Bài tổng quan
Cuốn nào đáng đọc, cuốn nào đánh lạc người học Huyền Không
Ngày ấy người ta đến hỏi ông hết cuốn này đến cuốn khác: có đọc được không, có đúng bí quyết không. Ông trả lời ngắn gọn, đôi khi phũ phàng, và gom lại thành một tấm bản đồ của cả một nền thư tịch. Cuốn nào được ông khen là châu ngọc, và cuốn nào bị gọi là lời trẻ con?
Từ chuyến lên Trung Đài Sơn đến chỗ đổi đường học
Thẩm Trúc Nhưng kể rằng năm xưa ông học phái Tam Hợp. Trong một lần lên Trung Đài Sơn chọn đất, ông chợt khởi một mối nghi lớn. Về sau đọc "Bình sa ngọc xích biện ngụy" của họ Tưởng, ông mới biết thuyết Tam Hợp không có căn cứ, bèn bỏ mà theo Huyền Không. Khổ nỗi lúc ấy những người theo Huyền Không chỉ biết lờ mờ, nên chẳng hỏi han được ai. Không còn cách nào, ông gom sách vở của các nhà về, ngày đêm nghiền ngẫm, đến khi sáng được lý lẽ mới tin chắc rằng phép Huyền Không không sai. Nhưng ông dặn thêm: người học nếu trước hết không tinh thông học thuyết của phái Loan Đầu thì dù có đọc hết sách của phái Lý Khí cũng vô dụng.
Từ đó, mỗi người hỏi ông về một cuốn sách, ông đều trả lời bằng một nhận xét ngắn.
Trước hết là những bộ nền tảng, và những lời cảnh báo về cách đọc chúng.
Những bộ nền tảng và lời chú giải cần dè chừng
Hỏi: "Bình sa ngọc xích kinh" có hợp với lý Huyền Không không? Ông đáp rằng bộ này e không phải do họ Lưu viết, mà do bọn giang hồ ngụy tạo để kiếm ăn. Ông từng xem "Cổ kim thức giám" do Trung Triệt, con của Viên Liễu Trang, viết; sách bàn tướng pháp rất uyên thâm, khác xa các bản phường lưu hành mang tên "Viên Liễu Trang tướng pháp". Cũng như có năm sáu bản "Tăng công an thanh nang tự" khác nhau, tất cả đều do người sau sửa chữ; có lẽ bộ này cũng vậy.
Hỏi: viết về Huyền Không thì cuốn nào là trọng yếu? Đáp: "Huyền không bí chỉ" và "Thiên cơ phú" (còn gọi "Huyền cơ phú") đều đọc được. "Thiên cơ phú" do Ngô Cảnh Loan soạn; "Huyền không bí chỉ" có bản của Cảnh Loan, có bản ghi là của tăng Mục Giảng. Lại có "Linh thành tinh nghĩa lý khí chương" của Hà Lịnh Thông thời Nam Đường, và còn nhiều cuốn khác để tham khảo. Nhưng tóm lại, nếu không có người đích thân khẩu truyền thì rất khó nhập môn. Khi người ta hỏi cuốn nào đúng với bí quyết Huyền Không hơn giữa "Linh thành tinh nghĩa" và "Thiên cơ phú", ông đáp cả hai đều hữu dụng, bổ khuyết cho nhau.
Hỏi: trong các tác phẩm của Dương công bàn về lý khí, cuốn nào hay nhất? Đáp: "Thiên ngọc kinh" từng chữ đều là châu ngọc, tiếc bị họ Tưởng chú giải làm tăng thêm chướng ngại cho người đọc.
Hỏi: sở học của họ Tưởng thế nào? Đáp: bộ "Biện chính" của họ Tưởng quả thật uyên thâm, đáng tiếc ông hiểu sai câu "Thiên cơ bất khả tiết lậu", nên không chịu tiết lộ hết các yếu quyết, cũng không đem phương pháp vận dụng Huyền Không ra chỉ rõ cho người khác, khiến hậu nhân bày ra không biết bao nhiêu ngụy thuyết. Ông là đại công thần mà cũng là đại tội nhân của môn địa lý.
Hỏi: "Táng kinh" của Quách Phác, bản nào hay nhất? Đáp: bản do Ngô Trừng san định là hay nhất. Nhiều người nghĩ đó là do người sau ngụy tác, nhưng trong sách có rất nhiều điều uyên áo, không thể không đọc. Còn "Nguyên kinh" có ba bản, thông dụng nhất là bản trong bộ "Ngũ yếu kỳ thư", gần giống hai bản kia, toàn nói thuyết Tam Hợp, chữ nghĩa cạn cợt thô lậu, rõ ràng do bọn giang hồ mưu sinh ngụy tạo.
