Chuyển đến nội dung chính
Quay lại Đạo Gia

Bài tổng quan

Thành môn chính và phụ, thủy pháp của Tư Mã Đầu Đà

Đạo Học - Đạo Gia07/10/202611 phút đọc1 lượt đọc
Thành môn chính và phụ, thủy pháp của Tư Mã Đầu Đà

Có một người đời Đường giấu cả bí quyết về nước vào mấy dòng nói chuyện ngựa và nai. Người đọc sau suốt nghìn năm tưởng đó là chuyện tam hợp quen thuộc, trong khi nó nói đến một thứ khác hẳn. Ngựa ấy là gì, nai ấy là gì…


Chiếu thần chính là thành môn

Có người hỏi "chiếu thần" là gì. Thẩm Trúc Nhưng đáp: chiếu thần tức là thành môn. Mỗi cuộc có một cặp số sinh thành làm bạn với số của hướng:

  • Sơn Dậu hướng Mão lấy Cấn làm thành môn: Tam Bát là bạn bè.
  • Sơn Tý hướng Ngọ lấy Tốn làm thành môn: Tứ Cửu là bằng hữu.
  • Sơn Mão hướng Dậu lấy Khôn làm thành môn: Nhị Thất là đồng đạo.
  • Sơn Ngọ hướng Tý lấy Kiền làm thành môn: Nhất Lục là cùng họ.

Đó là thành môn chính. Còn cách thành môn phụ thì như sơn Mão hướng Dậu ở vận 9: phương Kiền của thiên bàn là Nhất, cũng có thể luận Nhất là thành môn. Kiền của địa bàn là Lục, hợp với Nhất của thiên bàn thành Nhất Lục cùng họ; nơi ấy có chỗ ba ngả nước chiếu tới, cũng luận là có sức mạnh của thành môn. Nhất của thiên nguyên là Tý, Tý âm vào trung cung đi nghịch, cho nên được vượng tinh đáo Kiền. Các trường hợp còn lại cứ theo đó mà suy.

Tư Mã Đầu Đà và những dòng thủy pháp kín tiếng

Có người hỏi liệu có thật một người tên là Tư Mã Đầu Đà, vì sách "Thủy Pháp" mang tên ông cũng nói chuyện tam hợp nhưng khác với thuyết Thân Tý Thìn. Câu đáp: trong "Giang Tây thông chí" có chép tiểu sử ông, tên là Hi, người đời Đường. Thủy pháp của ông đúng là bí quyết thành môn, chỉ vì lời lẽ kín đáo nên người học khó hiểu. Ông viết rằng Ất Giáp Cấn kiêm Đinh Bính Tốn, Tân Canh Khôn và Quý Nhâm Kiền, và trong Giáp Ất có hàm chứa chữ Mão. Giải ra:

  • "Trong Giáp Ất hàm chứa chữ Mão" nói sơn Dậu hướng Mão lấy Cấn làm thành môn.
  • "Trong Bính Đinh hàm chứa chữ Ngọ" nói sơn Tý hướng Ngọ lấy Tốn làm thành môn.
  • "Trong Tân Canh hàm chứa chữ Dậu" nói sơn Mão hướng Dậu lấy Khôn làm thành môn.
  • "Trong Quý Nhâm hàm chứa chữ Tý" nói sơn Ngọ hướng Tý lấy Kiền làm thành môn.

"Tam hợp" ở đây là vận hợp, sơn hợp, hướng hợp với thành môn; thực chẳng phải hai chữ "Tam Hợp" của người theo phái Tam Hợp ngày nay.

