Chuyển đến nội dung chính
Quay lại Đạo Gia

Bài tổng quan

Huyền Không là gì, Thiên Tâm ở đâu, âm dương hai mươi bốn sơn

Đạo Học - Đạo Gia07/10/202614 phút đọc1 lượt đọc
Huyền Không là gì, Thiên Tâm ở đâu, âm dương hai mươi bốn sơn

Có người hỏi: “Huyền Không” là gì? Câu đáp không mở đầu bằng con số hay phương vị, mà bằng một chữ “Một” và một chữ “Không” lại chứa đủ mọi thứ. Từ đó mở ra điểm giữa của chín cung, nơi người xưa gọi là Thiên Tâm…


Huyền Không là gì?

Có người hỏi: “Huyền Không” là gì? Hai chữ này đã lưu truyền từ rất lâu, các nhà trong trăm họ chư tử giải thích về chúng cũng khá nhiều, nhưng đều chưa thỏa đáng. Sách “Pháp Ngôn” của Dương Hùng có viết: “Huyền giả nhất dã”, nghĩa là Huyền là Một; lời giải thích ấy khá rõ ràng. Nhưng đến chữ “Không” thì rất khó giải. Bởi “Không” không có nghĩa là chân không, trống rỗng hoàn toàn; trong cái “Không” lại bao hàm cái “Có”.

Các học giả Thiên Trúc xưa từng luận giải như sau:

Sắc bất dị không, không bất dị sắc, sắc tức thị không, không tức thị sắc, thụ tưởng hành thức, diệc phục như thị.

Tạm dịch: vật thể không khác với “không”, “không” không khác với vật thể; vật thể tức là “không”, “không” tức là vật thể; những điều con người cảm thụ và suy nghĩ được cũng như vậy. Nghĩa là “Không” không thể không bao hàm ngũ uẩn, mà đã bao hàm ngũ uẩn thì “Không” tức là có vật. Điều này thánh nhân Tây Trúc và thánh nhân Trung Hoa có quan niệm giống nhau.

Như vậy “Không” bao hàm cả “khiếu”. Khiếu nghĩa đen là cái lỗ, ở đây hiểu là mấu chốt của sự việc. Khiếu có chín cái nên gọi là “cửu khiếu”; nói cách khác hai chữ “Huyền Không” bao hàm từ một tới chín. Nhưng đó không đơn thuần là số đếm, mà còn là mấu chốt để định vị không gian và thời gian chứa đựng sự vật, nên người ta mới dùng hai chữ “Huyền Không” làm đại biểu.

Bạch Hạc Minh giải thích thêm: “Huyền Không” là chỉ sự biến hóa thay đổi của sự vật được biểu thị bằng các con số từ một tới chín. Huyền Không học là môn phong thủy dựa trên các con số từ một tới chín, tức là phương vị của bát quái (tám quẻ) cộng thêm “trung cung”, cung ở giữa, vị trí trung tâm.

Thiên Tâm: điểm giữa của chín cung

Mọi vòng quay đều cần một chiếc trục, và chiếc trục của chín cung có một cái tên rất xa xưa.

Trung tâm của chín cung gọi là “Thiên Tâm”. Hai chữ này có cội nguồn rất xa. Các sách xưa chép rằng Phục Hy mô phỏng tám phương hướng để tạo ra tám quẻ, về sau Hoàng Đế nghĩ ra chín khiếu để định chín cung. Chữ “khiếu” ấy bao hàm ý nghĩa của chữ “tâm”, cũng tức là bao hàm ý nghĩa của chữ “huyền”.

Người đời Đường có câu: “Dịch kiến Thiên Tâm”, nghĩa là học Dịch thì thấy được Thiên Tâm. Thực ra Thiên Tâm tức là nhật nguyệt; theo nghĩa của Dịch học là nói một Âm một Dương. Người đời sau lấy hai can Mậu, Kỷ làm đại diện; nay có người đổi “Thiên Tâm” thành “Thiên Tình” là lầm vậy. Thánh nhân lấy mặt trời, mặt trăng để tượng trưng cho sự biến hóa thay đổi. “Dịch truyện” viết:

Kiền Khôn thành liệt, Dịch lập hồ kỳ trung hỹ.

