Bài tổng quan
Sứt môi, bia tu sửa phạm phục ngâm và mộ thám hoa
Một đứa trẻ sinh ra với môi dưới sứt, đúng như chỗ khuyết của ngọn núi chầu phía trước ngôi mộ. Có tấm bia dựng thêm khiến nhà cả sa sút còn nhà hai lại phất lên. Còn chủ nhân nghe địa sư chê núi không ngay, chỉ cười khi người xem đất bảo lỗi nằm ở một ngôi sao…
Mục lục · 5 phần
- 01Cải táng theo hướng cũ ở vận 6 và đứa trẻ sứt môi
- 02Mộ họ Kinh: phòng lớn bất lợi, phòng hai phát, rồi sa sút rồi khởi sắc
- 03Dựng bia tu sửa ở vận 4: phòng hai phát, phòng trưởng đại bại
- 04Sơn Tý hướng Ngọ ở vận 3: nước nguồn ở phương Mão và phát muộn
- 05Mộ họ Nghiêm: ngọn núi trạng nguyên lệch và chuyện thám hoa
Cải táng theo hướng cũ ở vận 6 và đứa trẻ sứt môi
Khi ngôi mộ sơn Tỵ hướng Hợi được cải táng ở vận 6 mà vẫn giữ hướng cũ, Thẩm Trúc Nhưng thấy kết quả là tài và đinh đều vượng, vì hướng bàn lẫn sơn bàn đều có song Lục đến hướng. Nhưng vận tinh ở hướng lúc ấy là Thất, vượng tinh là Lục; Thất là miệng lưỡi thị phi, Lục là việc quan, nên kiện tụng nhiều. Môi dưới của núi chầu có chỗ khuyết nên trong nhà có người sứt môi.
Qua vận 7, tài đinh suy thoái vì hướng tinh nhập tù. Tuy vậy về công danh vẫn xuất hiện nhiều người đỗ tú tài và sinh cống, bởi phương Cấn là Tứ, vận 7 vận tinh bay tới Cấn là Nhất; phương Khôn là Nhất, vận 7 bay tới Khôn là Tứ. Cả hai nơi đều được Nhất Tứ đồng cung nên khoa cử vẫn phát. Đến vận 8 thì bình bình.
Tắc Tiên chỉ rằng ở vận 6, sơn Tỵ hướng Hợi tuy cả hai bàn đều có vượng tinh đáo hướng, nhưng lại phạm phục ngâm toàn bàn, nên không được hành động khinh suất. May là phía trước huyệt thông thoáng, khí của nó là khoảng trống nên biến hung thành cát. Nhưng địa vận quá ngắn, đến vận 8 thì nhập tù do phi tinh Bát ở hướng tới sơn.
Bạch Hạc Minh giải thích rằng chỗ khuyết ở môi dưới là hình dáng Loan Đầu: triều sơn trước huyệt có chỗ trũng thiếu; người sứt môi ứng vào phòng nhỏ. Đến vận 8 cuộc này vốn nhập tù, nhưng nếu ruộng ở phương Tốn thấy có nước thì nhập tù mà không trụ.
Mộ họ Kinh: phòng lớn bất lợi, phòng hai phát, rồi sa sút rồi khởi sắc
Một ngọn núi nhỏ chắn sát cửa nước và vài vì sao đứng sai chỗ đủ làm đổi hướng cả vận may của một dòng họ.
Ngôi mộ sơn Tỵ hướng Hợi, vận 3. Long theo phương Tốn Tỵ nhập thủ, Bạch Hổ sa ôm hữu tình và có lực, thế rồng khá lớn. Phương Đoài có nước phóng sáng, phương Khảm có sông chảy ngang, phương Cấn có ngọn núi nhỏ chặn gần thủy khẩu.