Đến tiết nói rằng Kiền cung là chính mã, Giáp phương là nơi tìm; còn tá mã thì ban đầu ở trên Bính, ông dùng chữ "mã" (ngựa) chỉ nước, chữ "lộc" (nai) chỉ sơn. Câu "Kiền cung chính mã Giáp phương cầu" nói sơn Kiền hướng Tốn có thành môn ở cung Chấn. Câu "tá mã nguyên lai Bính thượng du" nói có hai thành môn: bên trái là chính mã (thành môn chính), bên phải là tá mã (thành môn phụ), tức ở phương Ly có một thành môn. Tiết "Tốn Canh Quý kiêm Kiền Giáp Đinh" thì chữ "kiêm" bị chép nhầm thành chữ khác; Tân Canh Quý là nói sơn Tốn hướng Kiền có thành môn ở hai cung Đoài Khảm, còn Kiền Giáp Đinh là nói sơn Kiền hướng Tốn có thành môn ở hai cung Chấn Ly.

Tiết "Kiền sơn Tốn thủy xuất triều cung" nói rằng thiên nguyên Tam vào trung cung bay nghịch, Thất tới Tý là vượng tinh đáo thành môn; vận 8 ái tinh là Tứ, Tứ là Tốn dương nên không dùng; vận 9 ái tinh là Ngũ, Ngũ là Kỷ âm (Cửu là Ngọ âm nên Ngũ vào trung cung cũng dùng Kỷ âm), Ngũ vào trung cung thì Cửu tới Tý, là vượng tinh đáo thành môn. Tóm lại, khi vận dụng bí quyết thành môn cũng phải cẩn thận chú ý sự bố trí sinh khắc, còn lại cứ theo đó mà suy.

Các sách chú giải bí quyết thành môn đều chưa thấu triệt chỗ này, chỉ có Ôn Minh Viễn nói rằng không thể thiếu sao đốc lệnh của đương nguyên khi bố tới thành môn. Thẩm Trúc Nhưng kể rằng sau khi suy ngẫm kỹ câu ấy ông mới hiểu phép này.

Một bí quyết duy nhất và cách xử lý khi gặp loạn

Có người tự chia bốn mươi tám cuộc ra từng vận để bố lần lượt rồi mới hiểu, và hỏi có khác bí quyết của ông không. Đáp: chỉ có một bí quyết thành môn. Phàm lệnh tinh là thượng sơn hạ thủy đều là dương vào trung cung mà đi thuận. Còn lệnh tinh là đáo sơn đáo hướng đều là âm vào trung cung mà đi nghịch. Cho nên thành môn gặp sao âm vào trung cung thì được vượng tinh bố tới. Khi phải táng giữa buổi loạn lạc thì dùng cách bố theo bí quyết thành môn: nếu vượng tinh đáo thành môn thì tạm hạ táng được; nếu không được thì chi bằng táng vào miếng đất trống. Còn nếu dùng sơn hướng đương vượng mà tạm táng (chờ dịp cải táng) thì cũng tạm giữ được sự bình an cát lợi cho gia đình.

Bốn nơi thủy khẩu lớn và chỉ vận Năm mới dùng

Có người thắc mắc họ Tưởng bác thuyết "tứ đại thủy khẩu" trong sách "Ngọc Xích", vậy mà ông thấy một thầy khác lại xem trọng bí quyết ấy khi đoán mộ. Phải chăng họ Tưởng cũng có chỗ sai? Thẩm Trúc Nhưng đáp: họ Tưởng không sai, ông cũng không sai. Phái Tam Hợp ngày nay cho rằng tứ đại thủy khẩu Thìn Tuất Sửu Mùi chỉ cần dùng ở vận 5 thì không sai: vận 5 bốn chữ này đều thuộc âm, lấy bí quyết thành môn mà đoán thì chữ nào cũng đương lệnh, há chẳng toàn mỹ sao. Ông từng đoán mộ trong vận 5 nên biết tứ đại thủy khẩu chỗ nào cũng đương lệnh, còn sang vận khác thì không dùng được.