Hỏi: "Địa lý toàn thể đại dụng hợp biên" thế nào? Đáp: bộ này chia bốn quyển. Ba quyển đầu là "Địa lý toàn thể" của Lâm Sỹ Cung ở Hoài Viễn, chuyên viết về Loan Đầu, nghĩa lý không cao thâm mấy. Quyển bốn là "Địa lý đại dụng" của Ngô Di Khánh ở Dương Hồ, viết về lý lẽ bài bố tinh bàn rõ ràng, đơn giản mà thực dụng, có thể dùng chung với "Thiên tâm chính vận" của họ Hoa mà không sai lạc. Trong sách có nói về phép trấn áp, nhiều người không chấp nhận, lại hiểu lầm mà biện chính lại.
Có người cho rằng "Địa lý đại dụng" của Ngô Thiếu Uyển đọc được, tuy có nhiều chỗ trái lý khí, và xin chỉ ra chỗ trái. Ông đáp: đọc sách phải tinh tế, nhất là sách về âm dương ngũ hành, không thể đọc qua loa. Cuốn này có hàng trăm chỗ sai, võ đoán cũng nhiều. Về lý luận ông chưa bàn, chỉ liếc qua các hình đồ và vận bàn trong sách thì ngoại trừ vận 5, còn lại đều bố trí ở Mậu Kỷ, không chỗ nào không sai. Lại còn bày ra ngụy thuyết "bán âm bán dương" để che đậy, cách bài phi tinh Ngũ nhập trung cung đều sai. Chỉ có các hình Tý Ngọ Quý Đinh, Bính Nhâm kiêm Tý Ngọ của vận 1 (phi tinh không sai nhưng không biết dùng thế quái), Mão Dậu kiêm Ất Tân của vận 3, Tân Ất kiêm Dậu Mão của vận 7, Tý Ngọ kiêm Đinh Quý của vận 9 là không sai, nhưng cũng chỉ là ngẫu nhiên. Về ứng dụng thế quái, họ Ngô không giải thích một lời, quả thật không biết gì.
Hỏi: "Địa lý trị bần kim tỏa bí" thì sao? Đáp: do Đặng Cung ở Nam Khang tuyển, tên tự Mộng Cầm, hiệu Mộng Giác, chia hai quyển thượng hạ. Quyển thượng nói Dịch lý, chữ nào cũng là châu ngọc; quyển hạ nói huyệt pháp, thêm nhiều xuyên tạc, trái với phái Lý Khí. Ông còn viết hai quyển "Bí chỉ đồ thuyết" nhưng chưa khắc in. Thẩm Trúc Nhưng từng tới Nam Khang hỏi thăm nơi ở cũ của ông tại thôn Nam Lương để đọc bộ này, nhưng thấy chẳng cao thâm. Biểu đệ của ông là Lư Hồng có viết "Mộng Giác tiểu truyện", kể ông học đạo ngoài cõi với sư Viên Giác Sơn Nhân, được thầy khẩu truyền "Ngọc hàm chẩm bí". Thẩm Trúc Nhưng nhận xét "Ngọc hàm chẩm bí" của Hỏa Đạn Tử bên trong chẳng bàn gì về huyền lý, lại còn nói phương pháp dùng phải giữ bí mật. Học đạo ngoài cõi rồi được dị nhân truyền thụ, theo ông chẳng qua chỉ là chuyện của lớp thuật sĩ giang hồ nói suông, đủ sức gạt người kiếm tiền nhưng chẳng đủ ngạo đời, và việc ấy trăm chuyện như một, ngay cả họ Tưởng cũng không tránh. Cuốn ấy còn phụ khắc thơ văn tự soạn, thi cách tầm thường; Phạm Nghi Tân cho rằng lời bàn của ông không đáng đọc, cũng không phải nói quá.
Từ những bộ nền tảng, câu chuyện chuyển sang các phái và các nhà đã đưa Huyền Không đến thời nay.
