Chuyển đến nội dung chính
Quay lại Đạo Gia

Bài tổng quan

Chân và giả đả kiếp, sáu mươi bốn cuộc tam ban, ba nhóm cung

Đạo Học - Đạo Gia07/10/202616 phút đọc1 lượt đọc
Chân và giả đả kiếp, sáu mươi bốn cuộc tam ban, ba nhóm cung

Có người từng bị dặn phải thề không được nói ra một phép, và có người vì lỡ miệng mà cả năm trong nhà bệnh tật liên miên. Hóa ra phép ấy chia đôi: một nửa hợp thật ở cung Ly, một nửa hợp giả ở cung Khảm, và sáu mươi bốn cuộc đất nằm rải trong đó. Cuộc nào đáng giá nhất…


Một phép bị dặn phải thề không tiết lộ

Tào Thu Tuyền kể rằng ông ở nhà hậu nhân của Chương Trọng Sơn lâu ngày, bàn luận đủ chuyện mà họ trước sau không nhả ra hai chữ nào về phép Bắc Đẩu đả kiếp. Mãi sau họ mới giải lời uyên áo ở tiết thứ nhất, rồi dặn ông phải lập lời thề không được tiết lộ, nếu không sẽ bị trời phạt. Có lần ông tình cờ để lộ thì năm đó người nhà bệnh tật liên miên. Giờ ông cho rằng vận 3 sơn Bính hướng Nhâm và sơn Ngọ hướng Tý đều đả kiếp được, muốn biện luận lại một lần nhưng bị câu "thiên cơ không thể tiết lộ" ám ảnh, lúng túng, xin bậc cao minh chỉ giúp.

Thẩm Trúc Nhưng đáp bằng lời trích trong "Tòng Sư Tùy Bút" của Khương Diêu, cuốn mà Hồ Bá An đang giữ. Khương Diêu kể thầy mình (Tưởng Đại Hồng) trong nhà Ngụy tướng quốc được xem một quyển bí kíp về các phép, thảy chép rõ ràng, chỉ riêng phép Bắc Đẩu đả kiếp là không chép. Vì thế khi chú giải Thiên Ngọc kinh, thầy không dám viết cho minh bạch. Một hôm thầy nói với ông rằng phép Bắc Đẩu đả kiếp tức là vận dụng hai quẻ Khảm Ly. Khương Diêu nghiền ngẫm mới biết dùng Khảm là cùng Tốn Đoài thành tam ban quái, dùng Ly là cùng Kiền Chấn thành tam ban quái. Khi hỏi lại, thầy mỉm cười: nói được vậy là hiểu được một nửa rồi.

Đọc lời giải thích của Trọng Sơn về phép này trong bản "Tùy bút", Thẩm Trúc Nhưng nghĩ tới câu "hiểu được một nửa" và thấy rằng phép này nếu dùng được Khảm thì không dùng Ly, nếu dùng được Ly thì không dùng Khảm, tuyệt đối không thể dùng cả hai. Như vận 3 sơn Bính hướng Nhâm có cung Ly là Thất, cung Khảm là Bát, cướp Tứ là khí của tương lai để dùng. Sơn Tý hướng Ngọ cũng cướp Tứ làm khí tương lai thì dùng được.

Trước kia ông cũng phân vân về phép đả kiếp, nhưng sau khi lần lượt hỏi các phần mộ của người ta mới hiểu rõ: dùng Ly hợp thì dùng Khảm không hợp, và khi lệnh tinh không nằm ở đầu hướng thì không thể đoán là cướp khí tương lai. Cũng chẳng phải nói vận 3 cướp được khí vận 4, vận 5 cướp được khí vận 6, mà thực ra là thượng nguyên cướp được khí trung nguyên, trung nguyên cướp được khí hạ nguyên. Phép ấy xuất phát từ Dịch và có thể lấy hình đồ Lạc Thư để chứng minh. Đọc kỹ Thiên Ngọc kinh cũng thấy rõ điều này.

