. Khổng Tử nói: "Điều khó nhất là con cái đối với cha mẹ có giữ được vẻ hòa vui mãi mãi hay không. Chứ còn như có việc gì cần làm, con cái làm thay cho cha mẹ, có gì ngon thì mời cha mẹ ăn, đây chắc gì đã là có hiếu?".

Lời bình

Đây là bốn mẩu chuyện của thầy trò Khổng Tử bàn về các khía cạnh khác nhau của đạo hiếu. Hiếu là quan niệm trọng tâm của tư tưởng Khổng Tử, là một trong những chủ đề chính của phái Nho gia.

Làm con không được vi phạm lễ nghĩa mới là có hiếu: Khổng Tử cho rằng đối xử với cha mẹ không được vi phạm lễ, khi cha mẹ còn sống phải theo lễ mà đối xử, khi cha mẹ mất phải theo lễ mà an táng, rồi những khi cúng tế cũng phải giữ đủ lễ phép nghiêm trang, thành kính như khi cha mẹ còn sống vậy. Thế gọi là có hiếu, là điều cơ bản của đạo hiếu.

Làm con phải biết giữ gìn thân thể của mình cũng là có hiếu: Cha mẹ vô cùng yêu quý con, rất lo sợ, đau buồn nếu con mình mắc phải bệnh tật. Vì vậy, phận làm con phải biết giữ gìn thân thể của mình cho khỏe mạnh để tránh nỗi lo lắng, đau khổ cho cha mẹ. Như vậy mới giữ trọn được đạo hiếu.

Làm con nuôi dưỡng được cha mẹ mà không kính trọng thì chưa phải là có hiếu: Theo Khổng Tử, cha mẹ có công sinh thành và nuôi con khôn lớn. Khi cha mẹ già yếu mất sức lao động, người con đương nhiên phải nuôi dưỡng cha mẹ, làm việc thay cho cha mẹ... Đó là nói có thể nuôi dưỡng được cha mẹ, nhưng đây mới chỉ là yêu cầu tối thiểu. Khổng Tử cho rằng điều quan trọng hơn phải có lòng hiếu kính, bởi vì nuôi chó ngựa cũng phải cho chúng ăn, thế thì nuôi cha mẹ mà không kính trọng với nuôi chó ngựa có gì khác nhau?

Làm con đối với cha mẹ phải luôn giữ được vẻ hòa vui là đã thực hiện được đạo hiếu: Đối xử với cha mẹ, việc cho ăn cho uống là dễ làm, làm việc thay cho cha mẹ cũng dễ dàng. Riêng đối với cha mẹ, bất cứ hoàn cảnh nào cũng đều giữ được nét mặt vui vẻ là điều hết sức khó khăn. Đối xử với cha mẹ, không có sự quan tâm tự đáy lòng được xem là hiếu ư? Cho ăn cho mặc mà đối xử vô lễ, được gọi là hiếu ư? Làm thay công việc cho cha mẹ, nhưng không nhẫn nại, không tử tế, được xem là hiếu ư? Cho nên Khổng Tử cho rằng hiếu chân chính là đối với cha mẹ luôn luôn giữ được vẻ vui tươi, chân thành, từ nội tâm đến biểu hiện ra ngoài hoàn toàn thống nhất, không để cho cha mẹ ưu tư, phiền muộn bực mình, không đưa lại phiền phức cho cha mẹ.

Tiết 9–16: Ôn cũ biết mới, người quân tử không như đồ dùng

9. Khổng Tử nói: "Ta cả ngày dạy Nhan Hồi học. Nhưng từ trước tới nay, Nhan Hồi chưa hề thắc mắc một ý nào trái với ý ta, nó giống như một kẻ ngu đần vậy. Nhưng ta đã quan sát điều ăn nết ở riêng của trò Hồi, phát hiện thấy trò Hồi phát huy hết mức những điều ta đã giảng. Nhan Hồi đâu phải là kẻ ngu đần!".

