Bài tổng quan
Nạp Giáp sinh từ vầng trăng, và tám hướng của Long Càn
Ngày hai mươi tám vầng trăng tắt hẳn và quẻ Khôn đen tuyền hiện ra; ba hôm sau một vệt sáng mảnh làm nên Chấn. Mỗi phần sáng thêm lại mang một thiên can và sáu hào có tên có chi. Từ đó, con Long nào cũng có thể khoác lên mình một quẻ…
Từ Vô Cực đến vầng trăng: khí cọ xát sinh ra tám quẻ nạp Giáp
Không lời nào, hình nào tả được Vô Cực, nhưng vầng trăng mỗi tháng lại vẽ ra cho người ta thấy cách một khí biến thành tám quẻ.
Trương Cửu Nghi nói: ý chí của phép nạp Giáp bắt nguồn từ Thái Âm, tức mặt trăng; mà Thái Âm tròn đầy lại bắt nguồn từ Thái Cực, và nguồn gốc của Thái Cực là Vô Cực. Không có lời nói nào, hình tượng nào diễn tả được Vô Cực, vì Vô Cực bao hàm tất cả, nên mới nói Thái Cực bắt nguồn từ Vô Cực.
Trong Vô Cực, khí vận động cọ xát nhau: khí nhẹ và trong là Dương, biểu thị bằng phần trắng trong đồ Thái Cực; khí nặng và đục là Âm, biểu thị bằng phần đen. Đó là Lưỡng Nghi. Khí vận động cọ xát trong Dương nghi mà được khí thuần dương thì ấy là Thái Dương, nơi các quẻ Càn và Đoài; còn được thứ khí dương có pha chút âm thì ấy là Thiếu Âm, nơi các quẻ Chấn và Ly. Khí vận động cọ xát trong Âm nghi mà được khí thuần âm thì ấy là Thái Âm, nơi các quẻ Khôn và Cấn; còn được thứ khí âm có pha chút dương thì ấy là Thiếu Dương, nơi các quẻ Tốn và Khảm. Thái Dương, Thiếu Dương, Thái Âm, Thiếu Âm gọi là Tứ Tượng.
Đạo của âm dương là cùng phối hợp: trong thuần dương có âm, trong thuần âm có dương. Khí vận động trong Thái Dương mà toàn thể là dương thì thành Càn; được hai dương một âm thì thành Đoài. Khí vận động trong Thiếu Dương mà bên trong âm, bên ngoài dương thì thành Ly; được một dương hai âm thì thành Chấn. Khí vận động trong Thiếu Âm mà được một âm hai dương thì thành Tốn; được bên trong dương, bên ngoài âm thì thành Khảm. Khí vận động trong Thái Âm mà được hai âm một dương thì thành Cấn; toàn thể là âm thì thành Khôn. Càn, Đoài, Ly, Chấn, Tốn, Khảm, Cấn, Khôn là tám quẻ.
Người ta thường nghĩ Thái Cực sinh Lưỡng Nghi, Lưỡng Nghi sinh Tứ Tượng, Tứ Tượng sinh bát quái là cái này đẻ ra cái kia ở bên ngoài. Họ không biết rằng Lưỡng Nghi ở ngay trong Thái Cực, Tứ Tượng ở ngay trong Lưỡng Nghi, bát quái ở ngay trong Tứ Tượng. Hiểu được điều ấy thì hiểu được ý nghĩa của nạp Giáp.
Tám ngày trăng, tám quẻ và những hào bị tiêu đi
Mỗi lần trăng sáng thêm hay khuyết bớt một phần là một hào đổi chỗ. Hào cũ tan đi, hào mới mang can chi của quẻ kế tiếp hiện ra.
Ly là thể của mặt trời, Khảm là thể của mặt trăng. Sáu quẻ còn lại lần lượt hiện ra theo một thứ tự nhất định, đều lấy Càn làm cha, Khôn làm mẹ. Chấn là trưởng nam, kế thừa bản thể của cha Càn, nhờ mẹ Khôn mà xuất hiện ở phương bắc.
Khôn đen tuyền, Chấn ló sáng
Từ ngày hai mươi tám mỗi tháng đến mùng hai tháng sau, Thái Âm đen kín mà thành quẻ Khôn. Khi mặt trăng bắt đầu sáng ba phần là một dương vừa sinh: hào sơ lục (Ất Mùi) của Khôn tiêu đi, thành hào sơ cửu (Canh Tý) của Chấn, nên sơn Khôn, Ất kỵ dùng ngày Canh Tý. Khoảng mùng ba, mặt trăng ở phương Canh nên Chấn nạp Canh, và Hợi, Mùi cũng nạp vào Chấn theo thế tam hợp.
