Chuyển đến nội dung chính
Quay lại Đạo Gia

Bài tổng quan

Thủy pháp, tam cát ngũ cát và chín lệ về hướng cửa

Đạo Học - Đạo Gia07/10/202613 phút đọc0 lượt đọc
Thủy pháp, tam cát ngũ cát và chín lệ về hướng cửa

Nước mà không có núi phối thì tụ không nổi, chỉ có tài mà thiếu đinh. Giữa phố thị không có sông, người ta lấy con đường và mái nhà thấp làm nước. Còn cánh cửa chính, mở ở phương nào, lệch bên nào, lại quyết định khí vào nhà…


Thủy pháp: nước không chỉ cần có mà phải có thế

Hướng vượng gặp sông nước thì là vượng thủy. Nhưng nếu sông không chảy, hoặc có mà không nhìn thấy thì sức của nó yếu. Thiên Ngọc kinh đã dặn:

Long cần phải hợp với hướng, hướng hợp với thủy.

Tuy vậy, nếu nước bên cạnh đắc lệnh và chiếu ở gần thì cũng chẳng kém bao nhiêu so với vượng thủy ở hướng. Đó mới nói về dụng của nước. Còn thể của nước cũng có nhiều cách đẹp xấu khác nhau. Dòng nước uốn lượn gọi là "ngự nhai"; nước chảy qua mà thuần thanh gọi là "tam đương"; hai cách này đều thuộc loại thể thượng cách, được nó thì chủ quý tú. Nếu nước chia cung, hoặc chảy vòng rồi bắn thẳng tới một cách vô tình thì rất kỵ. Những cuộc như "lõa đầu, cát cước, xuất quái, trầm đầu" tuy phát đột ngột nhưng không bền; theo thủy pháp đều không dùng, vì đó cũng là không đúng long chân huyệt. Ở vùng đất bằng và sông nước thì lấy nước làm chứng cho long mạch; thế và dụng đúng hay không đều liên quan đến cát hung, đâu thể không coi trọng.

Nếu trong tám phương chỉ có nước mà không có núi phối hợp thì khí tản mạn, chỉ chủ có tài mà không có đinh. Lấy ví dụ vận 6 lập sơn Tuất hướng Thìn: thủy thần Nhất đáo Ly, Cửu đáo Khảm, phương Ly có nước hợp với đầu hướng, Nhất Lục đồng tông, gọi là "suy quan thủy", nước thúc đẩy khí vận. Nếu phương Khảm có núi phối hợp thì sức mạnh tăng gấp nhiều lần; không có núi thì sức yếu đi. Đó là ý nghĩa tinh tế ẩn trong việc núi và nước đối nhau.

Bạch Hạc Minh giải thích: ở phương Ly, sao Nhất Bạch và sao Lục Bạch ở đầu hướng hợp thành Nhất Lục theo Hà Đồ, cho nên thấy nước là suy quan thủy. Phương này có núi nên nước tụ được trước huyệt, cát lợi. Nếu phương này không có núi thì nước tản mạn, không tụ được trước huyệt, mức cát lợi giảm đi nhiều.

Ba sao cát, năm sao cát và ngôi vị của nước trong nhà

Có ba ngôi sao được Kỳ Môn gọi bằng ba cửa lành, và khi thêm hai sao nữa vào thì thành năm điểm tựa cho một dòng nước tốt.

"Tam cát ngũ cát" là điều mà thủy pháp rất ưa. Tam cát là Nhất Bạch, Lục Bạch, Bát Bạch; theo Kỳ Môn đó là các cửa Hưu, Khai, Sinh. Nhất Bạch là đầu của chín sao, thống lãnh các quẻ, đứng đầu tam hợp. Thiên khí giáng xuống, địa khí bốc lên, cũng là nơi dung chứa cao thấp. Khi hai đường Bát và Lục khác nhau mà tương sinh, kim cứng gặp thổ thì giàu sang cực độ, từ đó biết cách dùng Lục Bạch Bát Bạch cùng nhau tốt đến thế nào.

Còn "ngũ cát" là hợp tam ban mà kiêm thêm Tham Lang và Tả Phụ. Ví dụ vận 1 thượng nguyên lấy nước Nhất, Tam, Nhị phối với Lục, Bát. Vận 4 trung nguyên lấy nước Tứ, Ngũ, Lục phối với Bát, Nhất. Vận 7 hạ nguyên lấy nước Thất, Bát, Cửu phối với Nhất, Lục. Tóm lại bày tam cát ngũ cát đúng phép, nối liền không đứt thì phát phúc lâu dài mà không cần dùng sao thế.