Lời bình

Khổng Tử là nhà giáo dục. Trong học trò của mình, Khổng Tử quý nhất là Nhan Hồi. Nghe Khổng Tử dạy, Nhan Hồi im lặng nghe, im lặng suy nghĩ, chưa bao giờ nêu ra ý kiến bất đồng. Khổng Tử lúc đầu tưởng rằng Nhan Hồi là kẻ ngu đần. Kỳ thực Nhan Hồi đã hiểu rõ, đã thông suốt, tỏ rõ ra được bằng hành động của mình. Khổng Tử sau khi quan sát hành vi của Nhan Hồi thấy chẳng những Nhan Hồi làm theo đúng lời giảng, mà việc nào cũng có phát huy hay riêng của mình. Có ngu chẳng qua đó là lối ngu của kẻ "đại trí giả ngu".

10. Khổng Tử nói: "Nhìn kỹ cách người ta làm, xét người ta làm vì cái gì, rồi xét kỹ người ta có vui lòng mà làm hay không. Như vậy, người ta không có cái gì có thể giấu được, làm sao mà giấu được?".

Lời bình

Đây là phương pháp xét người, được chia làm ba bước.

Bước thứ nhất là quan sát cách làm việc của người đó xem việc làm giỏi hay kém, thiện hay ác. Đây là điều biểu hiện ra ngoài, ai cũng thấy.

Bước thứ hai là xem động cơ thúc đẩy thông qua mục đích của công việc mà người đó làm (cho ai, vì cái gì...). Dù người đó làm việc thiện nhưng ý nghĩ chưa được thiện thì cũng là chưa được.

Bước thứ ba là xét kỹ thái độ làm việc. Nếu người đó làm việc thiện mà chẳng vui lòng thì còn bụng dối trá. Nếu người đó làm việc ác mà có ý miễn cưỡng thì cũng không có bụng làm điều ác. Biết hai loại người như vậy để sau có cách cải hóa họ.

Một khi đã xét đầy đủ như vậy, sẽ nắm được phương thức, động cơ và nguyện vọng của người đó, như vậy thì người đó không thể giấu ta điều gì được nữa.

11. Khổng Tử nói: "Ôn tập những tri thức đã học mà có thêm hiểu biết mới, như vậy là có thể làm thầy được rồi".

Lời bình

Tri thức là tổng kết khái quát kết quả của khoa học tự nhiên và xã hội. Tri thức mà Khổng Tử nói đến là tri thức thuộc về đạo, tri thức về lễ. Đây là thành quả văn minh tinh thần của loài người. Trong lịch sử văn minh nhân loại, mỗi khái niệm hay quan niệm được hình thành, mỗi loại tư tưởng được đúc kết nêu ra, mỗi nền văn hóa được xây dựng thành, đều trải qua một quá trình tích lũy lịch sử lâu dài. Từ đời này qua đời khác, con người không ngừng học tập, không ngừng kế thừa, từ nông cạn đến sâu dần, tuần tự tiệm tiến. Cho nên học không chỉ một lần là đủ, mà phải không ngừng ôn tập tri thức đã học để có thêm lý giải mới, hiểu biết mới, lĩnh hội mới. Đây gọi là ôn cũ biết mới. Ôn cũ là tiền đề của biết mới, biết mới là kết quả của ôn cũ. Điều này đã trở thành phương châm bất biến của Nho gia. Ngày nào cũng ôn cũ thì sẽ ngày càng biết thêm nhiều cái mới, con người như vậy làm sao không trở thành thầy được?

12. Khổng Tử nói: "Người quân tử không thể giống như khí cụ là chỉ có một tác dụng".

Lời bình

Một khí cụ chỉ có một tác dụng. Nếu một người chỉ có một tài, một nghề, một kỹ thuật của một bộ môn cụ thể thì chỉ có thể trở thành nhân tài của một chuyên môn, một phương diện. Khổng Tử cho rằng người quân tử là người học rộng đức dày nên không chỉ có một tài cụ thể, mà là toàn tài; đạo đức phải sáng tỏ thông suốt mọi điều; không có việc gì không hiểu và không làm được.

