Bài tổng quan
Ngũ Hoàng đại sát, Ám Kiến theo tháng và nước vượng tài
Ở vận nào cũng có một chỗ trong nhà mà Ngũ Hoàng bay đến thì người lẫn của cùng tổn, và một chỗ khác mà nước chảy đúng vị thì tiền bạc đầy kho. Cả hai đều do một vòng sao quyết định, chỉ khác ở chỗ cửa, bếp và dòng nước được đặt vào đâu…
Mục lục · 8 phần
- 01Ngũ Hoàng: sát khí nặng nhất trong các thế bàn
- 02Ngũ Hoàng đến sơn, đến hướng và những thế đặc biệt
- 03Ám Kiến: khí Thái Tuế tỏa theo từng tháng
- 04Những cặp sao hợp thành bàn sát
- 05Vì sao thủy mới là chủ của tài
- 06Tài vị theo du tinh Bát Trạch
- 07Tài vị theo phi tinh Huyền Không
- 08Nguyên tắc dựng thủy cuộc vượng tài
Giữa trung cung mỗi vận có một vì sao ngồi yên, và chẳng ai coi nó là hung. Nhưng đến lúc một sao khác bước vào ngôi giữa, đẩy nó ra ngoài tám cung, thì chỗ nó rơi xuống lại thành nơi mang sát khí nặng nhất cả cuộc nhà. Đó là Ngũ Hoàng, và cách nó đến mỗi nơi đều có quy luật riêng…
Ngũ Hoàng: sát khí nặng nhất trong các thế bàn
Ngũ Hoàng đại sát là loại sát dữ nhất trong những thế sao xấu của một cuộc nhà. Người xưa còn gọi nó là Chính Quan sát, hoặc Mậu Kỷ sát, vì sao Ngũ thuộc thổ Mậu Kỷ và ở ngôi cao nhất của Cửu tinh. Khi còn nằm ở trung cung của nguyên đán bàn, tức địa bàn, Ngũ Hoàng chưa đủ sát khí để gây họa. Chỉ khi một sao khác bay vào trung cung, đẩy Ngũ ra ngoài và để nó đi vào từng cung, thì sát khí mới hiện hình.
Bay thuận: hai khí đất đứng chung một cung
Khi sao nhập trung cung bay thuận, Ngũ Hoàng thay chỗ sao ấy và luôn rơi vào cung đối diện với cung gốc của sao bị thay. Hai khí đất bị buộc vào cùng một ô, xung nhau, khắc nhau, trộn lẫn mà thành sát. Tám trường hợp là:
| Sao nhập trung cung | Ngũ Hoàng đóng ở | Thế xung khắc |
|---|---|---|
| Nhất | Ly | thủy hỏa xung khắc |
| Nhị | Cấn | thổ khí âm dương xung khắc |
| Tam | Đoài | kim mộc xung khắc |
| Tứ | Càn | kim mộc xung khắc |
| Lục | Tốn | kim mộc xung khắc |
| Thất | Chấn | kim mộc xung khắc |
| Bát | Khôn | thổ khí âm dương xung khắc |
| Cửu | Khảm | thủy hỏa xung khắc |
Bay nghịch: phục ngâm và cái hung của sự lặp lại
Khi sao nhập trung cung bay nghịch, Ngũ Hoàng lại rơi đúng vào cung gốc của sao bị thay, và hai bên thành thế phục ngâm. Phạm phục ngâm đã là hung, nên Ngũ Hoàng ở thế này vẫn là sát. Nhất nhập trung cung thì Ngũ đóng ở Khảm; Nhị thì ở Khôn; Tam thì ở Chấn; Tứ thì ở Tốn; Lục thì ở Càn; Thất thì ở Đoài; Bát thì ở Cấn; Cửu thì ở Ly. Ở mỗi cung ấy, Ngũ và cung gốc trùng nhau mà thành sát.
Lời giải của Bạch Hạc Minh
Theo Bạch Hạc Minh, trên vận bàn, sao nào nhập trung cung rồi bay thuận hay bay nghịch thì Ngũ Hoàng cũng thành khí hung sát. Bay thuận thì thành sát khí của xung khắc, bay nghịch thì thành sát khí của phục ngâm, nên không có đường nào để nó thoát khỏi tiếng đại sát.
