Bài tổng quan
Mười ngụy pháp Tam Nguyên và tám phương vị biến ra từ quẻ tiên thiên
Có mười cách bài sao nghe rất giống phép thật, và có người dùng chúng cả đời mà không biết. Thẩm Trúc Nhưng gọi tên từng cách, chỉ ra chỗ sai của từng cách. Rồi ông chuyển sang một hệ thống khác mà ngày nay vẫn được dùng rộng rãi, sinh ra chỉ từ việc đổi hào của tám quẻ.
Mười kiểu ngụy pháp bám vào Tam Nguyên
Thẩm Trúc Nhưng đọc thấy trong ghi chép của Trương Tâm Ngôn một bản khái quát về các ngụy pháp của Tam Nguyên, nhìn chung là đúng. Chỗ hụt của họ Trương là khi bổ cứu về hình đồ thủy thần ghép vào chính pháp thì không phân biệt được khởi tinh và hạ quái là hai con đường riêng biệt, nên phép chính tông lại hóa thành ngụy pháp. Cuối quyển của họ Trương có vẽ ba hình đồ: hình thứ nhất đúng, hình thứ hai và thứ ba đều sai. Theo ông, điều đó cho thấy họ Trương không nhận được chân truyền của bản phái.
Mấy năm gần đây ông thấy nhiều người không hiểu bí quyết Huyền Không nên bày ra nhiều ngụy pháp, các thuyết bất nhất, mâu thuẫn nhau. Vì thế ông ghi lại mười kiểu thường gặp để người học dễ phân biệt.
- Một là dùng quái khí cứng nhắc. Vận 1 dùng Khảm, vận 2 dùng Khôn, vận 3 dùng Chấn, vận 4 dùng Tốn, vận 5 mượn dùng Cấn Khôn, vận 6 dùng Kiền, vận 7 dùng Đoài, vận 8 dùng Cấn, vận 9 dùng Ly.
- Hai là sai về cách dùng thiên bàn. Ví dụ vận 2, Nhị nhập trung cung, cung Kiền bài Tam, cung Tốn bài Nhất. Nhất là chỗ thống lĩnh quái khí, còn Tam là vượng khí của tương lai. Họ lấy các sơn hướng Tuất Kiền Hợi và Thìn Tốn Tỵ làm vượng, sai ở chỗ kiêm luôn Phụ Bật. Họ thường dùng sơn Tuất hướng Thìn kiêm Tân Ất, vì Chấn bài Cửu, Cửu là Bật, nên lấy Nhất làm cát.
- Ba là lầm khi bài phụ mẫu. Phép của họ cũng dùng thiên bàn, nhưng khi lấy phụ mẫu thì không xét âm dương của sơn và hướng, đều cho bay nghịch nên không có đáo sơn đáo hướng. Một phép khác dùng hướng theo thiên bàn, dương thì thuận, âm thì nghịch, còn sơn không dùng thiên bàn mà đều nhập trung cung đi thuận. Một cách nữa lấy số sinh thành: dùng số sinh trừ số thành, số thành trừ số sinh, rồi thêm 1 và 10; ví dụ Nhất nhập trung cung, khi hạ quái gặp Lục thì tiến lên một vị trí là Thất; Nhị nhập trung cung, gặp Thất thì tiến lên Bát; Tam nhập trung cung, gặp Bát thì tiến lên Cửu. Phép cửu cung của Kiền Tạc Độ vốn lưu truyền từ một đến chín. Vào thời Khang Hy và Càn Long, Dịch học đời Tống thịnh hành, các học giả hiểu lầm số 50 của đại diễn mà dẫn tới tình trạng ấy.
- Bốn là lầm về cách dùng khởi tinh. Khởi tinh và hạ quái là hai việc hoàn toàn khác nhau, không thể lẫn. Người ta lầm hai điều: một là không dùng thiên bàn; hai là vận nào cũng dùng bốn sao của Khôn Nhâm Ất nhập trung cung, chẳng hạn sơn Cấn hướng Khôn thì lấy Cự Phá nhập trung rồi bài bố.
