Bài tổng quan
Cuộc đất đẹp phạm phục ngâm và khẩu quyết đổi bằng vàng
Mười năm tìm đất, một năm sau cả nhà chết hết vì dịch, và người đến xem chỉ cười: cuộc đất đẹp mà táng sai thời. Người học trò dâng thầy hai ngàn lạng vàng, thầy giữ vàng và truyền lại mấy câu khẩu quyết. Ba năm hỏi, ba lần thầy chỉ mỉm cười…
Mục lục · 6 phần
Một cuộc đất đẹp mà cả nhà chết vì dịch
Khương Diêu, người Cối Kê, kể lại rằng thông gia của ông nhờ một địa sư tên Quảng Diên, mất hơn mười năm mới tìm được một cuộc đất cực đẹp. Họ táng vào vòng Giáp Tý đời Khang Hy năm thứ hai mươi ba, vận 1, sơn Nhâm hướng Bính. Một năm sau khi táng, cả nhà mắc bệnh dịch chết hết, con cháu còn lại cãi nhau về chuyện này mãi không dứt. Thầy Tưởng Đỗ Lăng lên núi xem, cười mà nói: cuộc đất này quả đẹp, chỉ tiếc phạm phản ngâm phục ngâm, gặp họa vì táng không đúng thời.
Bạch Hạc Minh phân tích: vận 1 sơn Nhâm hướng Bính là cuộc song tinh đáo sơn, lẽ ra phải vượng người, vậy mà ngôi mộ này lại tổn người vì phạm phản ngâm phục ngâm. Loại phản phục ngâm có nhiều kiểu; ở đây là kiểu quẻ của sơn tinh trùng với quẻ của hướng tinh, tức phạm phục ngâm. Trong Huyền Không, núi cai quản nhân đinh, nước cai quản tài lộc; phương tọa đã phạm phục ngâm thì chủ tổn hại người.
Ngoài ra, sơn Nhâm hướng Bính không nên lập vào năm Giáp Tý thượng nguyên, vì ba lẽ. Một là năm Giáp Tý tam sát đáo phương Ly, hướng phạm "tam sát kèm sát". Hai là năm Giáp Tý thượng nguyên có Nhất Bạch nhập trung cung, Ngũ Hoàng bày đến phương Ly, tức Ngũ Hoàng chính quan đáo hướng. Ba là phương Ly của cuộc này đã phạm "Nhị Ngũ giao nhau"; năm Giáp Tý thượng nguyên phương Ly lại là nơi Ngũ Hoàng chiếm, nên chồng thêm một lớp Nhị Ngũ giao nhau; huống chi Ngũ Hoàng lưu niên gặp vận tinh của phương Ly cũng là Ngũ Hoàng, phạm cả phản phục ngâm. Sang năm Ất Sửu, sao Ngũ Hoàng bày đến phương Khảm, Ngũ Hoàng thổ khắc sơn tinh Nhất Bạch; sơn quản nhân đinh nên đây cũng là tượng tổn người hại đinh. Khi hạ táng đã phạm chỗ hung quá mạnh, lưu niên lại đại hung, nên chưa đầy một năm cả nhà bị dịch mà chết.
Châu bảo và hỏa khanh khác nhau ở một chữ thông
Hai cuộc đất giống nhau như đúc, người táng này thì phát vương hầu, người táng kia thì thành đạo tặc; chỗ phân biệt chỉ nằm trong một chữ.
Khương Diêu hỏi thầy: châu bảo và hỏa khanh khác nhau thế nào? Thầy đáp: thông là châu bảo, không thông là hỏa khanh. Nặng hay nhẹ là do tâm lĩnh ngộ mà cân nhắc trong khoảng giữa châu bảo và hỏa khanh. Cho nên mới nói ta táng thì xuất vương hầu, người táng thì xuất đạo tặc, cùng một núi nước mà khác nhau như thế. Bạch Hạc Minh giải thích: "thông" là châu bảo tuyến; thông nghĩa là hai sao sơn và hướng thông với quẻ của đương vận.