Cách đọc ngũ cát của từng vận

Bạch Hạc Minh chỉ ra rằng trong Lạc Thư, Nhất Bạch ở phương Khảm, cửa Hưu của Kỳ Môn cũng ở Khảm; Lục Bạch ở Kiền, cửa Khai cũng ở Kiền; Bát Bạch ở Cấn, cửa Sinh cũng ở Cấn. Vì thế mới nói ba sao Nhất, Lục, Bát chính là ba cửa Hưu, Khai, Sinh của Kỳ Môn. Ngũ cát gồm vượng khí, sinh khí và tiến khí, cộng thêm hai trong ba sao cát Nhất, Lục, Bát.

  • Vận 1 thượng nguyên: Nhất Bạch là vượng khí, Nhị Hắc là sinh khí, Tam Bích là tiến khí, cộng ba sao cát; thêm hai sao cát là Lục Bạch và Bát Bạch (Nhất Bạch đã là vượng khí nên không dùng trùng), tổng cộng năm sao cát.
  • Vận 4 trung nguyên: Tứ Lục là vượng khí, Ngũ Hoàng là sinh khí, Lục Bạch là tiến khí; thêm Nhất Bạch và Bát Bạch (Lục Bạch đã là tiến khí nên không dùng trùng), tổng cộng năm sao cát.
  • Vận 7 hạ nguyên: Thất Xích là vượng khí, Bát Bạch là sinh khí, Cửu Tử là tiến khí; thêm Nhất Bạch và Lục Bạch (Bát Bạch đã là sinh khí nên không dùng trùng), tổng cộng năm sao cát.

Xét về âm trạch: phương vị nước ở bên ngoài như biển, sông, hồ, khe, suối được năm sao cát bay đến là thượng cát. Xét về dương trạch: phương vị nước trong nhà như bồn rửa tay, vòi nước, chậu cá vàng, bồn tắm cũng phải đặt ở phương có năm sao cát bay đến thì mới là thượng cát. Cách chia nước hỷ nước kỵ theo cung cũng đi theo tinh thần này.

Dương trạch: từ phố thị đến cánh cửa

Dương trạch có bộ luật riêng gồm ba mươi nguyên tắc, mở đầu bằng chuyện núi nước giữa phố thị, tinh bàn của nhà, hướng nhà và hướng cửa.

Thành thị khác thôn quê

Ở thôn quê khí hoán chuyển thông thoáng, nên lập nhà thì có cả núi lẫn nước là tốt. Ở thành thị khí tụ khó tán, nên tuy không có nước vẫn dùng được. Lấy chỗ lồi lõm, cao thấp của những nhà kế cận, độ rộng hẹp, thẳng cong, thấp trũng, uốn lượn của con đường làm nước; lấy những vật nhô cao làm núi. Bạch Hạc Minh giải thích: nếu nơi ở của mình ở tầng cao, nhìn xuống thấy mái nhà thấp bên cạnh hoặc một khoảng sân trống thì mái nhà hay sân trống ấy được luận là nước. Phép phân núi và nước dựa vào câu "cao hơn một thốn là núi, thấp hơn một thốn là nước". Vùng đất thấp là "hư thủy", con đường cũng là hư thủy. Nhà bên cạnh cao rộng hơn nơi ở của mình có thể luận là núi, vùng đất hơi nhô lên cũng có thể luận là núi.

Bày tinh bàn

Cách bày tinh bàn của dương trạch không khác âm trạch: lấy nguyên tắc thu khí của nguyên vận làm chủ, lấy phi tinh của sơn và hướng cùng khách tinh gia lâm làm dụng. Âm trạch coi trọng hướng nước, dương trạch coi trọng hướng cửa, vì hướng cửa là nơi nạp khí. Nếu ngoài cửa có nước hở, như con đường chẳng hạn, thì rất quan trọng; sự suy vượng cũng luận theo lý của sao ở phương vị con đường đương quyền, giống như luận sông nước. Bạch Hạc Minh nói thêm rằng thụ khí của nguyên vận, với âm trạch là nguyên vận của năm hạ táng, còn với dương trạch là nguyên vận lúc xây xong và vào ở. Về nguyên tắc cả hai trạch đều coi trọng hướng nước, chỉ có điều hướng nước của dương trạch không dễ tìm nên mới coi trọng hướng cửa.