Sáu phái lớn và những chỗ sai của từng nhà
Thẩm Trúc Nhưng cho biết gần đây Huyền Không chia thành sáu phái lớn, mỗi phái lấy một người làm tông chỉ: phái Điền Nam lấy Phạm Nghi Tân; phái Vô Thường lấy Chương Trọng Sơn; phái Tô Châu lấy Chu Tiểu Hạc; phái Thượng Ngu lấy Từ Địch Huệ; phái Tương Sở lấy Y Hữu Bản; phái Quảng Đông lấy Sái Mân Sơn. Trong sáu phái không có ai quán thông toàn bộ vấn đề, sách của họ đều có chỗ sai. Vì giữ bí mật nghiêm ngặt, không chịu tiết lộ ra ngoài, những chỗ sai không ai sửa được, cứ thế truyền từ đời này sang đời khác.
Ở Thượng Ngu có nhiều chi phái; phổ biến nhất là chi phái của họ Đoan Mộc, người cực kỳ thông minh, đã sửa một số điều trong "Địa lý nguyên văn", chẳng hạn các câu nói về bốn nhóm Khôn Nhâm Ất, Cấn Bính Tân, Tốn Canh Quý, Kiền Giáp Đinh trong "Áo ngữ khai thiên". Chi phái của Trương Tâm Ngôn thì rất ít người theo, vì người Thượng Ngu phần lớn không biết Dịch lý; khi họ Trương giảng về quẻ, họ chẳng hiểu, đều tránh xa. Có người hỏi vì sao cả họ Đoan Mộc và họ Trương đều nói về quái lý mà người Thượng Ngu lại chuộng Đoan Mộc. Ông đáp: họ Trương nói quái lý lời lẽ đối nhau sắc bén, người nghe không thể gượng bàn suông được; còn Đoan Mộc nói quái lý tuy khẳng định nhưng bóng gió mơ hồ, người đọc có thể dùng để bàn viển vông.
Về các hình đồ quẻ trong "Biện chính" của Trương Tâm Ngôn mà người ta không hiểu ý, ông giải: các hình đồ ấy xuất phát từ nhà họ Ngô nhưng thiếu phần thuyết minh quái lý. Ba hình đầu là của Thiệu Khang Tiết, hình thứ tư thêm hai mươi bốn sơn. Tám quẻ ở vận 1 là Nhất của Nhất, tức quẻ bản cung thượng thế. Tám quẻ ở vận 2 là Nhị của Nhất, tức quẻ tứ thế. Ở vận 3 là Tam của Nhất, tức quẻ du hồn tứ thế. Ở vận 4 là Tứ của Nhất, tức quẻ nhị thế. Ở vận 6 là Lục của Nhất, tức quẻ ngũ thế. Ở vận 7 là Thất của Nhất, tức quẻ tam thế quy hồn. Ở vận 8 là Bát của Nhất, tức quẻ nhất thế. Ở vận 9 là Cửu của Nhất, tức quẻ tam thế. Hai hình Giáp Quý Thân là quẻ ngũ thế biến thành nhị thế; hai hình Khôn Nhâm Ất là quẻ tứ thế biến thành nhất thế; hai hình Tốn Thìn Hợi là quẻ ngũ thế biến thành nhị thế; hai hình Cấn Bính Tân là quẻ tứ thế du hồn biến thành tam thế quy hồn. Mỗi cung trong tám cung có một quẻ không có hình đối nghịch, đó là quẻ bản cung thượng thế biến thành quẻ tứ thế du hồn, tam thế quy hồn; bảy hình còn lại suy theo.
Các thuyết của những người đời gần như Tông Hoa Đình, Trương Thụ Kỳ và Tú Thủy Vu đều có nhiều chỗ sai. Huyền Không thịnh hành vào thời Càn Long, Gia Khánh đều từ "Địa lý mạt học" của Kỷ Đại Khuê mà ra; tuy nhiều người theo nhưng môn Huyền Không chân truyền thì tuyệt tích. Các địa sư ngày nay không phạm sai lầm xuất quái thì cũng phạm sai lầm âm dương khác biệt, muốn hơn người đời sao được.
Hỏi: Trương Thụ Kỳ trước tác gì, học thuyết ra sao? Đáp: Trương Thức Chi, tức Trương Thụ Kỳ, người đời Càn Long, soạn "Cổ thư chính nghĩa", nhặt ghi từ "Thanh nang kinh", "Tam tự thanh nang kinh", "Thanh ô kinh", "Cô thủ kinh", "Quản tử chỉ mông", "Táng kinh", "Tầm long trác mạch phú", trong sách có dẫn chú của họ Tưởng, đáng tiếc là không có bí quyết bài bố các sao lần lượt. Ông còn viết "Thanh nang chính nghĩa" (tức "Thanh nang áo ngữ" và lời tự tăng bổ), "Thiên ngọc kinh chính nghĩa" (cuối có phụ "Thiên ngọc ngoại biên"), "Bảo chiếu kinh chính nghĩa", "Biến địa kiểm chính nghĩa". Chú giải của ông đều trái quái lý, bề ngoài có vẻ uyên bác nhưng bên trong chứa nhiều sai lầm, sai nhất là "Thiên ngọc kinh ngoại biên".