Nghĩa là khi Kiền Khôn đã thành hàng lối thì đạo Dịch được lập ra ở giữa chúng. Chữ “trung” (ở giữa) trong câu này chính là chữ “Tâm” trong hai chữ “Thiên Tâm”. Lão Tử gọi chữ “tâm” này là “Huyền tẫn chi môn”, đó là căn cơ của trời đất. Vân Phòng thì nói chữ “tâm” này là “cửa sinh nẻo tử”. Lão Tử còn viết: “Huyền chi hựu huyền, chúng diệu chi môn”, ý là sự khởi đầu của huyền học thật ra rất giản dị. “Tâm”, “khiếu” hay “huyền” thật ra chỉ là cùng một pháp môn.

Bạch Hạc Minh giải thích: Thiên Tâm tức là trung cung. Vận 1 thì sao Nhất nhập trung cung, tức Thiên Tâm là Nhất; vận 2 thì sao Nhị nhập trung cung, Thiên Tâm chính là Nhị; vận 3 thì Tam nhập trung cung, Thiên Tâm là Tam; sáu vận còn lại cứ theo đó mà suy. Thiên Tâm chính là điểm trung tâm của không gian một sự vật.

La kinh chứa những gì: chín sao, hai mươi bốn sơn, hai mươi tám tú

Một chiếc la bàn có nhiều vòng chữ, và mỗi vòng là một lớp thời gian hoặc không gian xếp chồng lên nhau.

Có người hỏi: chín sao, hai mươi bốn sơn và nhị thập bát tú trong la kinh rốt cuộc là gì? Câu đáp dựa trên hai tư liệu. Một học hữu ở Tín Châu, Giang Tây có tấm thạch bản “Lục Kinh Đồ”, trong đó đồ “Ngưỡng quan thiên văn” được chú giải như sau: Phục Hy ngẩng nhìn thiên văn mà vẽ ra bát quái; vì vậy phàm những gì thuộc về thiên văn như vòng vận hành của mặt trời, mặt trăng, tinh tú, ngày tháng, bốn mùa, không gì mà bát quái không thu tóm. Theo hình đồ ấy là các sao: Tham, Cự, Lộc, Văn, Liêm, Vũ, Phá, Phù, Bật. Còn hai mươi tám tú gồm Đẩu, Ngưu, Nữ, Hư, Nguy, Thất, Bích, Khuê, Lâu, Vị, Mão, Tất, Chủy, Sâm, Tỉnh, Quỷ, Liễu, Tinh, Trương, Dực, Chẩn, Giác, Cang, Đê, Phòng, Tâm, Vĩ, Cơ, vốn lấy ngày Đông chí làm khởi đầu mà bay vòng quanh mặt trời.

Còn sách “Phủ Sát Địa Lý” chú rằng: cúi xuống xem xét địa lý mà vạch ra tám quẻ, nên phàm những gì thuộc lý lẽ của đất như bốn phương chín châu, cầm thú thảo mộc, mười hai chi sở thuộc, không gì mà bát quái không cai quản. Chiếu theo hình đồ thì bốn phương phân bố như sau: quẻ Ly là phương nam, quẻ Khảm là phương bắc, quẻ Đoài là phương tây, quẻ Chấn là phương đông. Rồi chia chi tiết ra thành hai mươi bốn sơn:

  • Phương bắc (Khảm): Nhâm, Tý, Quý.
  • Đông bắc: Sửu, Cấn, Dần.
  • Phương đông (Chấn): Giáp, Mão, Ất.
  • Đông nam: Thìn, Tốn, Tỵ.
  • Phương nam (Ly): Bính, Ngọ, Đinh.
  • Tây nam: Mùi, Khôn, Thân.
  • Phương tây (Đoài): Canh, Dậu, Tân.
  • Tây bắc: Tuất, Kiền, Hợi.

Cả hai hình đồ này đều dùng hậu thiên bát quái.

Vì sao Kiền Tốn Cấn Khôn đều thuộc dương

Có một câu hỏi từng làm nhiều người lúng túng: số của các quẻ nói một đằng, màu đỏ đen trên la bàn nói một nẻo.