13. Tử Cống hỏi: "Thế nào là người quân tử?". Khổng Tử nói: "Trước hết thực hành lời mình nói đã, sau mới nói ra", và nói thêm: "Người quân tử đoàn kết rộng rãi với mọi người, chứ không phải chỉ câu kết phe cánh. Kẻ tiểu nhân chỉ biết câu kết phe cánh, chứ không biết đoàn kết rộng rãi với mọi người".

Lời bình

Theo Khổng Tử người quân tử là người làm trước nói sau, thực hành có kết quả rồi mới nói, nên phát huy được điều tín, thiên hạ sẽ tin phục, ủng hộ, noi theo. Ngược lại, nói lắm, huênh hoang nhiều mà làm ít, thì mất tín, lòng dân sẽ hoang mang, thiên hạ sẽ biến loạn.

Người quân tử là người luôn tìm cách đoàn kết rộng rãi với mọi người, tạo nên môi trường văn hóa lành mạnh, trong sạch, cuộc sống thân thiện chan hòa, gia đình êm ấm, đất nước ổn định, thiên hạ thái bình. Ngược lại, kẻ tiểu nhân câu kết bè phái gây mất đoàn kết, tạo cơ hội "đục nước béo cò", mưu kiếm lợi riêng. Trong lịch sử, phàm những kẻ theo bè phái đều là kẻ tiểu nhân gian ác, lắm âm mưu quỷ kế. Cho nên, khi lo việc đời, người quân tử thì thành công, kẻ tiểu nhân thì thất bại.

14. Khổng Tử nói: "Học mà không suy nghĩ sẽ chẳng có thu hoạch gì, chỉ suy nghĩ mà không học thì rất nguy hiểm".

Lời bình

Khổng Tử chủ trương cần phải gắng sức học tập, đồng thời chịu khó suy nghĩ. Có suy nghĩ mới biến được cái đã học thành kiến thức của mình. Có kiến thức rồi mới biết vận dụng vào thực tế để phụng sự đất nước. Nếu chỉ học mà không suy nghĩ thì đạo lý không thông đạt, đạo lý đã không thông đạt thì hành đạo không thấu đáo, nên chẳng giúp ích gì cho đời. Còn nếu không học thì không hiểu biết, không hiểu biết mà suy nghĩ vẩn vơ thì hành động sẽ sai lầm, không những gây hậu quả hại cho sự nghiệp chung, mà còn làm nguy hại đến bản thân.

Vì vậy, học đạo trước hết phải thành tâm, thật ý theo đuổi không mệt mỏi, học phải chuyên tâm suy nghĩ kỹ để hiểu đạo lý thánh hiền, như vậy mới có kết quả. Đấy chẳng phải là đạo học của người quân tử hay sao?

15. Khổng Tử nói: "Dám mạnh dạn đấu tranh phê bình chỉ trích tệ hại thói hư tật xấu thì tự nhiên họa hại sẽ tiêu tan".

Lời bình

Trong mặt trận tư tưởng văn hóa, việc đấu tranh phê bình và chỉ trích những tư tưởng sai trái đã có từ xa xưa. Không phê phán tư tưởng sai trái thì tư tưởng đúng đắn không thể đứng vững được. Đây chính là điều ngày nay chúng ta thường nói: "đấu tranh tư tưởng, chỉnh đốn tác phong".

Trong quá khứ, việc đấu tranh tư tưởng có khi làm quá tả, có lúc đấu sai, phê phán quá mức, khuếch đại quá lớn; có lúc đem vấn đề tư tưởng thành vấn đề chính trị một mất một còn, đem phong trào phê phán tư tưởng sai trái thành phong trào chỉnh người. Làm thế là không đúng, nhưng không vì vậy mà bác bỏ đấu tranh phê phán.