- Năm là lầm khi cách bốn vị trí để khởi phụ mẫu. Phép này cũng dùng quẻ tam ban, ví dụ: vận 1 lấy Thất nhập trung cung đi nghịch, Lục tới cung Kiền, sơn Tốn hướng Kiền là vượng, kế đến nhân nguyên và địa nguyên; vận 2 lấy Bát nhập trung cung đi nghịch, Bát không có Phục Vị nên không có vận vượng; vận 3 lấy Cửu nhập trung cung đi nghịch, Thất tới cung Đoài, sơn Mão hướng Dậu là vượng; vận 4 lấy Nhất nhập trung cung đi nghịch, Tam tới cung Chấn, sơn Dậu hướng Mão là vượng; vận 5 lấy Nhị nhập trung cung đi nghịch, Bát tới cung Cấn, sơn Khôn hướng Cấn là vượng; vận 6 lấy Tam nhập trung cung đi nghịch, Tứ tới cung Tốn, sơn Kiền hướng Tốn là vượng; vận 7 lấy Cửu nhập trung cung đi nghịch, Cửu tới cung Ly, sơn Tý hướng Ngọ là vượng; vận 8 lấy Ngũ nhập trung cung đi nghịch, không có Phục Vị nên không có vận vượng; vận 9 lấy Lục nhập trung cung đi nghịch, Nhất tới cung Khảm, sơn Ngọ hướng Tý là vượng. Người bạn già Trương Thuần Am của ông dùng phép này.
- Sáu là phép lấy long, huyệt, sa, thủy cố chấp vào sáu mươi bốn quẻ. Trong sách của Trương Tâm Ngôn có vẽ hình đồ sáu mươi bốn quẻ theo phép này.
- Bảy là lầm khi dùng phép táng theo Dịch lý của họ Đoan Mộc. Phép ấy được phụ thêm vào sau khi đọc "Địa lý nguyên văn", và theo ông thì không thừa chút nào.
- Tám là lầm về cách dùng âm dương thuận nghịch. Họ không dùng thiên bàn, lấy Giáp Canh Bính Nhâm thuộc dương thì đi thuận, Ất Tân Đinh Quý thuộc âm thì đi nghịch.
- Chín là lầm về cách khởi Liêm Trinh. Họ dùng hai câu "Vị vị khởi Liêm Trinh, Tham Lang thứ đệ hành", nghĩa là vị trí nào khởi Liêm Trinh thì vị trí kế tiếp khởi Tham Lang, làm bí quyết; lại có "trung khởi trung chỉ", "huyền khởi huyền chỉ".
- Mười là lầm về phép nạp giáp. Họ lấy "Kiền Giáp, Khảm Quý Thân và bốn chữ Thìn" làm yếu chỉ rồi bài bố thuận nghịch, dùng khẩu quyết "Nhất Khảm Giáp Ngọ Hợi" bài thuận để lấy tám cung, mà không biết bí quyết thế quái, chính quái; thực ra là bỏ Ngũ không dùng.
Bài quyết của kiểu thứ mười là:
Nhất Khảm Giáp Ngọ Hợi; Tứ Tốn Bính Kiền Ất; Bát Cấn Sửu Khôn Dần. Nhị Khôn Mùi Cấn Thân; Lục Kiền Canh Tốn Quý; Cửu Ly Thìn Tý Tân. Tam Chấn Nhâm Dậu Tỵ; Thất Đoài Tuất Mão Đinh.