Quẻ Chấn có sáu hào: sơ cửu Canh Tý (phụ mẫu); cửu nhị Canh Dần (huynh đệ); cửu tam Canh Thìn (thê tài); cửu tứ Canh Ngọ (tử tôn); cửu ngũ Canh Thân (quan quỷ); thượng lục Canh Tuất (thê tài). Hào quan quỷ của quẻ là sát diệu, nên quẻ Chấn kỵ nước Thân và ngày Thân; từ đó xem tử tôn, phụ mẫu, tài, quan thì luận đoán dễ dàng.
Quẻ này giống Long Mão nhập thủ (cùng Canh, Hợi, Mùi) mà hướng Đoài (cùng Đinh, Tỵ, Sửu) tức là quẻ Trạch Lôi Tùy. Cung Chấn thuộc Mộc; nội quái là Long gồm sơ cửu Canh Tý (phụ mẫu), cửu nhị Canh Dần (huynh đệ), cửu tam Canh Thìn (thê tài); ngoại quái là hướng gồm cửu tứ Đinh Hợi (phụ mẫu), cửu ngũ Đinh Dậu (quan quỷ), thượng lục Đinh Mùi (thê tài). Long là nội quái nên cần có sa đóng ở các phương Dần, Thìn, và sơn triều phải cao vút; hướng là ngoại quái nên cần có nước ở các phương Hợi, Dậu, Mùi, mà nước cần lưu động. Long quản sa, hướng quản thủy là như vậy.
Đoài thượng huyền, Càn tròn đầy
Mùng tám là thượng huyền, mặt trăng sáng sáu phần, ấy là hai dương sinh. Hào lục nhị (Canh Dần) của Chấn tiêu đi thành hào cửu nhị (Đinh Mão), nên sơn Chấn, Canh và sơn Hợi, Mùi kỵ dùng ngày Mão tháng Dậu; đó là tượng của Đoài. Mùng tám trăng ở phương Đinh nên Đoài nạp Đinh, và Tỵ, Sửu cũng nạp vào Đoài theo thế tam hợp. Quẻ Đoài có sáu hào: sơ cửu Đinh Tỵ (quan quỷ); cửu nhị Đinh Mão (thê tài); lục tam Đinh Sửu (phụ mẫu); cửu tứ Đinh Hợi (tử tôn); cửu ngũ Đinh Dậu (huynh đệ); thượng lục Đinh Mùi (phụ mẫu). Hào quan quỷ là sát diệu nên Đoài kỵ nước Tỵ và ngày Tỵ.
Đến ngày mười lăm, mặt trăng tròn đầy, đó là biểu hiện của thuần dương. Hào lục tam (Đinh Sửu) của Đoài tiêu đi thành hào cửu tam (Giáp Thìn), nên sơn Đoài, Đinh, Tỵ, Sửu kỵ ngày Giáp; ấy là tượng của Càn. Khi mặt trời mọc, mặt trăng sinh ở phương Giáp, nên Càn nạp Giáp, còn Nhâm là can thứ chín. Bát quái nạp tám can, còn lại can thứ chín và thứ mười chia cho Càn và Khôn: Càn nạp Giáp và Nhâm, Khôn nạp Ất và Quý.
La Kinh không có Tuất và Tỵ; sở dĩ Ly nạp Tỵ là vì Hậu Thiên đóng ở Càn, tách Nhâm của Càn ra mà nạp vào Ly; Khảm nạp Tuất là vì Hậu Thiên đóng ở Khôn, tách Quý của Khôn ra mà nạp vào Khảm.
Quẻ Càn có sáu hào: sơ cửu Giáp Tý (tử tôn); cửu nhị Giáp Dần (thê tài); cửu tam Giáp Thìn (phụ mẫu); cửu tứ Nhâm Ngọ (quan quỷ); cửu ngũ Nhâm Thân (huynh đệ); thượng cửu Nhâm Tuất (phụ mẫu). Hào quan quỷ là sát diệu nên Càn (cùng Giáp) kỵ nước Ngọ và ngày Ngọ.
