Bài tổng quan
Núi như người một nhà, bốn cục đất và phép minh đường
Núi tổ tông là ông bà, núi phụ mẫu là cha mẹ, hai bên tả hữu là anh em, sa ngoài là tôi tớ, núi chầu là khách. Ai cũng phải có tình với huyệt, không ai được quay lưng. Giữa căn nhà ấy, chỗ nước tụ trước huyệt giữ vai gì mà cổ nhân dám nói thà bỏ long chứ không bỏ?
Mục lục · 9 phần
- 01Núi non như một gia đình quanh huyệt
- 02Thế và hình: cái lớn quyết định cái nhỏ
- 03Cục thích hợp và không thích hợp
- 04Long, hiệp, huyệt mạch
- 05Bốn cục: long, huyệt, sa, nước
- 06Bốn hình: long hình, huyệt hình, sa hình, thủy hình
- 07Sáu thứ cát: quan, diệu, cầm, quỷ, thú, la
- 08Tân mẫu: con đực con cái ngoài huyệt
- 09Minh đường: chỗ nhiều dòng nước hội tụ
Núi non như một gia đình quanh huyệt
Ngọn núi nào cũng có vai trò riêng so với huyệt, như người trong một nhà và khách ngoài cửa.
Long có núi tổ tông, quý ở chỗ nhô cao vươn thẳng. Có núi phụ mẫu, quý ở chỗ đoan chính nghiêm trang. Có núi con cháu hình thành huyệt, quý ở chỗ tú lệ. Hai bên tả hữu là anh em, quý ở chỗ có giáp tùng kèm theo. Sa phong bảo vệ bên ngoài là tôi tớ bạn bè, quý ở chỗ bao quanh. Núi nước đối diện là khách, quý ở chỗ cúi chào. Núi ở thủy khẩu là binh tướng, quý ở chỗ che chắn. Tất cả đều phải có tình với huyệt, không thể quay lưng hướng ra ngoài.
Thế và hình: cái lớn quyết định cái nhỏ
Thế là thể thế của long đi đến, hình là dáng của bản thân ngọn núi. Thế bao gồm cả cục diện, còn hình thì nằm trong huyệt. Vì vậy nếu đại thế quần tụ thì dù hình và huyệt quái dị, không có Long sơn Hổ sơn vẫn có thể cắm huyệt. Đại thế mà không tụ thì dù là hình lạ huyệt khéo, đủ Long Hổ, cũng khó hạ huyệt.
Cục thích hợp và không thích hợp
Hình cục hợp với nghịch mà không hợp với thuận, hợp với hướng vào nhau mà không hợp với quay lưng nhau, hợp với uốn quanh mà không hợp với đâm thẳng, hợp với hội tụ mà không hợp với tán loạn, hợp với sinh mà không hợp với tử, hợp với đến mà không hợp với đi, hợp với đẹp mà không hợp với xấu, hợp với trẻ mà không hợp với già, hợp với tinh mà không hợp với thô, hợp với giấu mà không hợp với lộ, hợp với kín mà không hợp với khuyết, hợp với mềm mà không hợp với cứng, hợp với thấp mà không hợp với cao, hợp với sáng mà không hợp với tối, hợp với kề sát mà không hợp với đè ép, hợp với tròn mà không hợp với nhọn.
Long, hiệp, huyệt mạch
Ba loại mạch mỗi loại quý một kiểu, và khí tụ hay tán đều nhìn ra được ở chỗ nước và gió.
Long mạch quý ở chỗ nhấp nhô lên xuống. Hiệp mạch quý ở chỗ ngắn và nhỏ. Huyệt mạch quý ở chỗ có quật đột, tức đột nhiên hõm xuống. Mạch rơi từ chính giữa xuống thì lực nặng, rơi từ hai bên tả hữu thì lực nhẹ. Mạch có mạch thẳng, mạch ngang, mạch lệch, mạch lộ, mạch dài, mạch ngắn, mạch rộng, mạch hẹp, mạch quanh co, mạch tụ, mạch đơn, mạch kép, mạch ẩn hiện, mạch lộ ra dài một dải, đến chỗ nước thì mới dừng.
