Chuyển đến nội dung chính
Quay lại Đạo Gia

Bài tổng quan

Dáng năm sao, phép đảo trượng và thế nước giữ cửa huyệt

Đạo Học - Đạo Gia06/10/202610 phút đọc0 lượt đọc
Dáng năm sao, phép đảo trượng và thế nước giữ cửa huyệt

Gặp chỗ đất toàn hung mà vẫn tìm ra huyệt tốt thì khác nào leo cây bắt cá, nhưng người xưa có một phép gọi là đảo trượng: mạch thẳng chọn thế cong, mạch cong chọn thế thẳng, bỏ chết lấy sống, bỏ thô lấy non. Rồi họ xem dáng Kim, Mộc, Thủy, Hỏa, Thổ để biết núi sinh hay khắc. Vì sao nước vừa qua huyệt đã chảy ngược ra thì không đáng một đồng?


Núi chụm lại mà nước chảy xéo thì hung

Thế núi quý ở chỗ đoàn tụ, thế nước quý ở chỗ uốn quanh. Nơi các đỉnh núi quây quần mà dòng nước lại chảy chếch đi thì không cát lợi. Ngược lại, nước uốn lượn mà thế núi tản loạn thì rốt cuộc chỉ gọi là vô tình, không có tình nghĩa.

Phép đảo trượng: tìm huyệt tốt giữa đất hung

Tìm cát huyệt giữa vùng hung địa chẳng khác gì leo cây bắt cá. Làm được việc khó như thế tức là đã nắm vững cái hay của phép đảo trượng.

Trước hết phải nắm được hình tượng của sao, xem khí mạch là sống hay chết, gấp hay thư thả, mạnh hay yếu, thuận hay nghịch. Sau đó xem chỗ nhập thủ ra sao, sự đón tiếp ra sao. Mạch đến chính diện thì lấy thế xiên, mạch xiên thì chọn thế chính diện. Mạch thô thì lấy chỗ non trẻ, mạch tán thì chọn chỗ tụ. Mạch thư thả thì tìm chỗ đối chọi, mạch gấp thì chọn chỗ thư thả. Song mạch thì chọn cái ngắn, đơn mạch thì chọn chỗ nhô. Mạch thẳng lấy chỗ cong, mạch cong chọn chỗ thẳng. Chỗ cao thì không để gió thổi, chỗ thấp thì không để đứt mạch. Âm đến thì dương nhận, dương đến thì âm nhận.

Khi tạo huyệt, hoặc bỏ chết chọn sống, hoặc bỏ thô lấy non, hoặc bỏ tối lấy sáng, hoặc bỏ sáng lấy tối. Bên trong nhờ sinh khí, bên ngoài nhờ đường khí, trong ngoài phù hợp mới là chân huyệt. Chỉ cần một điểm không thuận là đã thành huyệt giả. Đó là bí quyết dựa vào sinh khí, còn gọi là đảo trượng pháp. Phép này có thuận trượng, nghịch trượng, khai trượng, xuyên trượng, ly trượng, nhất trượng, đối trượng, tiệt trượng, thuần trượng, phạm trượng, và rất huyền diệu.

Dáng của năm sao

Phải nắm bí quyết phong thủy mới phân được thật giả, và bí quyết ấy là quan sát kỹ tám phương và ngũ tinh. Tám phương là tám hướng. Ngũ tinh là năm sao Kim, Mộc, Thủy, Hỏa, Thổ. Bài ca ngũ tinh nói: Mộc thẳng, Kim cong, Thổ nằm ngang, Hỏa nhọn hướng nam, Thủy ngoằn ngoèo như rắn bò.

Điều quý của tinh tú là chuyển biến không ngừng. Tinh tú là các đỉnh nhọn trên thân long mạch, và chuyển biến là sự biến hóa của chúng. Họ Lưu viết: phàm chọn đất cát lợi trước hết phải xem long đến. Cách xem long là nhìn một ngọn núi tú lệ có tình, hoặc một đỉnh cao sau khi quá mạch lại vút lên. Các đỉnh núi muôn hình vạn trạng nhưng đều có hình ngũ tinh, và ngũ tinh biến hóa thành cửu tinh. Sự biến hóa ấy rất đa dạng: Kim tinh khởi từ tổ tông sơn biến thành Thủy tinh, Thủy tinh biến thành Mộc tinh, Mộc tinh biến thành Hỏa tinh, Hỏa tinh biến thành Thổ tinh, Thổ tinh lại biến thành Kim tinh. Chúng từ ngàn dặm chạy đến, phân nhánh hưng vượng thì là đất quý, đại cát lợi.

Gặp cảnh ngũ tinh xung khắc nhau thì quý ở chỗ có tinh tú khác cứu giúp. Chẳng hạn long đi bằng Kim tinh mà huyệt dựng ở Mộc tinh: Kim khắc Mộc, Mộc tinh là sao hung, nhưng nếu hai bên có Hỏa tinh chế ngự hoặc Thủy tinh cứu trợ thì vẫn thành đất quý.