Tăng Liêm Tuyền hỏi: tôi ở Hàng Châu thọ giáo tiên sinh mấy tháng mới biết thuyết Tam Hợp sai lầm ở cách bài bố quái khí can chi xuất phát từ bản khắc trên đá ở Tín Châu. Nay đọc “Lục Kinh Đồ” thì hết thắc mắc; chỉ còn điều này: trong hình đồ của họ Tưởng, các chữ đỏ chỉ dương, đen chỉ âm xen kẽ nhau thấy chẳng hợp lý chút nào. Chẳng hạn bốn quẻ Kiền, Tốn, Cấn, Khôn: theo số quẻ tiên thiên thì Kiền là 1, Tốn là 5, Cấn là 7, Khôn là 8, như vậy chỉ Kiền, Tốn, Cấn mới là dương, còn Khôn rõ ràng là âm. Theo số hậu thiên thì Kiền là 6, Tốn là 4, Cấn là 8, Khôn là 2; luận về số thì quẻ nào cũng là âm, nhưng theo họ Tưởng bốn quẻ này lại đều là dương. Đó là một đại nghi vấn. Còn các chữ địa chi thì không định âm dương xen kẽ, chữ vốn âm lại thành dương, chữ vốn dương lại thành âm, các sách đều không giải thích. Gần đây những người theo phái Tam Hợp đều làm theo như thế; rốt cuộc lẽ này căn cứ vào đâu?

Câu đáp: hỏi rất hay! Cái lý này cho đến ngày nay chưa ai khám phá. Người đáp từng viết về thuyết ấy và nhận ra rằng nếu không thông hiểu Dịch lý thì không thể thấu đạo lý của nó. Nay tạm nói sơ qua Dịch lý để diễn giải: phàm thể của “bàn” (hình đồ bày bố các sao vào các phương vị) thì dùng Hà Đồ; còn dụng của các vận thì dùng Lạc Thư; lấy quẻ thế để bày bố lần lượt các sao. Trước hết xin nói về thiên can:

  • Thiên Nhất sinh Nhâm thủy, địa Lục thành Quý: Nhâm là dương (vì là số thiên sinh), Quý là âm (vì là số địa thành); nên Nhất và Lục cùng họ ở phương bắc.
  • Địa Nhị sinh Đinh hỏa, thiên Thất thành Bính: Bính là dương, Đinh là âm; nên Nhị và Thất là đồng đạo ở phương nam.
  • Thiên Tam sinh Giáp mộc, địa Bát thành Ất: Giáp là dương, Ất là âm; nên Tam và Bát là bạn bè ở phương đông.
  • Địa Tứ sinh Tân kim, thiên Cửu thành Canh: Canh là dương, Tân là âm; nên Tứ và Cửu là bằng hữu ở phương tây.
  • Thiên Ngũ sinh Mậu thổ, địa Thập thành Kỷ: Mậu là dương, Kỷ là âm; nên Ngũ và Thập là đồng đạo ở trung ương.

Đó là cách âm dương xen kẽ, không chút sai trái. Nếu không hiểu lý lẽ này thì chẳng qua chỉ bàn ngoài da mà thôi.

Còn bốn quẻ Kiền, Tốn, Cấn, Khôn mà họ Tưởng đều cho là dương, là vì liên quan đến đại dụng của Hà Đồ và Lạc Thư. Nhóm quẻ Kiền gồm Kiền 6 và Khảm 1, cộng lại là 7, số lẻ nên Kiền thuộc dương. Nhóm quẻ Khôn gồm Khôn 2 và Đoài 7, cộng lại là 9, số lẻ nên Khôn thuộc dương. Nhóm quẻ Cấn gồm Cấn 8 và Chấn 3, cộng lại là 11, số lẻ nên Cấn thuộc dương. Nhóm quẻ Tốn gồm Tốn 4 và Ly 9, cộng lại là 13, số lẻ nên Tốn thuộc dương. Bốn quẻ này thuộc dương, lẽ ấy đã quá rõ.

Địa chi tàng trong thiên can: gốc của âm dương hai mươi bốn sơn

Muốn biết một chữ địa chi thuộc âm hay dương, hãy nhìn xem những thiên can nào đang ẩn trong nó.