Hướng nhà và hướng cửa

Với nhà mới xây, hướng nhà và hướng cửa đều quan trọng như nhau. Trước hết căn cứ sự được mất của lục sự theo hướng nhà để đoán; nếu không ứng nghiệm thì đoán theo hướng cửa. Hướng nhà đã ứng thì không cần tham khảo hướng cửa; ngược lại hướng cửa đã ứng thì cũng không cần xét hướng nhà.

Bạch Hạc Minh dẫn sách Bát Trạch Minh Kính: lục sự là cửa, đường xá, giếng, bếp, phòng vệ sinh, cối xay, đó là những tiện nghi cần thiết của một nơi cư trú. Nhà ở hiện đại phần nhiều không có giếng, khi xem phong thủy thì lấy nơi có vòi dẫn nước vào nhà để thay; hạng mục cối xay có thể thay bằng những tiện nghi liên quan đến điện như ti vi, máy tính. Hướng nhà và hướng cửa có phân biệt: giả sử một căn nhà vuông, trước sau phải trái là đông tây nam bắc, thì cửa có thể thiết kế ở một trong bốn phương, nhưng nhà chỉ có một. Chẳng hạn nhà tọa Tý hướng Ngọ mà cửa mở ở phía đông, tọa Mão hướng Dậu. Khi ấy trước hết bày tinh bàn theo hướng nhà để luận xem nhà xảy ra chuyện gì; nếu không chuẩn xác mới bày thêm một tinh bàn nữa theo hướng cửa tọa Mão hướng Dậu, rồi suy đoán trạch vận theo bàn ấy.

Hoàn cảnh của đường cuộc

Khi xem dương trạch, trước hết phải xét khí mạch hình thế sông núi xem có hợp cuộc không. Kế đó xét khí của đường lộ, nhà kế cận và các vật xung quanh như bảng hiệu, cột cờ, trụ điện, cây cổ thụ, xem chúng rơi vào cung của sao nào, rồi phân biệt suy vượng mà đoán cát hung. Bạch Hạc Minh nhấn mạnh rằng mọi vật bên ngoài nhà, dù là công trình hay thứ gì khác, đều phải căn cứ theo tinh bàn mà luận cát hung.

Mở cửa lớn lệch một bên

Dương trạch lấy cửa lớn, hoặc cổng, làm nơi nạp khí cho đầu hướng để đoán cát hung. Khi mở cửa lớn thì phải so sánh hai tinh bàn, hướng cửa lớn và hướng nhà. Bên ngoài tốt mà bên trong xấu thì khó tránh khuyết điểm; bên ngoài xấu mà bên trong tốt thì chỉ yên ổn bình thường.

Bạch Hạc Minh giải thích: nếu đã xác định rõ hướng nhà và dự định mở cửa lớn lệch một bên thì chỉ cần bày tinh bàn theo hướng nhà để đoán cát hung, không cần bày bàn của hướng cửa. Ý của lời trên là hướng nhà và hướng cửa mỗi bên chiếm nửa sức ảnh hưởng, vì khí nạp vào không thuần, tức phạm khí âm dương lẫn lộn. Hai câu "bên ngoài cát bên trong hung" và "bên ngoài hung bên trong cát" thì bên ngoài là hướng nhà, bên trong là hướng cửa.

Nhà lớn cửa nhỏ

Nhà và cửa cần lớn nhỏ tương xứng. Nhà lớn mà cửa nhỏ thì không tốt; nhưng nếu hướng nhà và hướng cửa đều vượng thì nhà lớn cửa nhỏ cũng không hại gì. Bạch Hạc Minh giải thích: nhà lớn cửa nhỏ mà phương hướng cửa cũng cát thì cửa giống như miệng bình, cát khí một khi đã vào nhà thì khó đi ra.

Mở cửa ở phương vượng

Nhà xây đã lâu mà muốn mở cửa ở phương vượng thì phải bày phi tinh theo vận lúc xây căn nhà ấy để tính. Ví dụ vận Nhất Bạch lập sơn Nhâm hướng Bính, vượng tinh đáo tọa, căn nhà này vốn không phải cát trạch. Đến vận Tam Bích mở cửa ở phương Giáp thì có thể thu vượng khí. Dựa theo thời gian lúc mới xây dựng, phi tinh Tam Bích ở hướng đến Chấn, qua vận 3 thì đắc lệnh, chứ không phải Chấn Tam của địa bàn. Nếu mở cửa Mão thì cũng cần kiêm Giáp để thông với khí đồng nguyên của sơn và hướng.