Người ấy hỏi tiếp: vậy các thủy cuộc tam hợp như Dần Ngọ Tuất, Thân Tý Thìn, Tỵ Dậu Sửu, Hợi Mão Mùi có dùng được không? Đáp thẳng: không được. Dần Thân Tỵ Hợi trong vận 5 chữ nào cũng dương; Tý Ngọ Mão Dậu, Thìn Tuất Sửu Mùi trong vận 5 chữ nào cũng âm, làm sao đúng được. Họ Tưởng biện luận về tứ đại thủy khẩu trong "Khai Tông Minh Nghĩa" rằng tứ đại thủy khẩu thật ra có chỗ chí lý của nó. Đủ biết tứ đại thủy khẩu trong vận Năm phân ra Thìn Tuất Sửu Mùi, Tý Ngọ Mão Dậu, Ất Tân Đinh Quý rất rõ; chẳng qua họ Tưởng viết úp mở.

Chí Y nói thêm rằng Ôn Minh Viễn cho thủy pháp vốn khúc chiết, uốn lượn giao nhau trùng trùng trong hai mươi bốn sơn; đại thủy long phải cùng một khí thiên nguyên, không được pha tạp với hai nguyên nhân và địa. Biết đạo lý kỳ diệu của đoạn này là hiểu bài ca quyết "Huyền Quan Đồng Khiếu"; phần lời của ông ghép vào bài ca quyết đó cũng thông lý, đúng là lời thật về công dụng thành môn.

Thành môn là yết hầu của khí

Bạch Hạc Minh nêu định nghĩa thông thường: thành môn là hai bên đầu hướng của nước (chỗ ba ngả nước gặp nhau) hoặc chỗ nước ra vào, tục gọi là "thủy khẩu". Thành môn chia hai loại là chính mã (thành môn chính) và tá mã (thành môn phụ).

  1. Thành môn chính lấy bàn nguyên đán của hậu thiên bát quái làm chủ; nếu cùng hướng hợp thành Nhất Lục cùng họ, Nhị Thất đồng đạo, Tam Bát bạn bè, Tứ Cửu bằng hữu thì được.
  2. Thành môn phụ là loại không tương hợp với hướng.

Về dương trạch, "thành môn" là ngã tư đường, cửa khẩu của bến cảng, nơi người ra vào đông như cửa lớn, hoặc chỗ nước đến, nước đi. Thành môn giống như yết hầu của con người, là cổng thành để khí ra vào, không nhất định nằm hai bên hướng. Có thể là:

  • chỗ ba ngả sông nước giao nhau;
  • cửa khẩu nơi sông nước chảy vào chảy ra;
  • chỗ sông nước uốn khúc (đường sá uốn khúc cũng vậy);
  • điểm giữa của ao hồ, hoặc hai bên trái phải ao đầm (hình tròn mà ánh sáng tỏa ra đẹp nhất), hoặc chỗ nước tụ lại;
  • ngọn núi đẹp, nhọn hay tròn.

Có một trong các điều kiện kể trên thì đem ái tinh Huyền Không bố vào vận bàn; nếu gặp vị trí nào biến được thành sao âm của vận tinh, thì chỗ đó dùng được bí quyết thành môn. Nhưng phải phối hợp với tọa sơn cùng nguyên: thiên nguyên phối thiên nguyên, địa nguyên phối địa nguyên, nhân nguyên phối nhân nguyên, nếu không thì trái lại thành kiếp tài hay sát khí, hại gia đạo. Khí của thành môn và khí của trung cung không được khác nhau mới có tác dụng. Thành môn chính có lực mạnh, thành môn phụ kém hơn.