Thiên Ngọc kinh nhắc: tam ban quái phụ mẫu là Nhất Tứ Thất, Nhị Ngũ Bát, Tam Lục Cửu; còn tam ban quái là Nhất Nhị Tam, Nhị Tam Tứ, Tam Tứ Ngũ, Tứ Ngũ Lục, Ngũ Lục Thất, Lục Thất Bát, Thất Bát Cửu, Bát Cửu Nhất. Tiết ấy coi trọng hai chữ "phụ mẫu", là phụ mẫu của tam ban quái chứ không phải tam ban quái. Vì thế việc cướp khí tương lai nói về nguyên chứ không phải vận. Về sau ông còn ngộ ra hai cung Kiền Chấn cũng dùng được phép đả kiếp như cung Ly.

Trong bảng hai mươi bốn cuộc chân đả kiếp (cung Ly tương hợp), có ba cuộc không dùng vì phạm phản ngâm phục ngâm: hai cuộc Tốn Kiền và Tỵ Hợi của vận 6 và một cuộc Nhâm Bính của vận 9. Ba cuộc khác cần để trống đúng chỗ: vận 3 hướng Ngọ thì cung Kiền phải trống không; vận 6 hướng Ngọ thì cung Chấn phải trống không; vận 9 hướng Mão thì cung Kiền phải trống không. Tổ Miên giải thích ví dụ đầu: vận 3 hướng Ngọ, hướng tinh của Ly là Tam, của Kiền là Lục, của Chấn là Cửu, hợp thành tam ban quái Tam Lục Cửu; nếu Kiền không trống mà bị khí của trung nguyên lấp đầy thì không thể thông với Chấn Cửu của nguyên. Các trường hợp còn lại suy theo.

Còn bảng hai mươi bốn cuộc giả đả kiếp (cung Khảm tương hợp) thì ngoại trừ một cuộc Nhâm Bính của vận 1 và hai cuộc Kiền Tốn, Hợi Tỵ của vận 4 là phạm phản ngâm phục ngâm nên không dùng.

Đả kiếp có bền bằng đáo sơn đáo hướng không

Tào Thu Tuyền hỏi tiếp: Bắc Đẩu đả kiếp có địa vận kéo dài bằng đáo sơn đáo hướng không, và so với sức mạnh của bốn cuộc "sơn Kiền, hướng Kiền, thủy Kiền, phong Kiền" thì thế nào? Đáp: đáo sơn đáo hướng lấy vận tinh nhập tù làm khí cực suy hay cực tử. Chỉ khi sao đầu hướng tới thì mới lấy sao của cung đối đầu hướng nhập tù làm hung (tức phi tinh ở hướng tới bằng chữ của sơn). Bắc Đẩu đả kiếp cũng theo cách ấy. Cứ quan sát lần lượt các phần mộ hưng bại là tự ngộ ra.

Ông nói thêm: chân đả kiếp và giả đả kiếp mỗi loại có hai mươi bốn cuộc, bỏ các cuộc phản ngâm phục ngâm thì còn hai mươi mốt cuộc mỗi loại. Nhưng vẫn phải dựa vào hình thế hư thực, sinh khắc chế hóa mà vận dụng, mọi việc đều do tâm nhãn sáng suốt linh hoạt. Phép đả kiếp chẳng qua dùng khi xem đất gặp cuộc khó chọn, biết không tìm được đáo sơn đáo hướng, lúc cấp bách mới luận tới các cuộc sơn Kiền hướng Kiền thủy Kiền phong Kiền.

Hợp ở Ly là hợp thật, hợp ở Khảm là hợp giả

Chí Y chú rằng Thiên Ngọc kinh nói về thất tinh đả kiếp: "cung Ly cần tương hợp", tức tam ban quái phải tương hợp với cung Ly, chứ không nói về cung Khảm. Chương Trọng Sơn thì nói tam ban quái đi từ Khảm tới Tốn, Tốn tới Đoài, Đoài về Khảm, ba đoạn giáp vòng, nghĩa là tương hợp với cung Khảm chứ không nói cung Ly. Ôn Minh Viễn thì nói chỉ chân đả kiếp mới có cả hai cung Khảm Ly.