Cần phê phán tư tưởng sai trái ở từng cá nhân cũng như những tư tưởng, hành động đã thâm nhập lan tràn trong xã hội. Không phê phán tư tưởng sai trái thì tư tưởng đúng đắn không thể xây dựng được quyền uy, lý luận đúng đắn không thể biến thành hành động tự giác của quần chúng, truyền thống văn hóa đạo đức tốt đẹp của xã hội sẽ không được hình thành. Nếu thường xuyên cảnh giác, kịp thời phê phán những tư tưởng sai trái, kịp thời bài trừ khuynh hướng bất lương, thì nhất định mọi họa hại sẽ tự nhiên bị tiêu diệt.

16. Khổng Tử nói: "Trò Do! Ta dạy ngươi đạo lý như thế nào được gọi là biết, ngươi đã hiểu chưa? Biết thì nói biết, không biết thì nói không biết, như thế cũng là người thông minh có hiểu biết rồi vậy".

Lời bình

Học tập tri thức, đạo lý thánh hiền là vấn đề rất cẩn trọng, không hề có tính giả dối. Biết là biết, không biết là không biết. Không biết mà giả bộ biết, biết ít mà cho là biết nhiều, như vậy là thiếu thật thà và tự dối mình. Đã theo học mà giấu dốt thì lại càng dốt hơn. Trong việc học tập nâng cao tri thức mà cứ giữ thái độ này thì đối với bất cứ ai, trong bất cứ điều kiện nào, chỉ có hại chứ không có lợi.

Tiết 17–23: Chữ tín, cách dùng người và lễ chế qua các đời

17. Tử Trương hỏi Khổng Tử cách học để cầu có chức tước bổng lộc. Khổng Tử nói: "Phải nghe nhiều, có điều gì nghi ngờ thì phải giữ lại, những điểm nào thấy minh bạch chắc chắn thì nói một cách thận trọng, như vậy sẽ giảm được oán trách. Phải quan sát nhiều, nếu có điều gì nguy hại thì dẹp lại một bên, đừng làm; còn những điều gì xét thấy chắc chắn, đảm bảo thì làm một cách thận trọng, như vậy nhất định giảm được nhiều điều hối hận. Nói ít phạm sai lầm, không có ai oán trách; làm không để xảy ra điều gì phải hối hận thì quan tước, bổng lộc đã tự có ở trong đó rồi".

Lời bình

Khổng Tử giảng phương pháp học tập để làm quan hưởng bổng lộc có bốn điều:

Nghe nhiều: Một người ở quan trường phải giải quyết rất nhiều công việc, điều quan trọng là phải nghe nhiều. Nghe nhiều tiếng nói khác nhau, nghe đủ các loại ý kiến từ mọi phía, cần đặc biệt nghe những ý kiến mà bình thường mình không thể nghe được. Lời nói hay cũng nghe, dở cũng nghe. Lời nói ủng hộ cũng nghe, phản đối cũng nghe. Như vậy mới có điều kiện đem so sánh đối chiếu, đề xuất được ý kiến, quyết sách đúng đắn để có thể giải quyết tốt việc công, việc nước. Tai chỉ nghe một phía, trong lòng chỉ có một loại ý kiến thì không tránh khỏi thiên lệch.

Điều gì hoài nghi thì phải giữ lại: Khi thi hành phận sự, thường phải giải quyết sự tranh chấp nhân sự, công việc chính trị nhiều, tình hình các ngành nghề phức tạp. Nhưng con người ta không thể cái gì cũng biết, cái gì cũng hay. Khổng Tử đề xướng làm việc gì cũng đều phải luôn tự hỏi: "Vì sao? Như thế nào?"; đối với những vấn đề đã hiểu rõ, có thể đưa ra ý kiến của mình, nhưng khi nói phải hết sức thận trọng; đối với những vấn đề chưa rõ, chưa hiểu thì phải giữ lại để tìm hiểu ngọn ngành đầu đuôi, tránh phát ngôn tùy tiện, bừa bãi. Đây là thái độ nghiêm túc, thái độ cẩn trọng đối với công việc.