Ví dụ vận 6, sơn Giáp hướng Canh

  1. Thành môn chính: quẻ Khôn biến thành Tam (quẻ Chấn), tức Giáp Mão Ất. Thành môn phụ: quẻ Kiền biến thành Thất (quẻ Đoài), tức Canh Dậu Tân.
  2. Sơn Giáp hướng Canh là địa nguyên long nên thành môn cũng phải lấy địa nguyên long để đối: Tam (Giáp) và Thất (Canh). Giáp Canh đều dương nên bố thuận.
  3. Bố tới Mùi là Cửu (Tam vào trung cung), tới Tuất là Bát (Thất vào trung cung); đều không phải Lục đương lệnh nên không làm thành môn được.
  4. Như vậy phải biến thành sao âm vào trung cung đi nghịch mới đắc lệnh.
  5. Tra toàn bàn, chữ thứ nhất của mỗi quẻ (địa nguyên long) có thể biến làm sao âm: Canh quẻ Đoài biến thành Bát (Sửu), Thìn quẻ Tốn là Ngũ (không biến, vẫn là Thìn), Nhâm quẻ Khảm biến thành Nhị (Mùi), Giáp quẻ Chấn biến thành Tứ (Thìn).

Những chữ ấy vào trung cung đều đắc lệnh nên đều vượng, nhưng còn phải phân biệt sơn vượng hay nước vượng mà đoán. Xem bàn thứ nhất: mỗi chữ vào trung cung khi quay về bản cung đều là sao Lục Bạch đương lệnh. Xem bàn thứ hai: Giáp ở cung Chấn là vượng khí của sơn (sơn tinh Lục), Nhâm ở cung Khảm là sinh khí của sơn (sơn tinh Bát, lại là sao Tả Phụ). Vì vậy hai phương Giáp Nhâm cần có núi tròn nhọn đẹp, chủ về con trưởng, người con thứ ba xuất quý nhân.

Canh ở cung Đoài là vượng khí của nước (thủy tinh Lục), Thìn ở cung Tốn là sinh khí của nước (thủy tinh Cửu). Nếu hai phương Canh và Thìn có sông nước ao hồ đẹp thì phương Canh chủ về con trưởng, người con thứ ba phát tài phát quý; phương Thìn chủ về con gái lớn, con gái thứ phát tài, xuất quý nhân.

Bốn điều cần nhớ khi dùng bí quyết thành môn

  1. Núi bao bốn mặt cuộc đất mà chỉ khuyết một cửa, và cửa khuyết ấy hợp với ái tinh của bí quyết thành môn thì dùng được. Nếu cửa khuyết trống quá nhiều thì không dùng được, vì đó là cách "đột phong sát" bắn vào huyệt, không tốt.
  2. Dùng bí quyết thành môn chỉ giới hạn trong thời đương vận. Sang vận khác mà ái tinh của vận không đi nghịch được thì suy bại ngay. Lúc ấy nếu gặp đúng vượng sơn vượng hướng thì có thể tu tạo, thay bia mộ để khởi vận mới, đón vượng khí của nguyên vận mới.
  3. Được bí quyết thành môn trợ giúp thì phát đạt lớn và nhanh hơn "vượng sơn vượng hướng", nhưng chỉ nên bất đắc dĩ dùng tạm khi gặp loạn mà chưa tìm được cuộc đất tốt hơn. Cách tốt nhất vẫn là lập vượng sơn vượng hướng, vì như thế mới được lâu dài.
  4. Ngoài ra còn có phép dùng "ám thành môn": vận bàn bố Ngũ (bàn thứ nhất), thiên bàn và nguyên đán bàn hợp sinh thành (bàn thứ hai), bố ái tinh như sau: Nhất đáo Kiền, Nhị đáo Đoài, Tam đáo Cấn, Tứ đáo Ly, Lục đáo Khảm, Thất đáo Khôn, Bát đáo Chấn, Cửu đáo Tốn. Vận bàn bố Ngũ cần nằm ở hai bên hướng, và còn cần đồng nguyên.

Nguồn: Nguyễn Vũ Anh, Thẩm Thị Huyền Không Học – Phong Thủy Trong Bối Cảnh Kiến Trúc Hiện Đại.

Kiều Oanh Trần

Tác giả

Kiều Oanh Trần

Nghiên cứu Mệnh lý - Tử vi - Tâm lý học

Theo dõi trên Facebook

Chia sẻ bài viết

FacebookXLinkedInZalo
Quay lại Đạo Gia