Thẩm Trúc Nhưng thuở đầu dùng thuyết họ Chương và họ Ôn. Đến tuổi xế chiều ông bắt đầu ngộ ra "hợp ở Ly là chân hợp, hợp ở Khảm là giả hợp", và ngộ thêm rằng cướp khí tương lai là thượng nguyên cướp khí trung nguyên, trung nguyên cướp khí hạ nguyên, có vậy mới khớp với điều kinh mô tả. Bấy giờ ông lập hai bảng chân giả đả kiếp để nói cho rõ. Lấy cung Khảm tương hợp thì thuyết của họ Chương và họ Ôn đã được người ta dùng lâu nên thành thói quen. Học thuyết lúc xế chiều của ông tách hẳn chân và giả, lại thu thập ứng nghiệm của nhiều danh mộ làm chứng, khiến người ta không còn nghi ngờ.

Chí Y nói thêm: toàn cuộc hợp thập thì có thể tốt từ vận này sang vận khác. Nếu một cuộc được tam ban quái Nhất Tứ Thất, Nhị Ngũ Bát, Tam Lục Cửu thì khí của ba nguyên chín vận đều thông, cũng tốt như các toàn cuộc hợp thập. Chẳng hạn Cấn Khôn, Khôn Cấn, Dần Thân, Thân Dần của các vận 2, 5, 8 và Sửu Mùi, Mùi Sửu của các vận 4, 6 đều là toàn cuộc hợp thập thành tam ban quái; lại lập thêm một cách cuộc khác trong đả kiếp Khảm Ly, đó là hạng mục có tác dụng thượng thừa, ai bảo là không nên dùng.

Hai loại tam ban quái

Bạch Hạc Minh giải thích: các quẻ liền nhau được hình thành trên cơ sở hai cung sơn và hướng hợp thành mười gọi là quẻ tam ban. Hai cung cùng nhau sinh thành như Nhất và Lục, Nhị và Thất, Tam và Bát, Tứ và Cửu, Ngũ và Thập là số sinh thành của tiên thiên bát quái. Hai cung cùng nhau hợp mười như Khảm Nhất Ly Cửu, Kiền Lục Tốn Tứ, Đoài Thất Chấn Tam, Cấn Bát Khôn Nhị là các cặp cung đối nhau của hậu thiên bát quái. Hai cung đối nhau hợp mười tức hai khí thông nhau; từ đó sinh ra hai loại quẻ tam ban.

Quẻ tam ban số liền nhau

Gồm Nhất Nhị Tam, Nhị Tam Tứ, Tam Tứ Ngũ, Tứ Ngũ Lục, Ngũ Lục Thất, Lục Thất Bát, Thất Bát Cửu, Bát Cửu Nhất, Cửu Nhất Nhị. Loại này thích hợp để dùng với linh thần và chính thần. Ví dụ sơn Tý hướng Ngọ: chính thần của địa bàn là Khảm Nhất, linh thần là Ly Cửu, Nhất và Cửu hợp mười. Trên cơ sở ấy, hai phi tinh của tọa sơn vận 1 (chính thần) là Nhị Cửu, hai phi tinh của hướng thủy (linh thần) là Nhất Nhất; bốn phi tinh của hai phương tọa và hướng hợp thành quẻ tam ban Cửu Nhất Nhị. Các quẻ tam ban khác như vận 2 là Nhất Nhị Tam, vận 3 là Nhị Tam Tứ, vận 4 là Tam Tứ Ngũ... có thể thông khí ba vận: một vận vượng thì hai vận kia cùng vượng.

Quẻ tam ban phụ mẫu

Gồm Nhất Tứ Thất, Nhị Ngũ Bát, Tam Lục Cửu. Loại này lấy số sinh thành của sơn và hướng làm cơ sở, cũng bao hàm hợp thập, liên quan rất sâu tới Dịch lý. Bạch Hạc Minh phân tích từng bước từ thấp đến cao.

