Bài tổng quan
Thái Tuế nghiệm tài đinh và cách đoán tuổi người được phát
Mộ vừa đắp xong, người ta đã thấy nước ôm hay núi chầu, nhưng chuyện ba năm sau mới nằm trong sao của năm ấy. Thái Tuế đứng ở đâu, người tuổi nào phát hay gặp họa đều có lời đoán. Có ngôi mộ báo trước đến năm Quý Mão sẽ có người sinh Ất Mão hay Quý Mùi gặp chuyện…
Lên núi hay xuống nước: phải đoán theo từng cuộc đất
Long bày ở nước bao bọc mà vượng tinh rơi chỗ thấp trũng thì chủ vượng tài nguyên. Ngược lại, nếu vượng tinh nhảy lên chỗ cao thì gọi là long thần của nước lên núi: không những phá tài mà còn hại nhân đinh, và quẻ đương thời tổn thương nam giới. Núi ở đây không cần cao lớn, một ụ đất, một gò cao ba thước cũng đủ phát tai họa. Dẫu vậy, sau khi lên núi mà có cát thủy bày tới thì cái hung ấy phần nào được giảm. Phần lớn vượng tinh của nước đến hướng đều là cát. Nhưng ở hướng mà gặp tường vách, gò cao, hình thể trái khí thì đã phạm lên núi. Phía sau nước mà còn có núi, hợp lại gọi là cuộc song tinh hội ở tọa sơn, nhiều nhà khám dư đã từng trải qua.
Long bày ở núi mà vượng tinh rơi chỗ cao thì chủ vượng khí cho người. Ngược lại, nếu rơi chỗ trũng thấp thì là long thần ở núi xuống nước, làm hại người. Vượng tinh men theo núi đến ngồi ở tọa là cát, nhưng nếu sau khi ngồi lại gặp ao vũng, sông nước thì cuộc đất không dùng được, cũng là phạm xuống nước. Trái lại, nếu vượng tinh đi thẳng đến đầu hướng, vốn gọi là xuống nước, nhưng nhất thời cùng đứng với vượng tinh ở hướng, lại có núi ở ngoài nước thì vẫn thêm được nhân đinh dù chưa thật vượng. Đó gọi là song tinh hội ở đầu hướng, điều các nhà khám dư rất coi trọng.
Tóm lại, cuộc đáo sơn đáo hướng nhất định phải ghép với phía sau là núi, phía trước là nước thì mới đúng phép. Thượng sơn hạ thủy mà phối với cuộc tọa không triều mãn, tức tọa trống nhưng hướng chầu thì đầy, thì long chân huyệt vẫn có thể phát phúc, vì tuy lên núi mà vẫn gặp nước, tuy xuống nước mà lại gặp núi. Khéo thì cướp được công trời, nhưng về lâu dài không sánh bằng vượng tinh đáo sơn đáo hướng, điều này không gì thay thế được. Ngay cả song tinh hội ở tọa sơn cũng không bì kịp song tinh hội ở đầu hướng. Vì sao? Vì sao ở đầu hướng quyết định chuyện nạp khí vượng hay suy, là cái cán của phúc họa, không thể đem ngang hàng với phi tinh ở sơn. Bởi vậy nói xuống nước còn có chỗ chấp nhận được, chứ lên núi thì dứt khoát không. Khi sơn và hướng bị đặt ngược, trước cao sau thấp, đầu hướng nhận khí trời, còn Chu Tước, tức khoảng trước huyệt, nắm quyền phát nguồn rất lớn.
Bạch Hạc Minh lấy ví dụ vận 7 sơn Giáp hướng Canh. Cuộc này phạm thượng sơn hạ thủy: long thần ở sơn bày tới đầu hướng, thấy sông nước tức là xuống nước, chủ tổn nhân đinh. Long thần ở sơn lại là quẻ Đoài thuộc âm, nên biết tổn hại rơi vào phụ nữ. Quẻ dương là Kiền, Chấn, Khảm, Cấn; quẻ âm là Khôn, Tốn, Ly, Đoài.
Thái Tuế gia thêm để nghiệm tài, đinh, quý, hiển
Cuộc đất giống như cái nền, còn năm tháng đi qua là ngọn lửa thử vàng cho mọi lời đoán.
Khi đoán âm trạch phải xét nguyên vận mà huyệt nhận khí và phi tinh của sơn và hướng làm chính; khách tinh hay Thái Tuế chỉ là phần dụng, không phải hai phép khác nhau. Với mộ mới lập thì Loan Đầu là trọng, kế đó xem sao ở huyệt có đắc nước trong đương vận không; cát thì cát. Phương vị không cát mà có cát tinh bày tới thì cũng giảm bớt hung họa. Với mộ đã chôn lâu thì phải phối hình thế với lý khí: trước hết xem sự được mất của tinh thần, rồi xem hình tượng đẹp hay xấu, sau đó mới thêm Thái Tuế vào để nghiệm cơ cớ, cuối cùng dùng sao phân phòng để đoán họa phúc thuộc về ai. Theo thứ tự ấy thì không sai.