Nạp giáp và phép bày sao có hợp nhau không
Khương Diêu hỏi: phép nạp giáp có hợp với phép bày sao không? Thầy đáp: vừa là một vừa là hai. Nói nạp giáp chẳng qua là nói về cái "thể"; con dùng phương pháp Huyền Không mới đúng là nạp giáp.
Bạch Hạc Minh giải thích: phép nạp giáp vốn là việc mỗi quẻ trong bát quái bao hàm các thiên can. Theo một cách thì Kiền nạp Giáp và Nhâm, Khôn nạp Ất và Quý, Khảm nạp Mậu, Ly nạp Kỷ, Chấn nạp Canh, Tốn nạp Tân, Đoài nạp Đinh, Cấn nạp Bính. Còn một cách nạp giáp khác: Kiền nạp Giáp, Khôn nạp Ất, Chấn nạp Canh Hợi Mùi, Tốn nạp Tân, Khảm nạp Quý Thân Thìn, Ly nạp Nhâm Dần Tuất, Cấn nạp Bính, Đoài nạp Đinh Tỵ Sửu. Đoạn văn trên nói các sao bày ở địa bàn đều quy về bát quái của địa bàn; đó mới là nạp giáp chân chính.
Phép Bắc Đẩu đả kiếp chỉ gói trong hai quẻ Khảm Ly
Khương Diêu kể: thầy ông ở trong nhà Ngụy tướng quốc được xem bí kíp ghi các phép, phép nào cũng đủ, chỉ riêng phép "Bắc Đẩu đả kiếp" là không có ghi chép. Vì thế khi chú giải Thiên Ngọc kinh thầy cũng không dám viết rõ. Có hôm thầy nói với ông rằng phép Bắc Đẩu đả kiếp chính là hai quẻ Khảm và Ly. Ông nghiên cứu kỹ mới biết quẻ Khảm dùng cùng Tốn, Đoài thành tam ban quái, quẻ Ly dùng cùng Kiền, Chấn thành tam ban quái. Ông lại hỏi thầy, tiên sinh mỉm cười: con đã hiểu quá nửa, nhưng nói đến chuyện này thì phải cẩn trọng.
Bạch Hạc Minh giải thích: phép Bắc Đẩu đả kiếp là nguyên nhân của việc vận dụng hai quẻ Khảm, Ly. Ly là quẻ Kiền tiên thiên, tượng là trời, số quẻ là Nhất. Khảm là quẻ Khôn tiên thiên, tượng là đất, số quẻ là Bát. Hai quẻ này là trời và đất, là đầu và cuối của các số.
Cùng một bản đồ, ba năm mới hiểu ra
Năm Giáp Tý, thầy Đỗ Lăng lập quẻ cho họ Lưu, trong hình đồ chú rõ rằng hai mươi năm sau, giai đoạn Giáp Thân, trừ năm có Ngũ Hoàng gia lâm, năm nào cũng táng được; chỉ có điều không được kiêm Tỵ Hợi, vì kiêm Tỵ Hợi thì không thuần thanh. Khương Diêu hỏi vì sao, thầy chỉ cười mà không đáp. Tắc Tiên giải thêm: hai mươi năm sau Giáp Thân thì Nhị Hắc là chủ vận, Kiền Tốn đương vượng, nên không được kiêm Tỵ Hợi; kiêm thì Nhị Hắc nhập trung cung.
Bạch Hạc Minh làm rõ: ý "kiêm thì Nhị Hắc nhập trung cung" là với độ kiêm này, hễ dùng thế quái thì thế quái của hai tuyến Kiền Tốn hay Tốn Kiền đều là Nhị Hắc nhập trung cung. Ấy là phạm tù và phục ngâm, vì thiên tinh Nhị Hắc ở trung cung lại gặp hướng tinh hoặc sơn tinh cũng là Nhị Hắc, tức phục ngâm. Bàn thế quái của sơn Tốn hướng Kiền vận 2 và của sơn Kiền hướng Tốn vận 2 đều như thế.