Ngũ là Mậu Kỷ thổ, là Thổ Hoàng Cực, ngôi tôn nghiêm nhất và khí thế mạnh nhất. Vì thế khi nó biến thành sát thì tai họa nặng nhất, bất kể nó đến bằng đường khắc hay đường xung.
Ngũ Hoàng đến sơn, đến hướng và những thế đặc biệt
Khi tọa sơn lập hướng, trừ vận 5, mọi vận khác đều có lúc Ngũ Hoàng đáo sơn hoặc đáo hướng. Có những thế đặc biệt cần phân biệt, vì không phải Ngũ Hoàng nào cũng chỉ mang họa.
- Nếu Ngũ Hoàng là hướng tinh, gặp sao dương nhập trung cung bay thuận, thì toàn bàn hướng tinh rơi vào thế phục ngâm, dùng ắt hung.
- Nếu Ngũ Hoàng là hướng tinh, gặp sao âm nhập trung cung bay nghịch, toàn bàn hướng tinh thành phản ngâm. Hướng tinh bay nghịch như vậy sẽ đưa vượng tinh đến đúng hướng, hơn nữa toàn bàn hợp thập với địa bàn, nên tuy là phản ngâm mà lại càng vượng thêm.
- Nếu Ngũ Hoàng là sơn tinh, gặp sao dương nhập trung cung bay thuận, toàn bàn sơn tinh ở thế ngâm. Còn sơn tinh âm bay nghịch thì vượng tinh đến đúng sơn, cũng hợp thập toàn bàn, nên vượng thêm.
Từ đó có thể thấy: Ngũ Hoàng gặp sao âm nhập trung cung bay nghịch mà khiến vượng tinh đáo hướng thì nó là Hoàng Cực đóng đúng ngôi chính, tôn nghiêm nhất, có công dụng "gặp tù mà không tù". Điều kiện kèm theo là ngoài vượng hướng còn phải có thủy. Các Ngũ Hoàng khác không thể so sánh với nó.
Trong vận 5, nếu cuộc nhà được vượng sơn vượng hướng thì cũng là cuộc đại cát, và địa vận không thể nhập tù.
Ngũ Hoàng của khách tinh lưu niên
Khác hẳn là Ngũ Hoàng đi theo lưu niên. Khi nó là khách tinh của năm, nơi nó đến đều mang hung họa. Nếu Thái Tuế cùng đến một cung với nó thì tai nạn lớn phát sinh; ngay cả khi không có Thái Tuế đi cùng, tai họa vẫn có.
Khi Ngũ Hoàng gặp những sao khác
- Ngũ Hoàng gặp Tam, Thất: thành Quan sát cộng với Xuyên Tâm sát. Không thành thổ phỉ thì cũng là trộm cắp, hoặc tay chân bị thương nặng.
- Ngũ Hoàng gặp Tam, Nhị: thành Quan sát cộng với Đấu sát. Trong nhà tranh giành cãi vã, hoặc người mẹ mất đột ngột.
- Ngũ Hoàng gặp Lục, Thất: thành Quan sát cộng với Kiếm sát. Không tranh quyền đoạt lợi thì cũng vướng kiện cáo lên tận kinh đô.
- Ngũ Hoàng gặp Nhị, Ngũ: ốm đau đến chết.
- Ngũ Hoàng gặp Thất, Cửu: mắc bệnh đột ngột.
Tóm lại, nơi nào Ngũ Hoàng bay đến, nơi ấy sinh tai họa, tổn hại cả nhân đinh lẫn tài lộc.
Ám Kiến: khí Thái Tuế tỏa theo từng tháng
Thái Tuế đóng ở cung nào thì Ám Kiến sát hiện ra theo khí của cung ấy. Khí của Thái Tuế tỏa ra tám phương gọi là Ám Kiến sát, còn có tên là "Nguyệt Phi Thái Tuế". Khác với Thái Tuế tính theo năm, loại sát này tính theo tháng, đi theo sự đổi chỗ của lưu nguyệt phi tinh mà đến từng phương.