Thiên Ngọc kinh nói: xét xem Thái Tuế là thần nào, đứng ở đất nào thì rõ ngay. Điều đó chứng tỏ Thái Tuế đâu phải khách tinh của nơi nó đóng; phải căn cứ hình thế thực địa rồi mới thêm Thái Tuế để đoán cát hung, thì phân biệt tài, đinh, quý, hiển trăm lần không sai một.
Tiền tài thì xem nước, thêm Thái Tuế
Nói chung, tiền tài lấy nước mà đoán, phúc ở hướng thủy hoặc nước bên cạnh, gia thêm Thái Tuế để suy cát hung. Ví dụ phi tinh ở hướng là Nhất Bạch, gặp Thái Tuế năm Giáp Tý cũng là Nhất Bạch. Trước hết dùng sao Tử Bạch của năm bay thuận tới hướng, được Nhất Bạch tức là Thái Tuế gia lâm, Nhất Bạch gặp Nhất Bạch. Hướng có nước thì chủ về người phòng giữa, mệnh Thân Tý Thìn, phát tài. Rồi dùng sao Tử Bạch của tháng bay thuận tới hướng mà được Tam Bích thì càng tuyệt, vì Tam Bích là Giáp Mão Ất. Nếu năm là Giáp Tý thì Nhất là Tý, Tam là Giáp, hai sao cùng đứng một cung, gọi là chồng thêm Thái Tuế; nguyệt kiến Nhất Bạch đáo hướng cũng gọi là chồng thêm.
Bạch Hạc Minh giải thích: người mệnh Thân Tý Thìn phát tài vì Thân Tý Thìn là thủy cục, mà Khảm thuộc thủy; Thân Tý Thìn ở đây chỉ năm sinh của những người phát tài.
Nhân đinh và quý hiển
Về nhân đinh thì xem núi: cần có hình thế hợp với tọa sơn, hoặc thủy khẩu có Thái Tuế gia thêm, lấy người phòng thứ có mệnh hợp năm mà đoán cát hung, theo cách này nghiệm như thần. Ngay cả chuyện phá tài tổn đinh cũng không ngoài việc phạm lên núi xuống nước rồi gặp Thái Tuế xung phá khắc tiết; cách đoán núi nước tương tự như trên.
Còn luận về sơn huyệt quý tú thì lấy tọa sơn mà đoán. Đại để nếu dương mạch nhập thủ mà sau huyệt nổi lên một gò đẹp thì dòng họ phát quý về tài đinh. Với huyệt nước thì xem nước quanh co thế nào, càng uốn lượn càng quý hiển. Nếu trong tám phương có một phương hiện núi non kỳ vĩ, hoặc ngả ba nơi thủy khẩu, thành môn giao nhau, lưu thần uốn lượn, thì năm gặp Thái Tuế tức có thể phát quý. Căn cứ chữ ở phương hiện quý địa Loan Đầu có thể đoán người phát quý sinh vào địa chi nào.
Hai loại Thái Tuế: địa bàn và niên bàn
Thái Tuế có hai loại. Năm Tý thì Thái Tuế ở Tý, năm Sửu thì ở Sửu, đó là Thái Tuế của địa bàn. Thái Tuế của niên bàn thì năm Tý thuộc Nhất Bạch, năm Sửu thuộc Bát Bạch, bay đi không cố định nên còn gọi là Thái Tuế bay, tức "phi Thái Tuế". Ví dụ năm Giáp Tý thượng nguyên có Nhất Bạch nhập trung cung thì Thái Tuế ở trung cung. Ở trung nguyên, Tứ Lục nhập trung cung, Nhất Bạch bay tới Khôn thì Thái Tuế ở Khôn. Ở hạ nguyên, Thất Xích nhập trung cung, Nhất Bạch tới Cấn thì Thái Tuế ở Cấn. Phi Thái Tuế của niên bàn hầu như chỉ phái Huyền Không dùng, còn Thái Tuế của địa bàn là loại các phái phong thủy khác thường dùng.
Khi khách tinh của năm đến đúng ngôi hướng không còn vượng
Với cả hai trạch âm dương, khi suy tử tới hướng là chữ nào mà khách tinh lưu niên tới hướng cũng đúng chữ ấy thì chủ tổn nhân khẩu. Hướng không đương vượng mà gặp vượng tinh lưu niên Tử Bạch bày tới cũng chủ phát tai họa. Thí dụ vận Bát Bạch lập sơn Nhâm hướng Bính, vượng tinh đáo tọa; đến năm Giáp Ngọ, niên tinh Tứ Lục nhập trung cung, Bát Bạch tới hướng, chủ phát tai họa. Đó là lấy đầu hướng mà đoán. Bạch Hạc Minh giải thích rằng năm Giáp Ngọ, vượng tinh Bát Bạch đáo hướng vốn luận cát, đáng tiếc sao ở đầu hướng là thoái khí, vượng tinh lưu niên bày tới trái lại sinh hung họa.