Năm Bính Dần, thầy lập quẻ cho nhà của chính Khương Diêu, hình đồ cũng giống như vậy, ông lại hỏi thầy. Thầy nói: con học chưa đủ, muốn ngộ điều này hãy chờ sang năm. Bạch Hạc Minh ghi rằng năm Bính Dần thầy lập tuyến cho ông, tuyến vị là Kiền Tốn, tình huống cũng giống năm Giáp Tý.
Năm Mậu Thìn thầy Đỗ Lăng lại đến chơi, ông hỏi nữa, thầy đáp: kiêm thì nên dùng bí quyết Khôn Nhâm Ất, không kiêm thì dùng hạ quái cũng được. Khi ấy Khương Diêu mới bắt đầu hiểu ra. Từ đó ông căn cứ lời lẽ uyên áo ấy mà lập quẻ, quả như có búa để mở đường núi. Chỉ có điều lời uyên áo ấy mới nói đến mười hai sơn, trong đó không chữ nào có thể lấy làm khởi tinh, tức thế quái, nói gọn là chưa có khẩu quyết về nó.
Hai ngàn lạng vàng đổi lấy bài khẩu quyết thế quái
Lúc thầy táng cha ở Dư Diêu, không có tiền mua đất, Khương Diêu dâng thầy hai ngàn lạng vàng. Khi trở về thầy giữ lại số vàng ấy và truyền cho ông bài khẩu quyết Tý Quý và Giáp Thân. Lúc ấy ông mới biết: Tý, Quý, Giáp, Thân là sao Tham Lang; Mão, Ất, Mùi, Khôn, Nhâm là sao Cự Môn; Thìn, Tuất, Kiền, Hợi, Tốn, Tỵ là sao Vũ Khúc; Dậu, Tân, Sửu, Cấn, Bính là sao Phá Quân; Ngọ, Đinh, Dần, Canh là sao Hữu Bật. Thầy nghiêm trang dặn: điều bí quyết ấy là bí mật nhất trong những bí mật, đã biết rồi thì phải thận trọng, chớ tiết lộ với ai. Sau khi được khẩu quyết, Khương Diêu mới mang ra chú giải Thanh Nang Áo Ngữ.
Bạch Hạc Minh cho biết đó là khẩu quyết thế quái. Bài khẩu quyết đại ý như sau:
Tý, Quý cùng Giáp, Thân: Tham Lang chung một đường đi.
Nhâm, Mão, Ất, Mùi, Khôn: năm chữ ấy là Cự Môn.
Kiền, Hợi, Thìn, Tốn, Tỵ: cùng mang tên Vũ Khúc.
Dậu, Tân, Sửu, Cấn, Bính: nói về sao Phá Quân.
Dần, Ngọ, Canh, Đinh: bốn chữ ấy là Hữu Bật.
Còn khẩu quyết liên quan được ghi trong Thanh Nang Áo Ngữ thì chỉ tiết lộ một nửa:
Khôn Nhâm Ất, Cự Môn theo chữ đầu mà xuất hiện.
Cấn Bính Tân, vị trí nào cũng là Phá Quân.
Tốn Thìn Hợi, thảy đều là ngôi Vũ Khúc.
Giáp Quý Thân, Tham Lang chung một đường đi.
Học được khẩu quyết ấy, Khương Diêu mới hiểu vì sao thầy ông, năm Giáp Tý và năm Bính Dần, đã lập tuyến cho người như vậy. Còn chuyện khẩu quyết thế quái, người được truyền cũng chẳng dễ gì, nên ai có duyên học được là người có phúc khí.
Năm Canh Ngọ, Khương Diêu chú giải xong sách Áo Ngữ, thầy Đỗ Lăng đến chơi và bảo ông khi chú giải không được nói rõ ràng đến thế, rồi sửa lại hai câu. Bạch Hạc Minh giải thích: Tưởng Đại Hồng đọc chú giải của đệ tử, thấy tiết lộ bí mật phong thủy quá rõ nên sửa hai câu trong lời chú thành lời ẩn dụ.