Hỏi: Vu Giai Hốt theo thuyết họ Tưởng, sao lại bài sai các sao? Đáp: họ Tưởng xứng là tông sư nhưng đặc biệt không nói cách bài bố lần lượt các sao. Họ Vu không học được bí quyết nên tưởng tượng rồi suy đoán quàng xiên. Vu Đoan Sỹ, tức Vu Giai Hốt, gom sách viết thành "Địa lý lục yếu", chỉ có "Quy hậu thiên" đáng đọc; ông còn thu thập các thiên về lý tinh bàn của Phạm Nghi Tân nhưng không nhận ra chỗ sai của họ Phạm. Toàn bộ chỉ viết về Loan Đầu, chẳng có nghĩa lý cao thâm.
Hỏi: Phạm Nghi Tân sai ở đâu? Đáp: "Càn khôn pháp khiếu nhất tâm yếu" của họ Phạm là điều người trước không chịu tiết lộ, chỉ có ông nói ra rõ ràng, không ai bì kịp. Đáng tiếc ông không biết bí quyết bài bố các sao lần lượt; chỗ sai của ông là khởi phụ mẫu ở cách bốn vị trí, lại lầm khởi song song với âm xuất mạch, dương xuất mạch, nên các tinh bàn đầy lỗi.
Hỏi: sở học của Y Hữu Bản thế nào? Đáp: họ Y sở trường về Loan Đầu, có soạn "Tứ bí toàn thư", tự cho mình thông minh nhưng sở học không đủ để dạy người, bày ra cách bài tinh bàn không đúng. Ông còn chú "Đô thiên bảo chiếu kinh", bổ túc bốn mươi tám cuộc, nhưng cách điểm huyệt lập hướng đều sai.
Còn một nhóm cuốn nữa, nhỏ hơn nhưng có người hỏi tới vì đã gặp tên chúng ở nhiều nơi.
Những cuốn nhỏ hơn và các cái tên người thời xưa
Hỏi: "Địa lý nguyên văn" có dẫn "Tâm ấn" của Khâu công, vậy Khâu công là người thời nào, "Tâm ấn" có bản duy nhất không? Đáp: Khâu công tên Diên Hàn, người Cám Châu đời Đường. Bản sao "Tâm ấn" ở Thượng Ngu rất nhiều nhưng e không phải nguyên bản. Khâu Diên Hàn còn soạn "Hải giác kinh" nhưng không bàn tổng quát về ngũ vận lục khí; phần viết về phân kim thì đáng đọc.
Hỏi: người hỏi từng đọc đi đọc lại "Long đáo đầu khẩu quyết", nhờ vậy sở học tiến thêm một tầng, thiên này do ai soạn? Đáp: không biết tên người soạn, nhưng trong "Đồ thư phát vi" của Ngô Kính Tuyền lại nói do Vô Cực Tử soạn.
Hỏi: phép "thôi quan" có người nói Mục Giảng truyền cho Tư Mã Đầu Đà, Đầu Đà truyền lại cho Lãnh Khiêm, có đúng không? Đáp: đó là lời của Y Nhất Thược. Nhưng Đầu Đà là người cuối đời Đường; Mục Giảng tên Trương Định Biên, vốn là bộ tướng của Trần Hữu Lượng; Lãnh Khiêm là người đầu đời Minh. Thời đại đảo lộn như vậy làm sao tin được. Tưởng Đại Hồng khi lấy mộ họ Phạm ở Tô Châu và mộ họ Lư ở Nghi Hưng để chú giải "Bảo chiếu kinh" của họ Ôn đã dẫn lời này, thật đáng nực cười. Còn các câu vấn đáp giữa tăng Lư Đạt và Tư Mã Đầu Đà thì chẳng phải lý thuyết Lý Khí cũng chẳng phải lý thuyết Loan Đầu, đúng là lời trẻ con.