Có mạch vô khí vì bị gió thổi tán thoát, có mạch hữu khí vì không gió nên khí tụ. Cao thì không được lộ ra ngoài gió, thấp thì không được đứt mất mạch. Xem mạch khí của long thì nhìn chỗ giáp giới với nước ở phía ngoài Long sơn, Hổ sơn. Xem mạch khí của huyệt thì nhìn chỗ giáp giới với nước ở phía trong Long sơn, Hổ sơn. Nước ngoài dễ thấy vết tích, nước trong khó nhận ra hơn. Gặp trường hợp không có Long sơn, Hổ sơn thì cũng không cần câu nệ.
Bốn cục: long, huyệt, sa, nước
Mỗi thứ trong bốn thứ ấy lại có những kiểu riêng, gọi tên thì dễ nhận ra khi đứng trước đất thật.
Về long cục: trực long xô lưng mà tới, hoành long từ mặt bên nghiêng xuống, hồi long uốn thân quanh eo, phi long kết tụ ở phía trên, tiềm long rơi xuống bình dương.
Về huyệt cục: thiên huyệt tụ ở phía trên, nhân huyệt tụ ở phần giữa lưng chừng, địa huyệt tụ ở phía dưới. Chính huyệt thì tụ chính, trắc huyệt thì tụ lệch.
Về sa cục: có trực lai sa là sa đến thẳng, hồi đầu sa là sa ngoảnh đầu, loan bảo sa là sa ôm quành, thị vệ sa là sa hộ vệ, quan lan sa là sa che chắn.
Về nước cục: triều thủy đến ngay trước mặt, hoành thủy như cánh cung, cứ thủy ở trong ao hồ, khứ thủy là chảy đi, nghịch thủy là chảy từ dưới lên, vô thủy là kết thành dốc khô.
Bốn hình: long hình, huyệt hình, sa hình, thủy hình
Cùng một thứ nhưng hình dạng khác nhau thì cát hung cũng khác nhau, nên cổ nhân đặt tên từng dáng.
Long hình: bình long có nhiều nếp gấp; tử long không có đứt đoạn; cường long ồ ạt kéo đến; nhược long gầy gò, mềm yếu, rụt rè; thuận long tiến về phía trước; nghịch long lùi về phía sau; tiến long có tiết sau cao; thoái long mặt sau thấp dần.
Huyệt hình: huyệt Tam Tài kết thẳng; huyệt Tam Thai kết ngang; huyệt Kỳ Lân nằm ở hai vú; huyệt Hồng Kỳ nằm ở chỗ hẹp nghiêng; huyệt Khúc Trì thì chuyển động; huyệt Thoát Mạch hấp thụ sinh khí; huyệt Chính Câu ở chính giữa; huyệt Đầu Sát bị thương ở đầu não.
Sa hình: sa tròn như búa sắt, sa thẳng như thẻ ngà, sa nhọn như đao thương, sa vuông như tủ đứng, sa cong như con rắn, sa chính như chiêng trống, sa lệch như cờ phướn.
Thủy hình: Kim thành như cái bao, Mộc thành như cây thước, Thủy thành như vật màu đen, Hỏa thành như cây cung ngược, Thổ thành như dòng chảy ngang.
Sáu thứ cát: quan, diệu, cầm, quỷ, thú, la
Quan, diệu, cầm, quỷ, thú, la là sáu thứ cát. Quan ở phía trước huyệt, diệu ở bên tả huyệt, cầm ở bên cạnh hiệp, quỷ ở phía sau long, thú và la đều ở vị trí thủy khẩu.
Họ Hứa từng nói: hoặc quan, diệu chiếu trước mộ phần, hoặc quỷ, cầm ở sau long, hoặc là la tinh hoặc là thú, hễ có những thứ cát ấy xuất hiện thì có người làm quan đến chức công khanh. Sao Bắc thần mà cao lớn thì có người lên ngôi hoàng đế, mà thấp nhỏ thì cũng có người làm đại quan trong triều. Hình huyệt muôn hình vạn trạng nhưng quý nhất là tròn trịa, sợ nhất là nham nhở nghiêng lệch.
Tân mẫu: con đực con cái ngoài huyệt
Hai bàn tay ôm trước huyệt có đủ thì gió không lọt, huyệt mới an.
Tân mẫu là chỉ thư hùng, tức con đực con cái ở bên ngoài huyệt. Từ hai bên chiếu vào huyệt, chúng như che chắn gió. Không có chúng thì huyệt khuyết hở, không thể an táng.