Bây giờ nói về âm dương của địa chi. Có người cho rằng địa chi cũng có âm dương xen kẽ, chẳng hạn bốn chính Tý, Ngọ, Mão, Dậu là dương; bốn ngung Dần, Thân, Tỵ, Hợi, Thìn, Tuất, Sửu, Mùi là âm. Thực ra không phải vậy, đó là người đời lầm lẫn. Những nhà nghiên cứu mệnh lý cũng biết lý lẽ địa chi tàng chứa trong thiên can, thế mà khi giảng lý lẽ âm dương của tinh bàn lại giảng như vậy, thật đáng trách. Trước kia người đáp từng làm bảng “sinh thành hợp thập trong hai mươi bốn sơn” để thuyết minh cách bài bố lần lượt các sao, nhưng rốt cuộc người ta cũng không hiểu; nay lấy lý lẽ địa chi tàng trong thiên can để giải thích cho rõ.

  • Bốn chính Tý, Ngọ, Mão, Dậu: Tý tàng chứa Quý, Ngọ tàng chứa Đinh, Mão tàng chứa Ất, Dậu tàng chứa Tân. Bốn thiên can này đều là âm, đối đãi nhau mà thành hợp thập.
  • Nhóm Dần, Thân, Tỵ, Hợi: Dần tàng chứa Giáp, Bính, Mậu; Thân tàng chứa Canh, Nhâm, Mậu; Tỵ tàng chứa Bính, Canh, Mậu; Hợi tàng chứa Nhâm, Giáp, Mậu. Chữ nào cũng là dương, không chữ nào không hợp thập.
  • Nhóm Thìn, Tuất, Sửu, Mùi: Thìn tàng chứa Ất, Mậu, Quý; Tuất tàng chứa Tân, Đinh, Mậu; Sửu tàng chứa Quý, Tân, Kỷ; Mùi tàng chứa Đinh, Kỷ, Ất.

Nếu lấy chi mà luận thì Thìn, Tuất vốn là thổ dương, tỷ hòa với Mậu; Sửu, Mùi vốn là thổ âm, tỷ hòa với Kỷ. Nhưng vì chúng bị chia ra hai nhóm Ất Quý Tân Đinh và Quý Tân Đinh Ất nên trở thành vô lực mà nạp vào nhóm thuộc âm, để hưởng trọn sự huyền diệu của việc trời đất hóa dục. Đại dụng của Dịch lý thật quá hay!

Hồ Bá An nói: tiên sinh khổ tâm nhọc sức nói ra những lời giản dị này, thật ra nghĩa lý và kiến thức vượt trên các nhà nho học Dịch đời Hán, đời Tống, đúng là đệ nhất thiên hạ.

Lời giải thích của Tổ Miên

Tổ Miên giải thích thêm về bốn chữ Dần, Thân, Tỵ, Hợi: Dần thuận với Giáp, cách tám chữ thì tới Bính; Dần tàng chứa Giáp, Bính, mà Giáp, Bính là dương nên Dần là dương. Thân thuận với Canh, cách tám chữ thì tới Nhâm; Thân tàng chứa Canh, Nhâm đều dương nên Thân là dương. Tỵ thuận với Bính, cách tám chữ thì tới Canh; Tỵ tàng chứa Bính, Canh đều dương nên Tỵ là dương. Hợi thuận với Nhâm, cách tám chữ thì tới Giáp; Hợi tàng chứa Nhâm, Giáp đều dương nên Hợi là dương.

Với bốn chữ Thìn, Tuất, Sửu, Mùi thì ngược lại: Thìn nghịch với Ất, cách tám chữ thì tới Quý; Thìn tàng chứa Ất, Quý mà Ất, Quý là âm nên Thìn là âm. Tuất nghịch với Tân, cách tám chữ thì tới Đinh; Tuất tàng chứa Tân, Đinh là âm nên Tuất là âm. Sửu nghịch với Quý, cách tám chữ thì tới Tân; Sửu tàng chứa Quý, Tân là âm nên Sửu là âm. Mùi nghịch với Đinh, cách tám chữ thì tới Ất; Mùi tàng chứa Đinh, Ất là âm nên Mùi là âm.