Về thành môn, Khương Diêu nói bí quyết này chỉ có thể dùng ý mà hiểu, không thể lấy lời truyền. Ông điểm huyệt táng cho một người ở vận 2, sơn Dậu hướng Mão, lấy phương Cấn có nước làm thành môn. Thầy Đỗ Lăng cho rằng đồng nguyên thì dùng được, vì khí ấy không khác khí của trung cung, cũng nhờ thành môn mà thành. Khương Diêu nghĩ rằng thành môn mà hợp chính khí thì dùng được.
Phép đảo trượng và chữ thiên tâm nằm trong tay người
Có một cuộc đất bị gọi là "tù" mà dòng họ ấy vẫn đỗ đạt lâu dài; bí mật nằm ở một vùng nước trống phía trước.
Thầy Đỗ Lăng nói phép đảo trượng của Dương thánh tuyệt nhiên không pháp môn thứ hai nào sánh nổi; chỉ cần biết nguyên vận vượng ở cung nào, táng ở cung nào thì tự nhiên biết được khí âm dương của nó, không cần dùng la bàn. Thầy còn nói điều khó nhất là biết thiên tâm, mà thiên tâm lại nằm trong tay ta: ta muốn thế nào thì thiên tâm thế ấy. Đó là nói sức người có khi cũng thắng được thiên mệnh. Bạch Hạc Minh giải thích: thiên tâm là khí nguyên vận ở trung cung, tức thiên tinh; vận 1 thì Nhất nhập trung cung, vận 2 thì Nhị nhập trung cung, và cứ thế. Nói "thiên tâm ở trong tay ta" tức là nói bí quyết bày sơn ngay trên bàn tay.
Khương Diêu cho biết ở vùng Giang Chiết gần đây những thuyết sai càng ngày càng nhiều, lạ nhất là phép khởi tinh; từ khi phân biệt được đúng sai, ông mới có đạo lớn để theo. Thầy bảo ông làm ca quyết theo Bình Sa Ngọc Xích là sai, vì ca quyết ấy chỉ nói cách trang quẻ mà không nói đến ái tinh. Bạch Hạc Minh giải thích: sách Bát Trạch Minh Kính cũng có nói cách trang quẻ, nhưng khác với cách bày lần lượt các sao của Huyền Không; hơn nữa ca quyết Bình Sa Ngọc Xích chỉ chú trọng phép ngũ hành song sơn tam hợp.
Cuộc đất họ Triệu: tù mà không tù
Khương Diêu viết: chữ của thiên bàn ở đầu hướng mà nhập trung cung thì gọi là "tù"; tù thì hung họa rất dữ, hơn cả lên núi xuống nước. Ở quê ông có cuộc đất của họ Triệu, sơn Tốn hướng Kiền. Họ táng vào năm thứ tư của nguyên ấy, sau khi táng, vào vận 2, nhà ấy có hai người học hành thi đỗ, văn tài của dòng họ cho đến nay vẫn chưa dứt. Khí vận của loại sơn hướng này vốn rất ngắn, sao lại kéo dài như vậy? Ông ôm nghi hoặc lâu ngày, sau hỏi thầy. Thầy đáp: phía trước có nước hở, làm cho "tù" mất tác dụng, nên ngược lại phải luận là lâu dài.
Bạch Hạc Minh nói rõ: trong tinh bàn, chữ thiên bàn ở phương hướng Kiền là Tam Bích, đến vận 3 thì nhập tù, vì thế vận nhà rất ngắn. Nhưng phương hướng lại thấy nước, nên ngược lại chủ không tù. Đây là trường hợp thấy nước thì không luận tù; trạch vận không có vận tù thì dĩ nhiên địa vận kéo dài.
Nguồn: Nguyễn Vũ Anh, Thẩm Thị Huyền Không Học – Phong Thủy Trong Bối Cảnh Kiến Trúc Hiện Đại.