Làm không để xảy ra điều gì phải hối hận: Giải quyết công việc phải có trách nhiệm, đừng để khi làm phạm sai lầm, dẫn đến nhiều người oán trách. Khổng Tử chủ trương giải quyết chính sự phải chắc chắn. Mỗi khi định làm một việc gì, phải có chủ trương đúng đắn, chuẩn bị cẩn thận, có tinh thần trách nhiệm với kết quả công việc, thì sẽ không xảy ra điều gì phải hối hận. Nếu trước khi làm mà thiếu thận trọng, thiếu chuẩn bị chu đáo, giữ thái độ tắc trách đại khái, vội vàng ra mệnh lệnh chỉ thị thì sẽ hối hận không kịp. Hối hận nhiều, oán trách nhiều, khuyết điểm sai lầm lắm thì nhất định sẽ làm hỏng chính sự.

Phải quan sát để tận mắt học hỏi nhiều điều trong thực tế: Có như vậy khi giải quyết vấn đề mới thấu tình đạt lý. Trên thuận đạo trời, dưới hợp đạo người, thì nắm chắc sự thành công, lập nên thành tích. Quan tước bổng lộc đều ở trong đó cả.

18. Vua Lỗ Ai Công hỏi: "Làm thế nào để dân phục?". Khổng Tử thưa: "Cất nhắc người ngay thẳng đặt lên trên kẻ tà ác, dân chúng sẽ tôn phục. Nếu cất nhắc kẻ tà ác đặt lên trên người ngay thẳng thì dân không phục".

Lời bình

Trong công tác tổ chức xây dựng chính quyền vững mạnh, điều quan trọng là việc dùng người. Dùng người thỏa đáng hay không, có quan hệ đến việc nhân dân có phục hay không, công việc quốc gia thành hay bại. Đề bạt người ngay thẳng thì nhân dân nhất định tôn phục mà thuận theo. Đề bạt người không ngay thẳng thì nhiều người sợ vạ lây, người tốt sẽ xa mình, nhân dân nhất định không phục. Cho nên vấn đề dùng người là vấn đề lớn. Dùng người thỏa đáng mới được lòng dân, chính quyền được củng cố, thiên hạ thái bình.

19. Quý Khang Tử hỏi: "Làm thế nào để khiến dân kính trọng ta, trung thành với ta, và tự động viên, cổ vũ lẫn nhau làm điều tốt?". Khổng Tử đáp: "Có thái độ nghiêm túc, đoan chính đối với mọi việc của dân chúng thì dân chúng kính trọng. Hiếu thuận với cha mẹ, hiền từ với già trẻ, gái trai thì dân chúng sẽ trung thành. Sử dụng cất nhắc người tốt, giáo dục người không có năng lực thì dân chúng sẽ tự động viên, cổ vũ lẫn nhau làm điều tốt".

Lời bình

Quý Khang Tử là trọng thần của nước Lỗ, người tin cậy của vua Lỗ Ai Công. Ông muốn được nghe Khổng Tử bàn về làm thế nào để được nhân dân kính trọng và trung thành với ông; dân chúng có thể tự cổ vũ lẫn nhau, khuyến khích khuyên bảo lẫn nhau làm điều tốt.

Khổng Tử trả lời ba điều:

Giữ được thái độ nghiêm túc, trang trọng với tất cả mọi vấn đề dân nêu ra thì dân nhất định kính trọng: Người nắm quyền có phận sự giải quyết công việc, khi người khác có việc đến tìm mình hoặc nhân dân đề xuất vấn đề, thì cần phải có thái độ nghiêm túc, trang trọng; việc có thể giải quyết được ngay thì tận tâm, tận lực giải quyết; việc tạm thời chưa giải quyết được thì đợi điều kiện chín muồi sẽ giải quyết; đã nỗ lực mà chưa làm thì khi trả lời phải có thái độ quan tâm, có trách nhiệm, không thể qua quýt cho xong việc. Nếu làm được như vậy, nhân dân sẽ kính trọng.