Suy diễn tám chữ Dần, Thân, Tỵ, Hợi, Thìn, Tuất, Sửu, Mùi, các nhà nghiên cứu tinh mệnh đưa chúng vào Mậu, Kỷ; nhưng trong la kinh lại không định vị trí Mậu, Kỷ, mà cho đó là cửa trời nẻo đất của sinh tử. Các thư tịch đều coi tám chữ này là sự lưu thông của Mậu Kỷ mà thôi.

Độ số các vì sao có dùng được cho địa lý không

Bầu trời có vô số ngôi sao, vậy ngôi sao nào soi vào ngọn núi nào, hướng nhà nào?

Có người hỏi: trong la kinh ghi độ số của tinh tú, rốt cuộc có ứng dụng vào việc gì không? Câu đáp: thuyết thần sát đã có từ thời Tam Đại nhưng không phức tạp như ngày nay. Cần biết thiên văn là thiên văn, địa lý là địa lý, hai thứ không trộn lẫn được. Có người nói các sách như Dịch kinh, Xuân Thu truyện của các quan đời Chu đều không nói về thuyết này, chỉ đến đời Hán các nhà Sấm Vĩ mới ngụy tạo ra nhiều như vậy; theo người đáp, giả thuyết này có thể tin được. Độ số các sao trên tinh bàn, hiện nay dù theo Tây Dương hay theo các nhà thiên văn cổ thì đều có vô số tinh tú, há có thể tính sao nào tương chiếu với sơn nào, hướng nào?

Thầy Tử Tư có nói: trên thì theo luật thiên thời, dưới thì bắt chước thủy thổ. Luật thiên thời tức là nói việc biết nguyên vận chứ không nói về các sao. Vả lại nói về thiên thời thì chỉ một chữ “thời” là đủ rõ ràng. Lại Thái Tố (tức Lại Bố Y) trong thiên “Thôi Quan” có dẫn tên các thần sát, nhưng chẳng qua chỉ làm ra vẻ kỳ bí rồi nói một lời phá tan chứ không phải coi người ta ra gì, nên không đáng chê cười.

Đọc “Mộng Khê lão nhân bút đàm” trong tông phái của người đáp thấy rằng việc trời vốn không có độ số, chỉ có vòng chiếu rọi của mặt trời được chia thành hơn ba trăm sáu mươi lăm độ mà thôi. Cho nên người đáp cho rằng địa lý không có độ số, việc đo tính đất không thể lấy độ số của các sao mà tính, nhưng lấy việc trái đất quay quanh mặt trời mà chia thành hơn ba trăm sáu mươi lăm độ.

Lại có người hỏi: nhiều sách dẫn thuyết nhị thập bát tú chia ba khu vực, nếu bỏ đi thì thật đáng tiếc. Đáp: ba khu vực ấy là Tử Vi, Thái Vi và Thiên Thị, đây là thuyết phân dã thời xưa. Hai mươi tám tú gồm: bảy sao Thương Long (cũng gọi Thanh Long) thuộc phương đông là Giác, Cang, Đê, Phòng, Tâm, Vĩ, Cơ; bảy sao Huyền Vũ thuộc phương bắc là Đẩu, Ngưu, Nữ, Hư, Nguy, Thất, Bích; bảy sao Bạch Hổ thuộc phương tây là Khuê, Lâu, Vị, Mão, Tất, Chủy, Sâm; bảy sao Chu Tước thuộc phương nam là Tỉnh, Quỷ, Liễu, Tinh, Trương, Dực, Chẩn. Ngô Cảnh Loan đời Tống, trong “Huyền Không bí chỉ”, tuy có nhắc sơ qua về thần sát, nhưng dùng lý lẽ của quẻ Dịch để đoán; chẳng qua chỉ thêm rườm rà, bỏ đi cũng chẳng có gì phải tiếc.

Nguồn: Nguyễn Vũ Anh, Thẩm Thị Huyền Không Học – Phong Thủy Trong Bối Cảnh Kiến Trúc Hiện Đại.

Kiều Oanh Trần

Tác giả

Kiều Oanh Trần

Nghiên cứu Mệnh lý - Tử vi - Tâm lý học

Theo dõi trên Facebook

Chia sẻ bài viết

FacebookXLinkedInZalo
Quay lại Đạo Gia