Hỏi: "Địa lý tinh nghĩa" có hợp bí quyết Huyền Không không? Đáp: do Đỗ Thuyên người Sơn Âm soạn, tự Minh Xuyên. Ông lấy thuyết Tam Hợp để giải thích Huyền Không, chú các cuốn "Thanh nang", "Thiên ngọc", "Cám long", "Nghi long". Ông là người nổi bật trong phái Tam Hợp nhưng sách của ông không thể dùng để dạy người.
Hỏi: "La kinh thấu giải" thế nào? Đáp: do một mình Vương Đạo Đình soạn, người này không biết thuyết Tam Hợp mà cũng không biết thuyết Tam Nguyên; lấy môn bốc phệ để giải la kinh là sai lầm.
Hỏi: "Ôn thị biện chính chú" thì sao? Đáp: họ Ôn chú hay hơn họ Chương nhưng cũng không tiết lộ các bí quyết. Về sau Chu Thuần viết "Địa lý biện chính bổ" nhưng chìm trong sai lầm của Tam Hợp, đầu óc không sáng suốt, nên thuyết của ông có vẻ đúng mà thực ra sai. Người gần đây là Ngô Kính Tuyền viết "Đồ thư phát vi", chép và giải thêm khá nhiều chú giải của họ Ôn, nhưng cũng không viết rõ cách bài các sao lần lượt.
Hỏi: "Địa lý nguyên bản thuyết" thế nào? Đáp: do Tào Ân Phong soạn, bốn quyển, có kiến giải riêng; quyển ba luận về Lý Khí nhưng vì không được thầy truyền thụ nên không có lời nào đúng. Hỏi: "Chu dịch cứu" có thật quan trọng cho bí quyết Huyền Không như người ta nói không? Đáp: do Từ Mỗ ở Gia Thiện soạn, quyển cuối phụ hình các ngôi mộ nổi tiếng để chứng minh Dịch lý trong thuyết Huyền Không, nhưng thật ra không làm sáng thêm điều gì.
Hỏi: "Hà lạc tinh uẩn" của Giang Thận Tu có hợp lý luận địa lý không? Đáp: đó là bàn cụ thể về Hà Lạc, có thể coi là một công trình khảo chứng khá hay về nguồn gốc Hà Lạc; đọc có thể ngộ nhiều điều về thuật số, giúp ích cho người học Dịch không ít. Chỉ có điều khi luận về địa lý, ông chìm trong những sai lầm của "Địa lý đại thành" của Diệp Cửu Thăng, nên không dùng dạy người được.
Hỏi: "Thọ vọng tam ngưỡng quan tập" thế nào? Đáp: họ Thọ tên Thiệu Hải, người Sơn Âm. "Ngưỡng quan tập" của ông dùng cho việc chọn nhà, liên quan mật thiết tới thuyết thiên tượng của Chu Tiểu Hạc, nói về cách bài sao lần lượt cũng đúng. Ông còn soạn "Quan sát kim châm", ông tìm đã nhiều năm mà chưa được, thật đáng tiếc.
Hỏi: "Trạch đoán" có nhắc Tiền Kinh Sơn, người này là ai? Đáp: là đệ tử của Chương Trọng Sơn, có hiệu chính cuốn "Tầm nhãn chỉ yếu". Hỏi: "Thẩm Lục Phố địa học" nói về tính tình sơn thủy có nhiều điều thú vị, ngoài cuốn này còn gì khác? Đáp: cuốn "Địa học" ấy không bằng "Sơn dương chỉ thuật" của Chu Cảnh Nhất, chỉ là khoác lác gạt người; ngoài ra Thẩm Lục Phố còn viết "Tuyển trạch".
Người hỏi đọc "Sơn dương chỉ thuật" thấy lý lẽ rõ ràng, không như "Địa học"; nghe nói Chu Cảnh Nhất từng điểm huyệt táng cho Ngô Chu Sơn, nhưng "Địa lý thám nguyên" lại nói Mục Giảng điểm huyệt táng cho Chu Sơn, vậy Chu Cảnh Nhất và Mục Giảng là một hay hai người? Đáp: không phải một người. Chu Cảnh Nhất là bộ thuộc của Trương Sỹ Thành, sau khi họ Ngô mất ông cũng mất ở Thiệu Hưng; còn Mục Giảng tức Trương Định Biên, bộ tướng của Trần Hữu Lượng, vốn là con của họ Trữ ở Nghi Hưng.