  1. Từ vận 1 đến vận 9, sao nào vào trung cung cũng hợp với Khảm hoặc Ly thành một số sinh thành của tiên thiên bát quái. Nhất, Nhị, Tam, Tứ vào trung cung hợp với Khảm thành Nhất Lục, Nhị Thất, Tam Bát, Tứ Cửu; Lục, Thất, Bát, Cửu vào trung cung hợp với Ly thành Lục Nhất, Thất Nhị, Bát Tam, Cửu Tứ.
  2. Nếu trung cung vừa hợp với Khảm lại vừa hợp với Ly, ba cung cùng thành số của tiên thiên bát quái thì sơn và hướng trước sau đều thông khí với trung cung. Điều này thấy ở bốn ví dụ: sơn Tý hướng Ngọ của vận 1 và vận 3, sơn Nhâm hướng Bính của vận 2 và vận 4. Ở cả bốn bàn, phương vị sơn và phương vị hướng với trung cung chỗ nào cũng là số sinh thành, cho thấy khí quẻ của ba phương nhất quán, trước sau đều thông.
  3. Khí của quẻ trước, quẻ giữa và quẻ sau thông nhau sẽ thành sự thông khí của thượng nguyên, trung nguyên và hạ nguyên, nên các nguyên đều dùng được:
    • Đầu hướng là Nhất Nhất: thông khí vận 4 và vận 7, hợp thành Nhất Tứ Thất.
    • Đầu hướng là Nhị Nhị: thông khí vận 5 và vận 8, hợp thành Nhị Ngũ Bát.
    • Đầu hướng là Tam Tam: thông khí vận 6 và vận 9, hợp thành Tam Lục Cửu.
    • Đầu hướng là Tứ Tứ: thông khí vận 1 và vận 7, hợp thành Tứ Nhất Thất.
    • Đầu hướng là Lục Lục: thông khí vận 3 và vận 9, hợp thành Lục Tam Cửu.
    • Đầu hướng là Thất Thất: thông khí vận 1 và vận 4, hợp thành Thất Nhất Tứ.
    • Đầu hướng là Bát Bát: thông khí vận 2 và vận 5, hợp thành Bát Nhị Ngũ.
    • Đầu hướng là Cửu Cửu: thông khí vận 3 và vận 6, hợp thành Cửu Tam Lục.
  4. Ba loại tam ban Nhất Tứ Thất, Nhị Ngũ Bát, Tam Lục Cửu xuất hiện ở cung nào? Huyền Không gọi "dùng thông" là "đả kiếp" (cướp). Như Nhất Tứ Thất nghĩa là khí vận 1 thông được với vận 4 và vận 7, có thể trộm dùng trước khí của vận 4 và vận 7. Cách trộm dùng trước ấy gọi là "kiếp" hay "đả kiếp": khi dùng khí vận 1 thì đồng thời đả kiếp luôn khí vận 4 và vận 7.

Muốn biết tam ban xuất hiện ở cung nào thì xem cung nào có song tinh đáo hướng. Song tinh ở cung Ly (Ly là Cửu, vận 9 hạ nguyên, đối ứng trung nguyên vận 6 và thượng nguyên vận 3, tức hai cung Kiền và Chấn) thì tam ban nằm ở ba cung Ly, Kiền, Chấn. Song tinh ở Chấn thì tam ban ở Chấn, Kiền, Ly. Song tinh ở Cấn thì ở Cấn, trung cung, Khôn. Song tinh ở Khảm thì ở Khảm, Tốn, Đoài. Song tinh ở Kiền thì ở Kiền, Chấn, Ly. Song tinh ở Đoài thì ở Đoài, Khảm, Tốn. Song tinh ở Khôn thì ở Khôn, trung cung, Cấn. Song tinh ở Tốn thì ở Tốn, Khảm, Đoài.