Một năm Giáp Tý làm thí dụ
Bạch Hạc Minh lấy vận 4, năm Giáp Tý làm ví dụ. Trên địa bàn, Thái Tuế ở Tý; theo phi tinh, Thái Tuế bay đến cung Khôn, mà Khôn là Nhị, nên Nhị chính là Phi Thái Tuế. Mỗi tháng, người ta xem sao Nhị của tháng ấy rơi vào cung nào thì đó là phương Ám Kiến:
| Tháng | Sao nhập trung cung | Ám Kiến ở |
|---|---|---|
| Giêng | Bát | Cấn |
| Hai | Thất | Ly |
| Ba | Lục | Khảm |
| Tư | Ngũ | Khôn |
| Năm | Tứ | Chấn |
| Sáu | Tam | Tốn |
| Bảy | Nhị | không có Ám Kiến |
| Tám | Nhất | Càn |
| Chín | Cửu | Đoài |
Tháng bảy không có Ám Kiến vì chính sao Nhị đã ngồi giữa trung cung, không bay ra phương nào. Quy tắc cho cả loại sát này rất gọn: tháng nào phương Ám Kiến đến, trong tháng đó nên tránh sửa chữa, tu tạo để khỏi gặp điều hung.
Những cặp sao hợp thành bàn sát
Khi sơn phi tinh và hướng phi tinh gặp nhau trong một cung, có những cặp rất tốt như Nhất Lục, Nhất Tứ, Lục Bát. Nhưng cũng có những cặp xấu, người xưa gọi thế xấu ấy là bàn sát.
Đấu ngưu sát: Tam với Nhị, Tam với Bát
Tam Nhị và Tam Bát hợp thành Đấu ngưu sát. Tam là Xi Vưu hiếu chiến; Nhị và Bát là con trâu và con chó. Hai sao gặp nhau như Xi Vưu đấu với trâu hoang, đã đấu thì sinh sát khí, nên có tên là "Đấu ngưu".
Phương nào có sao Tam Bích cùng đến thì trong nhà hay gây gổ, xích mích, vợ chồng bất hòa. Nếu có vượng tinh bay đến cùng thì tranh đấu càng dữ dội. Nếu gặp Thái Tuế bay đến thì càng gay gắt hơn. Nếu Ngũ Hoàng và Nhị Hắc cùng bay tới, cuộc tranh đấu ấy kéo theo thương tổn.
Xuyên tâm sát: Tam với Thất
Tam Thất là Xuyên tâm sát. Tam là Xi Vưu, là giặc cướp; Thất là đao kiếm. Hai sao gặp nhau là tượng hung. Cùng đến một phương thì vợ chồng bất hòa, kiện tụng chốn quan trường, của cải bị cướp, con trai thành giặc, hoặc phải ra trận. Nếu vượng tinh cùng bay đến, các việc ấy dữ hơn; nếu Thái Tuế đến cùng thì dễ phát bệnh đột ngột.
Thương kiếm sát: Lục với Thất
Lục Thất là Thương kiếm sát. Lục là ngựa, là cây thương; Thất là đao kiếm. Hai sao gặp nhau là tượng so đao đọ kiếm, hai kẻ mạnh đánh nhau. Cùng đến một phương thì trai mạnh gái dũng đối đầu, tranh quyền cướp lợi, khẩu thiệt thị phi nổi lên.
Quỷ thần chỉ là hình tượng
Bạch Hạc Minh nhắc rằng những cái tên như Xi Vưu hay đao kiếm không có nghĩa là quỷ thần can dự. Dịch học nói về quy luật biến đổi của vũ trụ để tính toán, vốn chẳng liên quan gì tới quỷ thần. Quỷ thần chẳng qua là cách hình tượng hóa những lực lượng của thế giới khách quan. Bản thân Dịch học chỉ nói đến sự đối lập của âm dương và sự xung khắc của ngũ hành, rồi từ đó sinh ra động tĩnh, cát hung.
Vì sao thủy mới là chủ của tài
Nơi nào có sát khí thì cũng có nơi giữ tài, và dấu vết của nó nằm ở dòng nước chảy qua từng cung của căn nhà…
Phái Huyền Không lấy việc thu địa khí và thủy khí làm gốc, không luận theo ngũ hành, bởi lấy ngũ hành làm chủ là lý luận của phái Bát Trạch. Trong Huyền Không Đại Quái, các phi tinh cũng đã có phối với ngũ hành.