Tốn nhen âm đầu tiên, Cấn hạ huyền, Khôn lại đen
Ba quẻ Chấn, Đoài, Càn lấy lúc mặt trời mọc làm chuẩn. Khi nhật nguyệt tròn đầy rồi bắt đầu thiếu đi ba phần ở dưới, ấy là một âm vừa sinh. Hào sơ cửu (Giáp Tý) của Càn tiêu đi thành hào sơ lục (Tân Sửu), nên sơn Càn, Giáp kỵ ngày Tân và Tân Sửu; đó là tượng của Tốn, và cũng là ý câu "Càn gặp Tốn thì trăng khuất". Khi mặt trời mọc, mặt trăng ở phương Tân nên Tốn nạp Tân. Quẻ Tốn có sáu hào: sơ lục Tân Sửu (thê tài); cửu nhị Tân Hợi (phụ mẫu); cửu tam Tân Dậu (quan quỷ); lục tứ Tân Mùi (thê tài); cửu ngũ Tân Tỵ (tử tôn); thượng cửu Tân Mão (huynh đệ). Hào quan quỷ là sát diệu nên Tốn (cùng Tân) kỵ nước Dậu và ngày Dậu.
Ngày hai mươi ba là hạ huyền, trăng khuyết sáu phần, ấy là hai âm sinh. Hào cửu nhị (Tân Hợi) của Tốn tiêu đi thành hào lục nhị (Bính Ngọ), nên sơn Tốn, Tân kỵ ngày Bính và Bính Ngọ; đó là tượng của Cấn. Khi mặt trời mọc, mặt trăng ở phương Bính nên Cấn nạp Bính. Quẻ Cấn có sáu hào: sơ lục Bính Thìn (huynh đệ); lục nhị Bính Ngọ (phụ mẫu); cửu tam Bính Thân (tử tôn); lục tứ Bính Tuất (huynh đệ); lục ngũ Bính Tý (thê tài); thượng cửu Bính Dần (quan quỷ). Hào quan quỷ là sát diệu nên Cấn (cùng Bính) kỵ nước Dần và ngày Dần.
Đến ngày hai mươi tám, mặt trăng hoàn toàn biến mất. Hào cửu tam (Bính Thân) của Cấn tiêu đi thành hào lục tam (Ất Mão), nên sơn Cấn, Bính kỵ ngày Ất và Ất Mão; ấy là tượng của thuần âm Khôn. Khi mặt trời mọc, mặt trăng ở phương Ất nên Khôn nạp Ất và Quý. Quẻ Khôn có sáu hào: sơ lục Ất Mùi (huynh đệ); lục nhị Ất Tỵ (phụ mẫu); lục tam Ất Mão (quan quỷ); lục tứ Quý Sửu (huynh đệ); lục ngũ Quý Hợi (thê tài); thượng lục Quý Dậu (tử tôn). Hào quan quỷ là sát diệu nên Khôn, Ất kỵ nước Mão và ngày Mão.
Chỉ Khảm và Ly không tắt
Sáu quẻ kia đều có sinh có diệt; chỉ Khảm và Ly giữ được chính thể của nhật nguyệt nên không bị tiêu diệt. Ở Tiên Thiên hai quẻ ấy là một đông một tây, ở Hậu Thiên là một nam một bắc. Lấy Tuất và Tỵ ở trung tâm Lạc Thư làm kinh làm vĩ, nên hào giữa quẻ Khảm nạp Tuất Thổ, hào giữa quẻ Ly nạp Tỵ Hỏa. Địa lý phong thủy lấy Tuất nhận về Cấn, Ất nhận về Khôn; do đó Ly tách Nhâm của Càn, tam hợp với Dần, Tuất mà nạp Nhâm, Dần, Tuất; Khảm tách Quý của Khôn, tam hợp với Thân, Thìn mà nạp Quý, Thân, Thìn.
Quẻ Ly có sáu hào: sơ cửu Kỷ Mão (phụ mẫu); lục nhị Kỷ Sửu (tử tôn); cửu tam Kỷ Hợi (quan quỷ); cửu tứ Kỷ Dậu (thê tài); lục ngũ Kỷ Mùi (tử tôn); thượng cửu Kỷ Tỵ (huynh đệ). Hào quan quỷ là sát diệu nên Ly (cùng Nhâm, Dần, Tuất) kỵ nước Hợi và ngày Hợi.
Quẻ Khảm có sáu hào: sơ lục Mậu Dần (tử tôn); cửu nhị Mậu Thìn (quan quỷ); lục tam Mậu Ngọ (thê tài); lục tứ Mậu Thân (phụ mẫu); cửu ngũ Mậu Tuất (quan quỷ); thượng lục Mậu Tý (huynh đệ). Hào quan quỷ là sát diệu nên Khảm (cùng Quý, Thân, Thìn) kỵ Thìn và ngày Mậu (Mậu Thìn, Mậu Tuất).
Long mạch mặc quẻ vào người, sa và thủy cùng đi theo
Khi mỗi con Long được gắn vào một quẻ, sáu hào của quẻ ấy cho biết con cháu, cha mẹ, của cải và quan chức sẽ đến từ đâu.