Bài ca cửu tinh tả hình các sao: Tham Lang là sao cát như măng mới nhú khỏi đất. Vũ Khúc tôn quý như vầng trăng mới tròn. Tả Phụ như cái chuông. Liêm Trinh như chiếc dù rách. Phá Quân là sao hung như dãy chậu bày ra. Lộc Tồn cũng hung, trông như ngôi nhà xiêu vẹo. Văn Khúc như tấm lưới giăng. Hữu Bật như tấm chăn dạ. Cự Môn như chiếc án thư thẳng nhọn. Muốn hiểu sự biến hóa của thân long thì trước hết phải biết hình dạng của chín sao.

Hình dạng long quý ở chỗ đặc sắc. Long tuy quý ở sự biến hóa, nhưng hình dạng đặc biệt thì càng tôn quý. Đặc sắc nghĩa là vượt trội, khác hẳn đồng loại, tượng sao đoan chính, khí thế uy nghiêm. Nếu Thổ tinh không giống Thổ tinh, Kim tinh không giống Kim tinh thì hình thế tạp loạn. Hỏa tinh chẳng ra Hỏa tinh, Mộc tinh chẳng ra Mộc tinh thì người ta kinh sợ không biết đâu mà lần. Hình sao không đặc sắc mà tạp loạn thì không phải quý long, nên bỏ ngay.

Kim thanh, Thổ trọc, Hỏa táo, Thủy nhu

Kim tinh ắt phải thanh: tính trong sáng, dáng thanh tú. Cao vút là Thái Dương, thấp nhỏ là Thái Âm. Khi vận hành giống loan phượng bay lượn. Kết huyệt thì lấy phần giữa hoặc góc nhọn.

Thổ tinh ắt phải trọc: tính thuần hậu, dáng vuông vức, khi vận hành như bình ngọc, như thư vàng. Nếu dùng Thổ tinh kết huyệt mà trong bụng Thổ có Kim thì lấy phần giữa hoặc góc nhọn. Góc nhọn cùng loại với Hỏa, Thổ có Hỏa thì thêm ấm áp, sinh ra vạn vật.

Hỏa tinh ắt phải táo: tính nóng nảy, dáng nhọn và nghiêng, phần nhiều là tổ tông sơn, tạo thế lầu điện. Khi kết huyệt thì như hình cây liềm.

Thủy tinh ắt phải nhu: uốn lượn nên gọi là nhu, dáng khúc chiết, thiên về động, tính thiếu trung chính. Khi vận hành như thế rắn bò. Khi kết huyệt phần nhiều như thế hạt châu lăn giữa ao hồ. Chỗ huyền diệu của Thủy tinh là lập huyệt ở phương đông, hướng bắc có thể đón sinh vượng, hướng tây thì xung khắc. Hỏa tinh vì thể viêm nhiệt nên lập huyệt ở phương nam là hay nhất, hướng bắc bị xung khắc, hướng đông có thể đón sinh vượng. Trước hung sau cát phần nhiều do nước sinh Mộc, trước cát sau hung là do Hỏa khắc Kim.

Nếu Kim tinh kết huyệt thì năm hạn hán có thể phát phúc, nhưng cuối cùng hậu long chuyển thành Hỏa tinh, Hỏa khắc Kim nên sinh họa. Nếu hai bên có Thổ tinh đi kèm thì rốt cuộc qua được tai nạn.

Lấy Mộc tinh làm tổ tông, Hỏa tinh làm con cháu thì chủ nhân giàu có, con cháu hiếu thảo. Mộc, Hỏa, Thổ nối nhau tương sinh thì nhất định kết thành đất phú quý, sinh người trung, hiếu, lễ nghĩa. Kinh Long Túy nói rằng Mộc tinh, Hỏa tinh chuyển hóa mà đến, cuối cùng lấy Thổ tinh kết huyệt thì phú quý khôn cùng. Trái lại, lấy Kim tinh làm cha mẹ, Mộc tinh làm con cháu thì chủ nhân cuối cùng gặp họa, vì Mộc vốn gấp mà cương, có sát khí, bị Kim khắc thì càng thêm phá phách.

Thủy tinh kết huyệt ở cung Khảm thì phú quý vô cùng. Kham dư nói trong ngũ hành tuyệt diệu nhất là Thủy tinh, ở phương tây bắc sinh vượng liên tục, dáng đẹp như rắn bò, phú quý thanh danh vô cùng. Kim tinh kết huyệt ở cung Đoài thì danh vọng cao trong phủ ngự sử, nhưng Kim ở phương tây có sát khí, làm giảm tài hoa và chức vụ của chủ nhân. Thổ tinh thấp nhỏ thì chủ nhân chỉ có nhiều ruộng đất, còn Thổ tinh cao lớn thì có thể sinh nhân tài quý hiển. Mộc tinh nhô cao thanh tú gọi là văn tinh, hay Thông thiên Mộc, thân long có đỉnh ấy thì phú quý, văn chương kiệt xuất. Thủy tinh ở vùng đất bằng uốn lượn như hoa lau, như sóng nước, chân khí ẩn kín, tuyệt diệu khó tả. Hỏa tinh xuất hiện trên núi cao thì quan vận chỉ tàm tạm, thường đi theo tổ tông sơn; Hám Long Kinh nói đất quý mà không có sao Liêm Trinh làm tổ tông sơn thì dù làm quan cũng không tới chức Tam công. Mộc tinh phải có đốt, có đốt thì lập huyệt ngay chỗ đốt mới cát. Kim tinh quý ở chuỗi hạt liên châu: khi vận hành giống chuỗi ngọc thì thành đất đại quý.