Hỏi: "Âm dương nhị trạch toàn thư" thế nào? Đáp: do Diêu Diên Loan ở Hoa Đình soạn, trong sách có "Tử Bạch đoán", tức "Tử Bạch phú". Phần luận cát hung theo phi tinh Tử Bạch của ông dùng được, còn lại vẫn không thoát khỏi những sai lầm của phái Tam Hợp.
Cuối cùng là chuyện một người thầy xem địa lý, đã đến gặp ông với một loại bàn thức riêng.
Một bàn thức lạ và lời tổng kết về những chồng thư tịch
Có người hỏi: tiên sinh Chu Hải Lương ở Dư Diêu làm nghề xem địa lý, ngoài bàn tinh thông dụng ông còn có một loại bàn thức riêng. Chẳng hạn quẻ Nhâm Tý Quý, chữ Nhâm là Nhị Tam Tứ Ngũ Lục Thất Bát Cửu Nhất, còn hai chữ Tý Quý ở dưới là Cửu Nhất Nhị Tam Tứ Ngũ Lục Thất Bát, không biết là sao? Thẩm Trúc Nhưng đáp: trước kia ông tới Dư Diêu, gặp tiên sinh ở nhà Hoàng Trưng Quân. Tiên sinh từng mang bàn thức ấy ra bàn luận; về âm dương thuận nghịch và cách bài các sao từ Nhất đến Cửu đều sai. Thấy tiên sinh tuổi đã cao, ông kính cẩn nói cho biết bàn thức này không phải bàn thức đích thực của phái Huyền Không.
Tiên sinh học thức uyên bác, suy nghĩ sâu, đáng tiếc không được bí quyết Huyền Không. Ông có soạn "Địa lý nhân hiếu tất độc"; trong lời tựa kể khi lên ngọn Lô Phong ở Vũ Lăng, tình cờ gặp một đạo nhân truyền thuật Huyền Không. Thẩm Trúc Nhưng đọc thấy trong đó dẫn nhiều sách cổ, phần luận giải tốn công thì ông bỏ không đọc; phần chú về thu sơn xuất sát trong "Thiên ngọc kinh" cũng chỉ đọc lướt; phần chú "Linh thành tinh nghĩa" thì thật không hiểu nổi. Vốn dĩ sách của tiên sinh xem bản chú bổ "Thiên ngọc kinh" của Lăng Liễu Phố và bản "Địa lý nguyên văn" của Đoan Mộc Quốc Hô là chí bảo. Sau khi nghe ông nói chỗ sai của hai cuốn ấy, tiên sinh liền cương quyết vứt bỏ, cũng là người dũng cảm cầu tiến. Đáng tiếc vì không rõ phép bài sao nên ngụp lặn trong cái độc hại của Chu Tiểu Hạc, nhưng ông không dám nói thẳng điều lầm ấy. Năm Bính Tý, ông ở núi Phúc Kỳ, tiên sinh ghé thăm và đưa bản "Nhân hiếu tất độc" nhờ viết lời tựa, ông cố từ chối, nay sách đã lưu truyền ngoài đời. Dù sao ông cũng công nhận tiên sinh xem hình sơn, tức Loan Đầu, nhãn lực rất thâm hậu.
Ông đưa ra một nhận xét về những người tinh Dịch: Hồ Hú, Giang Thận Tu, Trương Huệ Ngôn, Kỷ Đại Khuê, Đoan Mộc Quốc Hô đều là bậc tinh thông Dịch học. Họ Hồ và họ Giang tuy không soạn sách chuyên về địa lý, nhưng những chỗ hai ông dẫn chú về địa lý thì thấp đến không nói nổi; còn họ Trương, họ Kỷ và họ Đoan Mộc đều có trước tác về địa lý nhưng không câu nào đọc được. Về sở học phương kỷ, quả thật không có cuốn nào đủ để tham khảo toàn diện. Nếu không nắm bí quyết, suốt ngày chúi mũi vào núi sách để tìm thì rất dễ lầm đường. Nhất là một khi đọc sách của Tưởng Đại Hồng, càng thông minh chừng nào lại càng thấy bế tắc chừng ấy, và khi đã đi vào lõi rễ thì vô phương cứu chữa.
Bạch Hạc Minh nhận xét: phần này phân biệt rất nhiều tông phái Lý Khí khác nhau và cũng phân tích khá nhiều thư tịch phong thủy, rất có giá trị tham khảo.
Nguồn: Nguyễn Vũ Anh, Thẩm Thị Huyền Không Học – Phong Thủy Trong Bối Cảnh Kiến Trúc Hiện Đại.