Chương Trọng Sơn nói sau khi táng ở vận 3 thì phòng lớn bất lợi, các phòng khác bình bình. Thẩm Trúc Nhưng giải thích phòng lớn bất lợi vì Chấn là trưởng nam mà quẻ Chấn lại phạm thượng sơn hạ thủy. Ở hai vận 5 và 6, phòng hai vượng đinh phát tài vì phương Đoài có nước. Đoài vốn là Lục, ứng phòng trưởng; nay phát lại là phòng hai, cho thấy lúc ấy phòng trưởng đã tuyệt tự. Vận 7 gặp nhiều kiện tụng vì phương Cấn có Thất Lục đồng cung lại có núi; vì vậy hai vận 7 và 8 tài khí giảm nhiều, đến vận 9 khởi sắc trở lại vì phương Khảm là Cửu và có nước chiếu.
Tắc Tiên cho biết vào vận 4 hướng tinh nhập tù, địa vận chấm dứt. Nhưng nhờ Liêm Trinh ở đầu hướng, sức của nó chí đại chí tôn không sao nào sánh được, lại thêm nước chảy ngang ứng chiếu. Qua vận 5 thu được cả tài lẫn đinh mà tránh được cái bệnh hướng tinh nhập trung cung. Vận 6 nước của bàng khí đắc lệnh, Lục ở phương Đoài gặp khách tinh Bát Bạch cùng tới, thổ sinh kim nên đúng là long chân huyệt. Sau thời gian nhập tù cũng được trung hưng, chỉ là về sau không phát trọn vẹn. Bởi vậy thể và dụng không thể thiên lệch một bên. Cổ thư nói Ngũ đến đầu hướng mà có nước ứng chiếu thì luận là tù mà không trụ.
Bạch Hạc Minh thêm một lẽ vì sao phòng trưởng bất lợi: long thần ở sơn của hướng Hợi là sao Tam Bích, mà Tam Bích phạm hạ thủy; xét địa bàn thì phương hạ thủy là Kiền, Kiền cũng chủ phòng trưởng, nên suy ra phòng trưởng bất lợi.
Dựng bia tu sửa ở vận 4: phòng hai phát, phòng trưởng đại bại
Cùng một mảnh đất, một tấm bia mới dựng đúng vận khiến phúc chảy sang phòng này và rời khỏi phòng kia.
Với ngôi mộ ấy, Thẩm Trúc Nhưng thuật rằng đến vận 4, theo hướng cũ lập bia tu sửa, thì phòng hai vào vận 6 phát lớn tài đinh còn phòng trưởng đại bại. Phi tinh Tứ ở hướng đến sơn, Tứ là Tốn, tức là trưởng; lại thêm Lục Bạch bay tới Kiền, phạm phục ngâm, nên bại. Phòng hai vận 6 phát vì phi tinh Nhị ở sơn đến hướng, đồng cung với Lục Bạch. Vận 7 tài khí cũng tốt vì phương Đoài có nước, nhưng kiện tụng nhiều vì phương Đoài có Lục Thất đồng cung: Lục là việc quan, Thất là lời qua tiếng lại. Chỉ phòng hai phát vì nước ở Đoài là Thất mà Thất là nhỏ. Đến vận 8 bình bình vì phương Cấn có núi. Cuộc đất này vốn sơn thủy đảo nghịch nên không cát lợi, nhưng vẫn phát vì là long chân huyệt. Vận 4 sau khi dựng bia tu sửa, rồng được vượng long, lại được phi tinh ở hướng đến cả sơn lẫn hướng, Tứ Lục hợp thập.
Tắc Tiên nhắc lại ca quyết trong “Bí Cấp” có tên Huyền Không Ngũ Hành chân quyết: hướng được vượng tinh lại có nước tốt chiếu thì tài và đinh ngày một hưng thịnh; ra khỏi vận ấy thì gọi là sát tú, và sao chưa tới thì không dùng được. Gặp phản ngâm phục ngâm thì cần đắc lệnh; ra khỏi vận ấy họa hoạn tới ngay. Điều đó có nghĩa trong tám phương, hễ sơn và hướng phạm phản ngâm phục ngâm thì khó tránh tai họa; đương lúc đắc lệnh, nếu phối hợp đúng với Loan Đầu vẫn phát, nhưng ra khỏi vận ấy tai họa ập xuống. Ngôi mộ này sau khi tu sửa bia ở vận 4, Tốn Tứ và Kiền Lục đều phạm phản phục ngâm nên phòng trưởng đại bại. Sao chưa tới không dùng được ở đầu hướng, vì khi vận tới thì sao nhập tù.