Cuộc long thần nước bao bọc lên núi cũng có thể lấy phía sau tọa mà đoán. Như vận Thất Xích lập sơn Tý hướng Ngọ, vượng tinh ở hướng tới Khảm, tức đã phạm cuộc long thần nước bao bọc lên núi. Nếu phương Khảm là đất chắc, hoặc có núi cao nhà cao, thì thuộc cuộc không tốt. Phi tinh song Thất tới Khảm, thiên bàn thì Tam đáo Khảm; sang vận 8 thì Thất là suy khí. Đến tháng hai của năm Quý Mão, khách tinh Tam lại tới Khảm; Tam Thất nối nhau lâm vào thì ắt gặp họa trộm cướp hay quan tụng. Cuộc này chủ về người sinh năm Ất Mão hay Quý Mùi phát họa. Đến tháng mười một tuy có Tam đến nhưng không hại, vì nguyệt kiến đã là Giáp Tý nên không còn Thái Tuế. Đó là lấy Thái Tuế của năm và tháng ghép với khách tinh gia lâm mà đoán ra con giáp. Vận khí đã suy mà hung tinh lại dồn đến, biến cố sẽ ứng nhau liên tiếp, người sinh năm Ất Mão hay Quý Mùi sao tránh khỏi họa?
Bạch Hạc Minh phân tích cuộc vận 7 sơn Tý hướng Ngọ: phương tọa là cách long thần nước bao bọc lên núi; vượng tinh đáo tọa nhưng hướng lại là suy tinh; tài tinh lên núi, gặp Tam thì thành "xuyên tâm sát", luận hung; Tam là Chấn, tức Ất Mão, mà Chấn thuộc mộc, ứng với Hợi Mão Mùi; phương tọa Tý là Nhâm Tý Quý, cho nên bất lợi cho người sinh năm Ất Mão và Quý Mùi.
Đoán xem người tuổi nào sẽ phát từ mộ phần
Muốn biết phần mộ có điềm báo thịnh vượng hay không, trước hết xem long huyệt thật hay giả, kế đến xét sự suy vượng của tinh vận để biết mộ có thể phát tích không, địa khóa có đẹp không, lệnh khóa có được không. Từ đó nhận ra ai là người nhận được long khí của tổ tiên, rồi suy tiếp năm tuổi của người ấy. Phần lớn một ngôi mộ sẽ phát cho con giáp nào, có thể căn cứ chữ ở nơi xuất mạch nhập thủ mà quyết định. Nói cách khác là căn cứ phương tọa: sơn Tý hướng Ngọ thì đoán người tuổi Tý phát; nhưng nếu nơi nhập thủ lại là Hợi thì đoán người tuổi Hợi phát, không cần dùng phi tinh. Nếu vượng tinh ở sơn đáo hướng thì lấy chữ địa bàn ở hướng để đoán con giáp phát. Như cuộc song tinh hội ở đầu hướng, lập sơn Tý hướng Ngọ thì đoán người tuổi Ngọ phát; lập sơn Ngọ hướng Tý thì đoán người tuổi Tý phát, cứ theo hướng mà suy.
Nhưng cũng không nên cứng nhắc theo phép này; có lúc phải dùng phi tinh đương lệnh để đoán. Trong ghi chép về mộ tổ họ Tiền ở núi Lý Ngư, Thượng Ngu, ở hướng có song Nhị cùng Cửu, Chương Trọng Sơn đoán người mệnh Bính Thân là người phát, và đoán đúng. Ông còn dùng phân kim đối cung thành môn để đoán, như lời luận mộ tổ Tiền Trà Sơn. Với một cuộc đất bốn núi bao quanh mà chỉ thiếu một cửa ở chữ địa bàn, tức có thể đoán người tuổi ấy bị tuyệt. Nhưng nếu chỗ khuyết hợp làm thành môn và tỏa ra chính khí thì ngược lại là đại cát, đó lại là cách luận khác.
Bạch Hạc Minh giải thích: cách đoán con giáp phát từ âm trạch rất đơn giản, không cần phi tinh mà chỉ dùng địa bàn. Một là căn cứ mạch đến để luận, lấy sao của huyệt làm chủ. Hai là căn cứ phương tọa. Tiến thêm một bước là ghép với phi tinh: gặp cuộc song tinh đáo hướng thì lấy chữ địa bàn ở đầu hướng để đoán con giáp sẽ phát. Nếu là cuộc đất bốn núi bao bọc, chỉ khuyết một cửa, thì con giáp của phương ấy bất lợi; nhưng nếu hợp thành môn thì người có con giáp ấy lại đại lợi. Ví dụ một âm trạch có bốn núi vây mà phương Hợi không có núi thì chủ tổn người tuổi Hợi; song vì phương Hợi hợp thành môn, ngược lại người tuổi Hợi sẽ rất lợi. Một cách khác là lấy phân kim của cung đối diện với thành môn để đoán con giáp phát; phân kim này dùng nạp âm của sáu mươi Giáp Tý.
Nguồn: Nguyễn Vũ Anh, Thẩm Thị Huyền Không Học – Phong Thủy Trong Bối Cảnh Kiến Trúc Hiện Đại.