Chín cung gom thành ba nhóm

  • Ly, Chấn, Kiền là một nhóm, gọi tắt là "nhóm cung Ly".
  • Khảm, Tốn, Đoài là một nhóm, gọi tắt là "nhóm cung Khảm".
  • Cấn, trung cung, Khôn là một nhóm, gọi tắt là "nhóm cung Cấn".

Trong dân gian, nhất là với nhà ở, trục nam bắc chiếm tương đối nhiều. Theo tiên thiên bát quái thì phương nam là Kiền, phương bắc là Khôn; theo hậu thiên bát quái thì phương nam là Ly, phương bắc là Khảm. Vì vậy ngồi sơn lập hướng thường theo trục nam bắc. Quẻ tam ban của ba cung Ly, Chấn, Kiền thường gọi là "Ly cung đả kiếp"; quẻ tam ban của ba cung Khảm, Tốn, Đoài gọi là "Khảm cung đả kiếp"; quẻ tam ban của Cấn, trung cung, Khôn gọi là "tam ban xảo quái".

Ba ví dụ minh họa: vận 1, sơn Tý hướng Ngọ, ba cung Ly, Chấn, Kiền hợp thành Nhất Tứ Thất, đó là Ly cung đả kiếp. Vận 2, sơn Ngọ hướng Tý, ba cung Khảm, Tốn, Đoài hợp thành Nhị Ngũ Bát, đó là Khảm cung đả kiếp. Vận 2, sơn Cấn hướng Khôn, toàn cuộc hợp thành quẻ tam ban, đó là tam ban xảo quái.

Sáu mươi bốn cuộc tam ban

Trong hai mươi bốn sơn hướng, hai trăm mười sáu cuộc (nếu tính cả thế quái thì bốn trăm ba mươi hai cuộc), cuộc nào là "hạ thủy" mà song tinh đáo hướng đều dùng được phép đả kiếp. Còn cuộc "thượng sơn hạ thủy" của hai cung Cấn Khôn đều có tam ban xảo quái. Liệt kê:

Ly cung đả kiếp (24 cuộc)

  • Sơn Tý hướng Ngọ: vận 1 Nhất Tứ Thất; vận 3 Tam Lục Cửu; vận 6 Tam Lục Cửu; vận 8 Nhị Ngũ Bát.
  • Sơn Dậu hướng Mão: vận 2 Nhị Ngũ Bát; vận 9 Tam Lục Cửu.
  • Sơn Thìn hướng Tuất: vận 1 Nhất Tứ Thất; vận 4 Nhất Tứ Thất.
  • Sơn Canh hướng Giáp: vận 1 Nhất Tứ Thất; vận 8 Nhị Ngũ Bát.
  • Sơn Nhâm hướng Bính: vận 2 Nhị Ngũ Bát; vận 4 Nhất Tứ Thất; vận 7 Nhất Tứ Thất; vận 9 Tam Lục Cửu.
  • Sơn Tân hướng Ất: vận 2 Nhị Ngũ Bát; vận 9 Tam Lục Cửu.
  • Sơn Quý hướng Đinh: vận 1 Nhất Tứ Thất; vận 3 Tam Lục Cửu; vận 6 Tam Lục Cửu; vận 8 Nhị Ngũ Bát.
  • Sơn Tốn hướng Kiền: vận 6 Tam Lục Cửu; vận 9 Tam Lục Cửu.
  • Sơn Tỵ hướng Hợi: vận 6 Tam Lục Cửu; vận 9 Tam Lục Cửu.