Bài quyết này có trong "Huyền đàm hội túy", câu chữ đã bị người đời sau sửa nhiều. Thực ra đó là khẩu quyết của giới thuật sĩ giang hồ để bài sao cho người ta dễ nhớ vị trí Nhị, Ngũ, Bát mà không cần phép đánh sao trên bàn tay. Quyết lấy địa nguyên long làm Bát Bạch, thiên nguyên long làm Ngũ Hoàng, nhân nguyên long làm Nhị Hắc, còn Khôn Cấn làm cửa sinh tử. Việc nhập trung cung với Nhất, Nhị, Tam, Tứ, Lục, Thất, Cửu có khác biệt: Nhị nhập trung cung thì nhân nguyên long dùng Thân; Bát nhập trung cung thì nhân nguyên long dùng Dần. Ví dụ Nhất nhập trung cung thì Bát, Ngũ, Nhị ở ba phương Giáp, Ngọ, Hợi: Giáp Chấn thuộc địa nguyên long, Ngọ Ly thuộc thiên nguyên long, Hợi Kiền thuộc nhân nguyên long. Nói Giáp mà không nói Mão Ất, nói Ngọ mà không nói Bính Đinh, nói Hợi mà không nói Tuất Kiền, là có ý nói một để nhắc ba. Nói cách khác, Nhất nhập trung cung thì Nhị, Ngũ, Bát ở ba phương Kiền, Ly, Chấn; các trường hợp khác suy theo.
Ông kết luận rằng với phái Huyền Không, bí quyết là bí quyết, học thuyết là học thuyết; hai thứ hoàn toàn khác nhau, không được lầm bí quyết thành học thuyết hay lầm học thuyết thành bí quyết. Ngoài mười điều kể ra còn rất nhiều ngụy pháp khác, ở đây chỉ nêu sơ lược.
Có một cuốn được gọi là kỳ thư lại dựng lên một thang bậc cát hung riêng chỉ dựa vào chuyện hai dãy số trùng nhau.
Thượng cát, thứ cát và chuyện số tiên thiên trùng số vận
Tổ Miên nhắc tới "Thiên cơ đắc chân", được cho là một cuốn kỳ thư, trong đó có bí quyết lấy trường hợp số tiên thiên giống số của vận tinh làm hướng thượng cát; lại còn cho rằng một quẻ ba sơn thì không phân cao thấp, cát thì cùng cát. Ví dụ vận 1, vận tinh Nhất nhập trung cung thì Tứ tới Cấn; Cấn hậu thiên tương đương vị trí Chấn Tứ tiên thiên, họ bèn lấy ba hướng Sửu, Cấn, Dần làm thượng cát. Tương tự họ cho các trường hợp sau là thượng cát: Bát tới Khảm của vận 3, vì Bát là vị trí quẻ Khôn tiên thiên; Nhị tới Tốn, vì Nhị là vị trí quẻ Đoài tiên thiên; Đoài của vận 4 hợp Khảm Lục; Chấn của vận 5 hợp Ly Tam; hai phương Ly và Kiền của vận 6 hợp Kiền Nhất và Cấn Thất tiên thiên; Khôn của vận 8 hợp Tốn Ngũ.
Cuốn ấy còn cho rằng tiên thiên và hậu thiên tỷ hòa với nhau là thứ cát. Như Lục của vận 2 tới Ly, tức Kiền gặp Kiền; Cửu tới Chấn, tức Ly gặp Ly; Ngũ tới Cấn, tức Tốn gặp Tốn. Nhị của vận 6 tới Khảm thì Nhị tức là Khôn. Tứ của vận 7 tới Khôn thì Tứ tức là Tốn. Vận 8, Thất tới phương Tốn gặp Đoài tiên thiên; vận 9, Tam tới cung Cấn gặp Chấn tiên thiên. Tất cả đều là thứ cát.
Họ còn lấy Thất của vận 4 tới Cấn, Tứ của vận 6 tới Chấn, Ngũ tới Tốn, xuyên tạc rằng hợp với số tiên thiên Cấn 7, Chấn 4, Tốn 5 rồi cho là thứ cát. Thẩm Trúc Nhưng thấy rất nực cười. Thực ra lý khí lấy hậu thiên làm dụng, lấy phi tinh của sơn hướng làm trọng; vận dụng không đúng phép thì tuy ngẫu nhiên có phát cũng chẳng bù được mất mát, chỉ là lừa người gạt mình. Bạch Hạc Minh chú rằng đoạn này bàn về các ngụy pháp lưu hành vào thời người viết, giúp người đọc thấy rõ học lý Tam Nguyên bị ngụy tạo thời ấy.