Còn nói phòng hai vận 6 phát lớn tài đinh thì lý do là tù mà không trụ. Hướng tinh Ngũ Hoàng nhập trung cung là Hoàng Cực ngồi chính vị, chí đại chí tôn, sao có thể bị tù. Kim cứng ở đầu hướng gặp thổ, nước sáng đối nhau, lại được tù mà không tù nên vận hưng thịnh trở lại. Thất tới cung Đoài tuy phạm phục ngâm nhưng có nước nên không kỵ, đương vận còn thành cát; vì thế mới nói phản ngâm phục ngâm cần phải đắc lệnh.
Bạch Hạc Minh kết luận: khi phương vị của sơn và hướng phạm phản ngâm phục ngâm thì vấn đề trở nên cực kỳ nghiêm trọng; đương vận thì không sao, nhưng một khi thất vận thì tai họa lập tức xuất hiện. Cuộc này vào vận 7 tài đinh đại lợi vì long thần thủy ở phương Đoài gặp nước.
Sơn Tý hướng Ngọ ở vận 3: nước nguồn ở phương Mão và phát muộn
Có cuộc đất không phát lúc mới táng; người xem đất bảo phải đợi một ngôi sao khách từ xa tiến tới đầu hướng.
Ngôi mộ của Kế Trung Đường, sơn Tý hướng Ngọ kiêm Nhâm Bính, lập vào vận 3. Long đến từ phương Kiền Hợi, vòng qua Khảm nhập thủ; phương Cấn có hồ nước; phương Khôn có nước uốn khúc tới Ly thì mở thành biển hồ, rồi chảy tới Tốn thì mất. Phương Đoài có ruộng thấp, nơi kết huyệt cũng là ruộng thấp.
Chương Trọng Sơn viết: sơn Mão hướng Mão, Mão là nguồn nước, đúng với toàn cuộc quẻ Giang Tây, nên lúc mới táng không phát, đến vận 6 mới đại phát phú quý.
Thẩm Trúc Nhưng giải thích: cuộc này vượng tinh ở hướng đáo hướng; phi tinh ở sơn dùng biến quái, Thất nhập trung cung bay thuận, vượng tinh đáo sơn là Tam, tức Mão. Câu sơn Mão hướng Mão nguồn nước Mão ứng vào việc phương Ly mở thành biển hồ lớn. Vận và hướng hợp thập là rất tốt; hai phương Cấn Khôn là Nhất Tứ đồng cung, đều có nước phóng sáng chiếu huyệt, nên tại sao lại không đại phát phú quý. Lúc mới táng không phát, đến vận 6 ắt đại phát, vì quẻ Giang Tây là địa nguyên, địa nguyên kiêm thu Tham Lang nên không phải chính vận, lực ở kề bên chưa chuyển tới nên chậm. Đến vận 6, khách tinh Tham Lang đáo hướng, nước sinh mộc, nên nhanh chóng phát phú quý, không như những cuộc nhờ thời mà phát tạm.