Ai học Huyền Không đều biết nguyên tắc "thủy lấy suy làm vượng", nghĩa là phương vị thủy của thất vận mới là phương tốt. Về âm dương linh chính, Thẩm thị Huyền Không học giải thích rằng không thể chỉ nhìn vào thế đối đãi mà thôi. Chẳng hạn Khảm Nhất lấy Ly Cửu làm linh thần là theo thế đối đãi của hậu thiên, nhưng dùng Hà Đồ tiên thiên cũng được. Trong Hà Đồ, Nhất, Nhị, Tam, Tứ là số sinh, còn Lục, Thất, Bát, Cửu là số thành. Ở thượng nguyên, bốn số sinh làm chính thần của bốn sơn, bốn số thành làm linh thần của bốn thủy. Sang hạ nguyên thì đảo lại: bốn số thành Lục, Thất, Bát, Cửu làm chính thần của bốn sơn, bốn số sinh Nhất, Nhị, Tam, Tứ làm linh thần cho bốn thủy. Vì vậy khi Nhất nhập trung cung, cung Khảm thành Lục và cung Ly thành Ngũ, đó chính là nguyên tắc của linh chính, và Khảm Ly có thể phân biệt rõ như vậy.
Hạ nguyên: phương nào gặp nước thì phá tài, phương nào thì vượng
Hạ nguyên chạy từ năm 1984 đến năm 2043. Trong thời kỳ này, bốn phương Lục (tây bắc), Thất (tây), Bát (đông bắc), Cửu (nam) là chính thần; chỗ nào gặp nước thì phá tài. Còn bốn phương Nhất (bắc), Nhị (tây nam), Tam (đông), Tứ (đông nam) là linh thần; phương linh thần mà gặp nước thì chủ vượng tài.
Nếu chỉ luận theo ngũ hành thì đông và đông nam gặp nước là thủy sinh cung mộc, luận cát. Tây nam gặp nước là cung thổ khắc xuất nước, luận bình bình. Bắc gặp nước là nước được nước giúp thêm vượng, luận cát. Chỉ cần đương vận thì tây nam gặp nước cũng tốt, tài vận hưng vượng. Còn phương vị nào nên có nước, phương vị nào kiêng nước thì phải phối hợp thêm nhiều nguyên tắc phong thủy khác.
Tài vị theo du tinh Bát Trạch
Trong phái Bát Trạch, sao Sinh Khí là sao vượng tài vận hàng đầu: tích tụ được nhiều của cải và giữ được lâu dài. Sao Diên Niên đứng thứ hai: tiền đến nhanh nhưng không bằng Sinh Khí, tuy vậy vẫn giúp chủ nhân tích lũy được. Sao thứ ba ảnh hưởng đến tài vận là Thiên Y, chỉ chủ về tiền của ổn định mà không có hoạnh tài.
Ngũ Quỷ trong Bát Trạch được xem là hung tinh, chủ phá tài. Nhưng khi nó gặp phi tinh đang tối vượng, nó trở thành ngôi sao có quyền lực rất mạnh, và lúc đó Ngũ Quỷ có thể đem lại hoạnh tài lớn.
Tài vị theo phi tinh Huyền Không
Nhất thiên tinh đấu chỉ vận dụng ở trung ương.
Câu ấy trong Huyền Không bí chỉ nói rằng cả bầu trời sao chỉ dùng được ở trung ương, tức là ở sao đương vận. Năm 1984 đến 2003 là vận 7 nên Thất Xích là vượng tinh; năm 2004 đến 2023 là vận 8 nên Bát Bạch là vượng tinh. Vị trí của tài tinh đương vượng mà gặp nước thì tài vận đại vượng. Tài tinh là hướng bàn, tức là sao ghi ở góc bên phải của tinh bàn.
Ngoài vượng khí, sinh khí của tài tinh cũng đem lại vượng tài, và cát khí của nó chủ về tài vận ngày càng ổn định.
Một tinh bàn vận 7 làm thí dụ
Hãy lấy tinh bàn vận 7 tọa Tý hướng Ngọ. Ở phương bắc, Thất Xích đương vượng bay tới, chủ vượng tài, tiền của tăng lên và còn tích tụ được. Ở tây nam, Bát Bạch sinh khí bay tới cũng chủ vượng tài, tiền đến nhanh nhưng số lượng ít. Ở phương đông, Cửu Tử tiến khí chủ tài vận từng bước ổn định tăng tiến. Ở đông nam, Nhất Bạch là cát tinh chủ tài vận bình ổn.
Sang vận 8, Bát Bạch là vượng khí, chủ tiền tài tăng tiến và tích tụ được; Cửu Tử là sinh khí, chủ tiền tài từng bước tăng lên.