Sau Tam Nguyên là một hệ thống khác, tách ra từ chính quẻ tiên thiên: tám phương vị mà người đời quen gọi là Bát Trạch.
Tám phương vị của Nhất Hạnh sinh ra từ phép biến hào
Sách của Đường Nhất Hạnh nay không còn, nhưng lý thuyết của ông lưu truyền đến ngày nay chia làm tám phương vị: Sinh Khí, Thiên Y, Diên Niên, Họa Hại, Lục Sát, Ngũ Quỷ, Tuyệt Mệnh, Phục Vị, tức phái Bát Trạch phong thủy lưu hành hiện nay. Thẩm Trúc Nhưng nhận xét Nhất Hạnh rất thông Dịch lý, sự biến hóa của ông đủ giúp người nghiên cứu Dịch. Gốc của cách bài bố ấy như sau: lấy quẻ tiên thiên rồi đổi hào, mỗi tên ứng với một kiểu đổi.
| Phương vị | Cách biến hào | Các cặp quẻ gặp nhau |
|---|---|---|
| Sinh Khí | Đổi một hào trên cùng | Kiền với Đoài, Ly với Chấn, Tốn với Khảm, Cấn với Khôn; đều thuộc quẻ ngũ thế |
| Thiên Y | Đổi hai hào dưới | Kiền với Cấn, Đoài với Khôn, Ly với Tốn, Chấn với Khảm; đều thuộc quẻ nhị thế |
| Diên Niên | Đổi cả ba hào | Kiền với Khôn, Đoài với Cấn, Ly với Khảm, Chấn với Tốn; ở vị trí đối đãi, đều thuộc quẻ tam thế |
| Họa Hại | Đổi một hào dưới cùng | Kiền với Tốn, Đoài với Khảm, Ly với Cấn, Chấn với Khôn |
| Lục Sát | Đổi một hào trên và một hào dưới | Kiền với Khảm, Đoài với Tốn, Ly với Khôn, Chấn với Cấn; đều là quẻ du hồn |
| Ngũ Quỷ | Đổi hai hào trên | Kiền với Chấn, Đoài với Ly, Tốn với Khôn, Cấn với Khảm |
| Tuyệt Mệnh | Đổi một hào giữa | Kiền với Ly, Đoài với Chấn, Tốn với Cấn, Khảm với Khôn; đều là quẻ quy hồn |
| Phục Vị | Không đổi | Tám quẻ thuần giữ nguyên: Kiền vẫn là Kiền, Chấn vẫn là Chấn, Tốn vẫn là Tốn |
Ông giải thích thêm về hai loại đầu. Sinh Khí đều là quẻ ngũ thế; ngôi Ngũ là ngôi tôn quý nên lấy làm hạng mục Sinh Khí, và ông cho rằng câu "sinh tỷ tự nhiên" là sai. Thiên Y đều là quẻ nhị thế.
Tám điều trên là một loại thứ tự biến cực của quẻ tiên thiên, nhưng những người theo phái Bát Trạch đem dùng để đoán cát hung là sai. Bạch Hạc Minh nhận xét rằng đoạn này thuật về phái "Dịch quái phong thủy", tức phái Bát Trạch lưu hành hiện nay. Người học Bát Trạch khi bài bố trạch mệnh và du tinh phần lớn dùng ca quyết đại du niên; nếu biết phép biến hào như trên thì không cần nhớ bài ca quyết ấy mà vẫn bài được mệnh quái và trạch mệnh theo phái Bát Trạch.
Nguồn: Nguyễn Vũ Anh, Thẩm Thị Huyền Không Học – Phong Thủy Trong Bối Cảnh Kiến Trúc Hiện Đại.