Hiếu thuận với cha mẹ, hiền từ với nhân dân, biết lấy mình làm gương, thì nhân dân nhất định trung thành: Không hiếu thuận với cha mẹ thì chẳng còn biết thương yêu ai được cả. Vì vậy, bản thân người nắm quyền hiếu thuận với cha mẹ, mở rộng ra thì yêu mến dân, tự nhiên nhân dân sẽ trung thành với ta mà thôi.

Sử dụng cất nhắc người tốt, dạy bảo người yếu kém: Muốn nắm quyền cho tốt, cần phải chọn người tài đức giúp việc. Dưới sự lãnh đạo của mình, người có phẩm chất năng lực được đề bạt sử dụng, người năng lực kém được giáo hóa, giáo dục nâng cao. Như vậy sẽ hình thành nên một môi trường xã hội lành mạnh, trong đó quần chúng nhân dân sẽ cùng nhau cổ vũ, khuyến khích lẫn nhau, giúp đỡ nhau cùng tiến bộ.

20. Có người hỏi Khổng Tử: "Tại sao Khổng Phu Tử không ra làm quan, tham dự hoạt động chính trị?". Khổng Tử nói: "Sách Kinh Thi có nói: 'Chỉ có hiếu thuận với cha mẹ, thân ái với anh em, đem tinh thần này phổ biến ra nơi chính trường'. Như vậy cũng là đã tham dự chính trị rồi, vì sao cứ phải ra làm quan mới là tham dự chính trị?".

Lời bình

Khổng Tử cho rằng: trong xã hội tông pháp, một người ở nhà hiếu thuận với cha mẹ, thân ái với anh em, như vậy đã đạt được điều cơ bản của đạo làm người. Đem tinh thần hiếu thuận phổ biến cho mọi người, đó chính là trung với vua. Đem tinh thần yêu quý anh em phổ biến cho mọi người, đó chính là yêu dân. Làm cho mọi người trung với vua, yêu thương lo lắng cho dân là làm việc chính trị, là đã tham dự chính trị vậy. Như thế, tề gia tức là cư xử trong gia đình cho phải đạo, rồi lại biết mở rộng đạo ấy ra ngoài xã hội tức là trị quốc, đó là làm việc chính trị từ nhà mình.

21. Khổng Tử nói: "Một người không có chữ tín, không biết có thể làm gì được. Cũng giống như xe lớn không có chốt, xe nhỏ cũng không có chốt, thì làm sao có thể đi được?".

Lời bình

Con người trong cuộc sống phải cố kết với nhau trong một quan hệ xã hội nhất định để tồn tại và phát triển. Muốn duy trì được mối quan hệ bền vững, quy tắc tối thiểu là phải giữ được chữ tín. Tín là lời nói phải thành thực, không có sự lừa dối, nói phải có đảm bảo chắc chắn; không thể nói xong nuốt lời, làm cho người khác mất lòng tin. Tín là tuân thủ lời hứa, tuân thủ điều đã cam kết, tuân thủ hợp đồng, tuân thủ hiệp ước. Đây là điều tối thiểu để con người giữ vững được danh phận của mình trong quan hệ hợp tác với nhau.

22. Tử Trương hỏi: "Có thể biết được chế độ lễ nghĩa mười đời về sau không?". Khổng Tử nói: "Nhà Ân dựa theo chế độ nhà Hạ mà bỏ bớt hoặc thêm vào, điều đó cũng có thể hiểu được. Nhà Chu dựa vào chế độ nhà Ân mà bỏ bớt hoặc thêm vào, điều này cũng có thể hiểu được. Vì vậy tương lai người kế nghiệp nhà Chu, cầm quyền thay nhà Chu, hoặc dù cho đến một trăm đời sau cứ theo đó mà suy ra vẫn có thể biết trước".