Rồng sống và lươn chết

Long mạch quý ở chỗ linh hoạt như rồng rắn. Hoạt là động thái của núi: thế núi lớn nhỏ không quan trọng, chỉ cần nhấp nhô linh hoạt mà đến thì long mạch có sinh khí. Long xấu thì như lươn chết: núi bất động, mạch đến không chút khí thế, không có sinh khí. Long thấp nhỏ thì hai bên không nên quá hẹp, gầy. Thế khuất khúc không nên nghiêng lệch, vì long có thể khuất khúc nhưng kỵ nhất nghiêng lệch và nhọn xuyên.

Tính cách không cô độc thì ắt có láng giềng, nên phải xem tình hình hai bên long mạch. Chân long kết huyệt, chân khí kết tụ thì nhất định có thế tả hữu chầu vào, trước sau tiễn đón như vị đại quan ra vào có nhiều tùy tùng hộ vệ. Vì thế trong thuật phong thủy, tùy tùng hộ vệ càng nhiều thì càng thành đất quý, càng ít thì càng kém phú quý. Kinh Long có câu: đọc kinh phong thủy mà không có nhãn lực thì dù đọc vạn quyển cũng như không.

Nước giao, kiềm, chức, kết và nước xuyên, cắt, tiễn, xạ

Nước giao, kiềm, chức, kết là cát lợi. Giao là hai dòng hợp lại gặp nhau. Kiềm là khóa, là nước uốn quanh núi sa mà che kín. Chức là dệt, là dòng nước hình con thoi uốn qua lại như dệt vải. Kết là dòng nước đồn tụ lại. Bốn tình huống ấy đều cát lợi.

Xuyên, cắt, tiễn, xạ thì nên tránh. Xuyên là nước xuyên qua vai núi Long, núi Hổ hoặc xuyên phá minh đường. Cắt là phía trước huyệt không có dư khí mà nước xói vào đất dưới chân. Tiễn là dòng nước vừa gấp vừa thẳng chạy đến. Xạ là dòng nước xối thẳng vào giữa hoặc hai bên sườn. Bốn tình huống ấy đều hung hiểm.

Nước vỗ vào thành thì phá gia bại sản. Thành của nước có năm loại: Kim tinh thành uốn quanh, Mộc tinh thành vỗ thẳng, Thủy tinh thành ngoằn ngoèo, Hỏa tinh thành nhọn chếch, Thổ tinh thành bằng phẳng. Vỗ vào thành là Mộc tinh thành đập thẳng tới, khiến người trong nhà gặp họa. Nếu thêm sao Thái Tuế thì táng vào sẽ phá gia bại sản.

Phúc khí phát đạt lâu dài nhờ dòng nước chảy qua núi Huyền Vũ, tức núi sau, nước chầu về minh đường hoặc quanh sang bên phải mà vòng quanh núi sau thì cát lợi. Làm quan mà giàu là nhờ nước vòng quanh Thanh Long, tức nước chầu minh đường rồi đi vòng bên trái. Nước quanh Bạch Hổ cũng vậy.

Năm hộ bịt kín, ba cửa mở rộng

Quý nhất là năm hộ bịt kín. Năm hộ là Suy, Bệnh, Tử, Mộ, Tuyệt bao kín, không thấy được nước chảy về hướng nào thì mới cát lợi. Hay nhất là ba cửa rộng rãi. Ba cửa là Sinh, Quan, Vượng, nên minh đường rất kỵ nhỏ hẹp. Có câu minh đường phải chứa được vạn nhà mà cửa nước không để lọt một lá thuyền.

Cho nên dù cục viên mãn là quý nhưng ba cửa hẹp thì cũng bỏ. Huyệt dù hình lạ mà năm hộ không che kín thì cũng bỏ. Nước vừa qua huyệt đã chảy ngược ra thì không đáng một đồng. Nước vào lòng mà lại chảy ra hết thì suy bại. Cửa nước tốt nhất là thắt lại như eo của quả hồ lô.

Nguồn: Lưu Bá Ôn, Địa Lý Toàn Thư, tập 2.

Kiều Oanh Trần

Tác giả

Kiều Oanh Trần

Nghiên cứu Mệnh lý - Tử vi - Tâm lý học

Theo dõi trên Facebook

Chia sẻ bài viết

FacebookXLinkedInZalo
Quay lại Đạo Gia