Từ phép nạp ấy, người ta lấy các loại Long mạch nạp vào quẻ để xem vận khí của tử tôn, phụ mẫu, thê tài, quan quỷ. Long là nội quái, cai quản sa, nên cần sa sơn cao vút; hướng là ngoại quái, cai quản thủy, nên cần nước chào đón. Con Long Càn đứng với tám hướng, mỗi hướng cho ra một quẻ.
Long Càn (cùng Giáp)
Hướng Càn (cùng Giáp): quẻ Càn vi Thiên, quẻ thứ nhất của cung Càn, thuộc Kim. Nội quái: sơ cửu Giáp Tý (tử tôn); cửu nhị Giáp Dần (thê tài); cửu tam Giáp Thìn (phụ mẫu). Ngoại quái: cửu tứ Nhâm Ngọ (quan quỷ); cửu ngũ Nhâm Thân (huynh đệ); thượng cửu Nhâm Tuất (phụ mẫu).
Hướng Đoài (cùng Đinh, Tỵ, Sửu): quẻ Trạch Thiên Quải, quẻ thứ sáu của cung Khôn, thuộc Thổ. Nội quái: sơ cửu Giáp Tý (thê tài); cửu nhị Giáp Dần (quan quỷ); cửu tam Giáp Thìn (huynh đệ). Ngoại quái: cửu tứ Đinh Hợi (thê tài); cửu ngũ Đinh Dậu (tử tôn); thượng lục Đinh Mùi (huynh đệ).
Hướng Ly (cùng Nhâm, Dần, Tuất): quẻ Hỏa Thiên Đại Hữu, quẻ thứ tám của cung Càn, thuộc Kim. Nội quái: sơ cửu Giáp Tý (tử tôn); cửu nhị Giáp Dần (thê tài); cửu tam Giáp Thìn (phụ mẫu). Ngoại quái: cửu tứ Kỷ Dậu (huynh đệ); lục ngũ Kỷ Mùi (phụ mẫu); thượng cửu Kỷ Tỵ (quan quỷ).
Hướng Chấn (cùng Canh, Hợi, Mùi): quẻ Lôi Thiên Đại Tráng, quẻ thứ năm của cung Khôn, thuộc Thổ. Nội quái: sơ cửu Giáp Tý (thê tài); cửu nhị Giáp Dần (quan quỷ); cửu tam Giáp Thìn (huynh đệ). Ngoại quái: cửu tứ Canh Ngọ (phụ mẫu); lục ngũ Canh Thân (tử tôn); thượng lục Canh Tuất (huynh đệ).
Hướng Tốn (cùng Tân): quẻ Phong Thiên Tiểu Súc, quẻ thứ hai của cung Tốn, thuộc Mộc. Nội quái: sơ cửu Giáp Tý (phụ mẫu); cửu nhị Giáp Dần (huynh đệ); cửu tam Giáp Thìn (thê tài). Ngoại quái: lục tứ Tân Mùi (thê tài); cửu ngũ Tân Tỵ (tử tôn); thượng cửu Tân Mão (huynh đệ).
Hướng Khảm (cùng Quý, Thân, Thìn): quẻ Thủy Thiên Nhu, quẻ thứ bảy của cung Khôn, thuộc Thổ. Nội quái: sơ cửu Giáp Tý (thê tài); cửu nhị Giáp Dần (quan quỷ); cửu tam Giáp Thìn (huynh đệ). Ngoại quái: lục tứ Mậu Thân (tử tôn); cửu ngũ Mậu Tuất (huynh đệ); thượng lục Mậu Tý (thê tài).
Hướng Cấn (cùng Bính): quẻ Sơn Thiên Đại Súc, quẻ thứ ba của cung Cấn, thuộc Thổ. Nội quái: sơ cửu Giáp Tý (thê tài); cửu nhị Giáp Dần (quan quỷ); cửu tam Giáp Thìn (huynh đệ). Ngoại quái: lục tứ Bính Tuất (huynh đệ); lục ngũ Bính Tý (thê tài); thượng cửu Bính Dần (quan quỷ).
Hướng Khôn (cùng Ất): quẻ Địa Thiên Thái, quẻ thứ tư của cung Khôn, thuộc Thổ. Nội quái: sơ cửu Giáp Tý (thê tài); cửu nhị Giáp Dần (quan quỷ); cửu tam Giáp Thìn (huynh đệ). Ngoại quái: lục tứ Quý Sửu (huynh đệ); lục ngũ Quý Hợi (thê tài); thượng lục Quý Dậu (tử tôn).
Nguồn: Lưu Bá Ôn, Địa Lý Toàn Thư, tập 2.