Khảm cung đả kiếp (24 cuộc)

  • Sơn Ngọ hướng Tý: vận 2 Nhị Ngũ Bát; vận 4 Nhất Tứ Thất; vận 7 Nhất Tứ Thất; vận 9 Tam Lục Cửu.
  • Sơn Mão hướng Dậu: vận 1 Nhất Tứ Thất; vận 8 Nhị Ngũ Bát.
  • Sơn Tuất hướng Thìn: vận 6 Tam Lục Cửu; vận 9 Tam Lục Cửu.
  • Sơn Giáp hướng Canh: vận 2 Nhị Ngũ Bát; vận 9 Tam Lục Cửu.
  • Sơn Bính hướng Nhâm: vận 1 Nhất Tứ Thất; vận 3 Tam Lục Cửu; vận 6 Tam Lục Cửu; vận 8 Nhị Ngũ Bát.
  • Sơn Ất hướng Tân: vận 1 Nhất Tứ Thất; vận 8 Nhị Ngũ Bát.
  • Sơn Đinh hướng Quý: vận 2 Nhị Ngũ Bát; vận 4 Nhất Tứ Thất; vận 7 Nhất Tứ Thất; vận 9 Tam Lục Cửu.
  • Sơn Kiền hướng Tốn: vận 1 Nhất Tứ Thất; vận 4 Nhất Tứ Thất.
  • Sơn Hợi hướng Tỵ: vận 1 Nhất Tứ Thất; vận 4 Nhất Tứ Thất.

Tam ban xảo quái (16 cuộc, toàn cuộc)

  • Sơn Cấn hướng Khôn, sơn Khôn hướng Cấn, sơn Dần hướng Thân, sơn Thân hướng Dần: đều ở các vận 2, 5 và 8.
  • Sơn Sửu hướng Mùi và sơn Mùi hướng Sửu: ở các vận 4 và 6.

Như vậy quẻ tam ban "Ly cung đả kiếp" có 24 cuộc, "Khảm cung đả kiếp" có 24 cuộc, "tam ban xảo quái cung Cấn" có 16 cuộc, cộng ba loại là 64 cuộc.

Trong hai nhóm Ly và Khảm, mỗi nhóm có ba cuộc phạm phục ngâm nên không dùng được: sơn Tốn hướng Kiền vận 6, sơn Tỵ hướng Hợi vận 6, sơn Nhâm hướng Bính vận 9; sơn Bính hướng Nhâm vận 1, sơn Kiền hướng Tốn vận 4, sơn Hợi hướng Tỵ vận 4.

Công dụng và chỗ phải dè chừng

So với vượng sơn vượng hướng, hai cung thành môn và toàn cuộc hợp thập, phép đả kiếp cho thêm một cách nữa để chọn. Nó trội hơn phép vượng sơn vượng hướng và công hiệu ngang với toàn cuộc hợp thập. Trong sáu mươi bốn cuộc, quẻ "tam ban xảo quái" hình thành trên hai cung Cấn Khôn là khó gặp nhất cũng quý nhất. Mười sáu cuộc ấy gọi là toàn cuộc hợp thành quẻ tam ban, thông khí cả ba nguyên thượng, trung, hạ, dùng thì tốt lành lâu dài, đời đời phồn vinh. Loại quẻ tam ban này không bị giới hạn bởi cuộc "thượng sơn hạ thủy"; nếu lại đảo được cách kỵ long thì càng tuyệt diệu.

Dùng quẻ tam ban cần phối hợp với cách cuộc Loan Đầu: phải được núi để chế ngự nước, phải được nước để thu núi, hợp với ngũ hành sinh khắc. Bằng không sẽ không có tác dụng, thậm chí còn chuốc họa vô cớ, nên khi dùng phải hết sức thận trọng. Giữa Ly cung đả kiếp và Khảm cung đả kiếp thì Ly cung công hiệu lớn hơn, Huyền Không gọi là "chân đả kiếp"; Khảm cung công hiệu nhỏ hơn, gọi là "giả đả kiếp". Cả hai đều dùng được, chỉ khác nhau về công hiệu.

Nguồn: Nguyễn Vũ Anh, Thẩm Thị Huyền Không Học – Phong Thủy Trong Bối Cảnh Kiến Trúc Hiện Đại.

Kiều Oanh Trần

Tác giả

Kiều Oanh Trần

Nghiên cứu Mệnh lý - Tử vi - Tâm lý học

Theo dõi trên Facebook

Chia sẻ bài viết

FacebookXLinkedInZalo
Quay lại Đạo Gia