Lời bình

Trong lịch sử, có người nói Khổng Tử có thể biết trước một nghìn năm và sau một vạn năm. Đâu phải vì Khổng Tử có trí tuệ và năng lực siêu nhân, mà là vì Khổng Tử có phương pháp xem xét đúng đắn.

Nên khi nghe Tử Trương hỏi, Khổng Tử nói hoàn toàn có thể biết được, không chỉ mười đời mà cả trăm đời về sau cũng có thể suy đoán ra. Bởi vì lịch sử là quá trình kế thừa và phát triển liên tục, kế tiếp nhau. Mỗi thời đại mới, đều kế thừa thời đại trước đó, đều có đổi mới phát triển, nhưng kế thừa là phần lớn. Đổi mới, thay đổi, phế bỏ và bổ sung đều chỉ giới hạn ở một số mặt và ở mức độ nhất định.

Nhà Ân kế thừa nhà Hạ, tuy có phế bỏ và có bổ sung, có điều có ích và có điều có hại, nhưng đại thể kế thừa là chủ yếu. Nhà Chu đối với nhà Ân cũng như vậy. Đời sau đối với đời trước chủ yếu là kế thừa. Điều này quyết định tính ổn định tương đối của cải cách trong lịch sử. Theo đạo lý, nếu biết đời trước thì có thể biết đời sau, thậm chí có thể biết mười hoặc một trăm đời sau. Đây là phương pháp xem xét khoa học của Khổng Tử để dự đoán tương lai.

23. Khổng Tử nói: "Không phải tổ tiên mình mà mình lại cúng tế, như vậy là siểm nịnh. Nhìn thấy việc chính nghĩa không dám làm, là không có dũng khí".

Lời bình

Trong quan niệm tư tưởng, Khổng Tử phản đối mạnh nhất là siểm nịnh và rất coi thường kẻ nịnh bợ, tâng bốc. Khổng Tử không những phản đối kẻ nịnh hót người sống mà còn phản đối kẻ nịnh hót người đã chết. Khổng Tử thấy rất rõ siểm nịnh người đã chết là để cho người sống xem nên vẫn là siểm nịnh người sống. Bình sinh Khổng Tử không hề nịnh bợ ai.

Nhìn thấy hành vi chính nghĩa mà không dám làm, không dám ủng hộ, Khổng Tử cho đó là người không có dũng khí. Mạnh Tử từng nói: "Sự sống là điều ta muốn, việc nghĩa cũng là điều ta muốn, nếu hai điều ấy không thể chung được trong ta, thì ta sẵn sàng bỏ sự sống mà làm việc nghĩa".

Thấy chính nghĩa dám làm, dám ủng hộ thì đó là con người sẵn sàng vì lợi ích quốc gia, lợi ích tập thể, lợi ích dân tộc, lợi ích cộng đồng, mà dám hy sinh lợi ích cá nhân. Trong lịch sử có biết bao nhân vật thấy chính nghĩa đã dũng cảm ra tay hành động, để lại bao sự tích anh hùng đáng ca tụng. Nhưng trong cuộc sống xã hội hiện nay, người thấy chính nghĩa mà vẫn im lặng, không dám đứng về phía chính nghĩa, không dám bảo vệ chính nghĩa vẫn còn tồn tại không ít. Cho nên câu nói này của Khổng Tử không phải là không có ý nghĩa hiện thực.

— Tứ Thư.

Kiều Oanh Trần

Tác giả

Kiều Oanh Trần

Nghiên cứu Mệnh lý - Tử vi - Tâm lý học

Theo dõi trên Facebook

Chia sẻ bài viết

FacebookXLinkedInZalo
Quay lại Nho Gia