Tắc Tiên cho đây là cuộc bối sơn diện thủy, tức sau lưng là núi, mặt trước là nước. Long thủy của hướng được vượng thần Tam Bích nên mới viết sơn Mão hướng Mão nguồn nước Mão, hợp với toàn cuộc quẻ Giang Tây; quẻ này khởi lên ở phương đông, xét về quẻ thì thuộc Chấn và số của nó là Tam. Điều ấy cũng khớp ba cuộc trong “Thiên Ngọc kinh”: sơn Kiền hướng Kiền nước chầu Kiền; sơn Ngọ hướng Ngọ, Ngọ tới minh đường; sơn Khôn hướng Khôn, nước chảy tới Khôn. Phụ mẫu là trung khí của quẻ. Vận và hướng toàn bàn hợp thập, nhận được khí thâm viễn từ xa, lại thế đất rộng lớn nên phát hơi chậm; cần đợi sao đầu hướng được sinh vượng phù trợ, khách tinh Tham Lang gia lâm, nước đến sinh mộc, sau đó mới phú quý. Không thể câu nệ theo phép xem các cuộc đất nhỏ, vì thế thừa thời thúc đẩy mà phát tạm.
Bạch Hạc Minh nói thêm rằng việc vận 6 vượng là vì sao Tham Lang đến hướng: vận tinh của vận 6 là Tham Lang Nhất Bạch Khảm tới phương vị hướng; theo lý của Hà Đồ, Nhất Lục là cùng họ, Nhất là chiếu thần của Lục, nên luận cát.
Mộ họ Nghiêm: ngọn núi trạng nguyên lệch và chuyện thám hoa
Địa sư nói ngọn núi không ngay nên chỉ được hạng ba; người xem đất lại chỉ vào một ngôi sao đứng lệch chỗ.
Ngôi mộ tổ của Nghiêm Thám Hoa lập sơn Thìn hướng Tuất, vận 3. Mạch phát từ hai ngọn núi cao ở phương Cấn, kéo dài thành môi hơn mười trượng; hai bên có sa ôm thật chặt; phương Mão có nước kề bên; ba phương Tốn, Ly, Khôn là hồ lớn, ngoài hồ có núi; phương Kiền có ngọn núi nhô lên rất đẹp, chỉ có điều đỉnh hơi nhọn mà không ngay thẳng.
Chủ nhân kể rằng lúc táng, địa sư tiếc là ngọn núi trạng nguyên bất chính, và nói sang năm sau ắt đỗ thám hoa. Chương Trọng Sơn đáp: chuyện đỗ thám hoa chẳng liên quan đến ngọn núi không ngay như vị địa sư nói, mà do ái tinh Nhất Tứ đồng cung hơi bất chính. Chủ nhân hỏi ái tinh sao lại thiên lệch; ông chỉ cười mà không trả lời.
Thẩm Trúc Nhưng giải thích ái tinh Nhất Tứ thiên lệch vì vận tinh Tứ tới hướng, lại lấy Nhất ở sơn tới hướng chứ không phải Nhất ở hướng tới hướng. Tắc Tiên nói vận 3 thì Thìn Tuất vượng và vững; nhưng cuộc này lại nghiêng về phía sau tọa có nước, ở hướng có núi. Lý Khí và Loan Đầu trái nghịch nhau, những năm đầu chưa chắc đã lợi, huống chi địa vận rất ngắn. Năm sau đỗ thám hoa là vì cuộc đất này là long chân huyệt, triều sơn đẹp, ở hướng lại được Nhất Tứ đồng cung; chính vì vận ngắn nên mới phát quý như vậy.
Bạch Hạc Minh nhận xét trạch này vượng tinh đáo sơn đáo hướng nhưng đáng tiếc Loan Đầu sơn thủy điên đảo; mộ thuộc cách cuộc tọa thủy triều sơn, tức dựa vào nước mà núi tới chầu, ngược với thông thường là dựa vào núi mà nước tới tụ. Vì thế đáo sơn đáo hướng biến thành cách cuộc thượng sơn hạ thủy theo Loan Đầu, những năm đầu tài đinh đều bại. Qua đó có thể thấy sự phối hợp giữa Lý Khí và Loan Đầu quan trọng thế nào.
Nguồn: Nguyễn Vũ Anh, Thẩm Thị Huyền Không Học – Phong Thủy Trong Bối Cảnh Kiến Trúc Hiện Đại.