Bạch Hạc Minh giải thích: ngôi nhà này vận 1 sơn Nhâm hướng Bính là cách song tinh đáo tọa, bất lợi về tài vận. Khi sang vận 3 nên mở cửa ở phương Chấn, vì phương Chấn có sao Tam Bích bay đến; với vận 3, Tam Bích là vượng khí nên luận là đại cát. Ngoài ra, nhìn từ Huyền Không Đại Quái, phương Chấn ở vận 3 là chính thần nên cũng nên mở cửa. Điểm quan trọng là Chấn gồm ba sơn Giáp, Mão, Ất, nhưng chỉ nên mở cửa Giáp. Lý do là trong tam nguyên đại quái, Nhâm, Bính, Giáp, Canh là nguyên long cùng một khí âm dương, gọi là quẻ thuần thanh; mở cửa Mão hay Ất thì không hợp với quẻ của tọa hướng, vì Mão là thiên nguyên quái, Ất là nhân nguyên quái.

  • Thiên nguyên quái: dương là Kiền, Khôn, Cấn, Tốn; âm là Tý, Ngọ, Mão, Dậu.
  • Địa nguyên quái: dương là Giáp, Canh, Bính, Nhâm; âm là Thìn, Tuất, Sửu, Mùi.
  • Nhân nguyên quái: dương là Dần, Thân, Tỵ, Hợi; âm là Ất, Tân, Đinh, Quý.

Cửa mới ở phương vượng

Nhà sau khi mở cửa mới thì phép đoán có thể theo hướng cửa, không dùng hướng nhà. Đặt bếp, chia phòng cũng theo phương vị hướng cửa mà định. Vương Tắc Tiên giải thích: đây là trường hợp mở cửa mới ở phương vượng mà cửa lớn cũ bị bỏ hoặc đóng kín hẳn. Việc này cần phân biệt âm dương thuận nghịch ở phương vị hướng, không khác gì việc thừa thời hợp vận mà lập hướng. Nếu mở cửa mà thông được vượng khí, tức là lấy khí đồng nguyên; rồi chiếu theo lập cực hướng nhà lúc mới xây để đoán thì cũng được.

Bạch Hạc Minh nói ý nghĩa của đoạn này là một ngôi nhà cũ, đến vận nào đó mở cửa ở phương vị khác thì tinh bàn của nhà cứ theo hướng cửa mới mà bày. Truyền nhân của người lập thuyết là Vương Tắc Tiên nói rõ rằng trước hết phải đóng kín cửa lớn cũ không dùng, sau đó mới theo nguyên vận của cửa lớn mới mở để bày tinh bàn. Nếu nhà chỉ mở thêm cửa nhỏ, cửa lớn trước kia vẫn dùng, thì tinh bàn của nhà vẫn như trước khi mở cửa mới. Ví dụ một ngôi nhà vận 1 sơn Nhâm hướng Bính, mở cửa Bính; sang vận 3 sửa lại mở cửa Giáp thì thành tinh bàn vận 3 sơn Canh hướng Giáp.

Cửa vượng bị che khuất

Nhà mở cửa ở phương vượng mà phía trước có nhà che khuất, không nhận được khí theo đường thẳng, thì phải mở thêm một cửa nhỏ bên hông để thông với vượng khí; khi luận khí lộ của cửa nhỏ này không cần lập tinh bàn khác. Bạch Hạc Minh giải thích: cửa lớn là quan trọng, cửa nhỏ chỉ có tác dụng bổ trợ, nên tuyến vị tọa hướng của căn nhà không thể lấy theo tọa hướng của cửa nhỏ.

Về chuyện cửa mới ở nguyên tắc tám, Bạch Hạc Minh có kiến giải hơi khác. Ông cho rằng khi vận 3 sửa lại mở cửa mới, cửa trước đóng kín không dùng, thì tinh bàn tọa hướng vẫn lấy bàn của hướng nhà làm trọng, không cần bày bàn theo cửa mới. Nếu không, năm nay mở cửa Giáp thì thành sơn Canh hướng Giáp, năm sau mở cửa Canh lại thành sơn Giáp hướng Canh, một thời gian sau mở cửa Nhâm lại thành sơn Bính hướng Nhâm, tình trạng ấy là không đúng quy luật.

Nguồn: Nguyễn Vũ Anh, Thẩm Thị Huyền Không Học – Phong Thủy Trong Bối Cảnh Kiến Trúc Hiện Đại.

Kiều Oanh Trần

Tác giả

Kiều Oanh Trần

Nghiên cứu Mệnh lý - Tử vi - Tâm lý học

Theo dõi trên Facebook

Chia sẻ bài viết

FacebookXLinkedInZalo
Quay lại Đạo Gia