Chính tài và thiên tài
Nói chung, phái Huyền Không lấy cung quẻ dương là Nhất, Tam, Lục, Bát làm chính tài, tức tiền chính đáng do công việc mang lại. Cung quẻ âm là Nhị, Tứ, Thất, Cửu chủ về thiên tài, tức hoạnh tài, tiền do may mắn tình cờ mà có. Dù là chính tài hay thiên tài, nhất định phải là khí sinh vượng hoặc cát tinh mới làm được vị trí nước vượng tài.
Tài tinh ở hướng bàn còn gọi là "long thần thủy bao bọc". Thiên Ngọc kinh có câu:
Long thần thủy bao bọc đương vượng thì tiền bạc đầy kho.
Ý nói rằng chân thủy nằm đúng vị trí nước, lại có long đương vượng bài bố, thì nhất định giàu có. Cho nên sau khi tìm được sao tài vượng ở phương vị nước, hoặc bố trí nước ở đúng chỗ ấy, tài vận tự nhiên hưng vượng.
Nguyên tắc dựng thủy cuộc vượng tài
Việc đầu tiên là tìm tài vị trong căn nhà. Có tài vị rồi mới bắt đầu bố cục. Cách đơn giản nhất là theo lối Bát Trạch, bố cục theo tám hướng và ngũ hành:
- Hướng đông và đông nam thuộc mộc: bày vật phẩm phong thủy hành thủy và hành mộc để tăng tài vận.
- Hướng nam thuộc hỏa: bày vật hành mộc và hành hỏa.
- Hướng tây nam và đông bắc thuộc thổ: bày vật hành hỏa và hành thổ.
- Hướng tây và tây bắc thuộc kim: bày vật hành thổ và hành kim.
- Hướng bắc thuộc thủy: bày vật hành kim và hành thủy.
Thật ra cách làm vượng tài đúng đắn không thể chỉ dựa vào ngũ hành của phương vị rồi bày vật phẩm, mà cần dùng thủy pháp. Thanh Nang kinh viết:
Thủy chủ tài lộc, sơn chủ nhân đinh.
Lại có câu:
Muốn thủy phát thì cần phải có thành môn.
Muốn tài vượng thì phải lấy thủy làm trọng, vì thủy giới hạn được địa khí: gặp nước thì khí dừng lại. Vì vậy không thể xem thường sức tác động của thủy.
Nước tự nhiên và nước nhân tạo
Sông, nước, biển, hồ, khe, rạch đều là thủy của cuộc đất. Giếng nước, hay nơi dẫn nước vào nhà cũng là thủy. Trong hoàn cảnh thành thị ngày nay, phần lớn nhà cửa không thể tùy ý sửa chữa để chọn vị trí nước theo hình thế thiên nhiên cho đúng phép Loan Đầu. Vì vậy chỉ còn cách lấy thủy hậu thiên, tức nước nhân tạo, để tăng tài vận. Sau khi tìm được sao vượng tài, người ta dùng phương vị nước ấy để thiết kế thủy cuộc vượng tài nội thất, và đó là điều mình chủ động được.
Cửa chính và vị trí tài
Ngoài chỗ dẫn nước vào nhà, cửa chính mở ở phương vị nào cũng có thể làm vượng tài. Tuy nhiên cửa lớn của những tòa nhà kiểu mới khó mà sửa theo ý muốn, nên người ta dùng những cách bổ cứu sau.
- Mở cửa ở tài vị của phi tinh Huyền Không thì vượng tài, chẳng hạn mở cửa ở vị trí sao tài Thất của vận 7 hoặc vị trí sao tài Bát bay tới.
- Cung Đoài là hoạnh tài, cung Cấn là chính tài. Tài vị của du tinh Bát Trạch cũng làm vượng tài, chẳng hạn mở cửa ở phương Sinh Khí hay Diên Niên.
- Theo Huyền Không, mở cửa ở vị trí đương vận mới vượng tài. Các vận 6, 7, 8, 9 ứng với các phương tây bắc, tây, đông bắc, nam. Vận 7 mà mở cửa ở hướng tây (cung Đoài) và đông bắc (cung Cấn) là đại vượng tài: cửa ở Đoài được hoạnh tài, cửa ở Cấn được chính tài.
Nguồn: Nguyễn Vũ Anh, Thẩm Thị Huyền Không Học – Phong Thủy Trong Bối Cảnh Kiến Trúc Hiện Đại.