Huyệt ở chỗ cao như cái đầu, cái họng, bộ não thì phải có hai tai, hai vai che chắn, gọi là táng đầu long, gối tai long. Huyệt ở chỗ thấp như tim, rốn thì phải dùng hai tay che chắn, gọi là táng eo long, gối tay long. Thư hùng giống như hai tay trước huyệt: núi tả đến trước thì nhận bên tả, núi hữu đến trước thì nhận bên hữu, tả hữu cùng đến thì nhận cả hai. Họ Dương nói: hình thế thư hùng không được cong vênh, vì như vậy khiến người được táng tán gia bại sản.
Minh đường: chỗ nhiều dòng nước hội tụ
Không có chỗ nước tụ thì khí không dừng, nên các bậc thầy xưa đều lấy minh đường làm chứng cho huyệt.
Minh đường hiện ở phía trước huyệt, nơi có nhiều dòng nước hội tụ. Nó nằm ở giữa, xung quanh có núi bao bọc, long mạch thấy nó thì dừng, huyệt vị thấy nó thì định chỗ hạ xuống. Minh đường có hai loại, trong đó nội minh đường trước huyệt là khẩn yếu nhất. Có minh đường như thế là thật, không có là giả; đó là cách phân biệt đơn giản nhất. Long đến, chầu ứng ở thủy khẩu, mọi điều kiện đều tốt mà không có minh đường thì là giả. Mọi điều kiện đều bất lợi mà tạo nên một minh đường đẹp thì là thật.
Theo huyệt pháp, thấy minh đường ở bên tả thì huyệt định ở bên tả, minh đường ở bên hữu thì huyệt định ở bên hữu. Minh đường ra thuận thì huyệt kết thuận, minh đường ra ngang thì huyệt kết ngang. Các sách địa lý hễ bàn về huyệt thì nhất thiết luận về minh đường, bàn đến minh đường thì nhất định luận về huyệt. Xem kỹ nền mộ thời xưa thì chưa từng thấy huyệt tốt mà không có minh đường. Nói đến kiểu huyệt trong lũng, long dừng ở phía đông mà minh đường kết ở phía tây thì huyệt nhất định ở phía tây, cho nên nói thà bỏ long chứ không bỏ minh đường.
Người xưa đều đưa huyệt sát minh đường. Táng kinh viết: bên trong phải tiếp sinh khí, bên ngoài phải tiếp đường khí. Trác ngọc tập viết: bất kể mờ mịt thế nào, chỉ cần tìm thấy minh đường là được; cầu lấy minh đường trước rồi mới lấy huyệt vị. Hắc Nang kinh viết: huyệt tốt thì minh đường của nó ắt rất tự nhiên; lại viết: có huyệt tốt thì có minh đường, có cục vị. Tuyết tâm kinh viết: leo lên huyệt thì phải thấy minh đường. Mịch huyệt ca viết: cứ theo minh đường rộng hẹp thì biết trong huyệt cao thấp.
Xung quanh minh đường phải có bao bọc, bên trong minh đường phải tròn trịa bằng phẳng. Nước đến tụ hội, nhưng nếu ở đó xuất hiện lồi lõm, lổn nhổn, xô lệch, lở loét, nham nhở thì không thể gọi là minh đường. Minh đường hướng thuận thì phải khúc chiết, minh đường hướng ngang thì phải uốn quanh; không khúc chiết thì chạy đi, không uốn quanh thì vô tình. Hiểu phép minh đường như thế thì khỏi lo khó cắm huyệt.
Chỗ tích nước trước huyệt là minh đường. Trong Long sơn Hổ sơn, gần núi án và núi chầu đều có chỗ nước hội tụ, đều gọi là minh đường, nhưng minh đường trong Long sơn, Hổ sơn quan trọng nhất. Bởi huyệt như tâm can, nước như tình khí, dịch thể kết tụ bên trong, thiếu thì không thể thành huyệt. Nên nói: khi kết huyệt phải có tiểu minh đường, nơi chân khí ngưng tụ, nước giao hội mới là huyệt thật.
Núi sa nghịch nước, nước nghịch núi sa thì minh đường không vững chắc. Tốt xấu của minh đường căn cứ vào thuận nghịch giữa sa phong và nước. Cổ ngữ có câu minh đường có thể chứa vạn ngựa, nhưng đó chỉ nói nó rộng rãi bằng phẳng thôi, chứ có ích gì? Phải năm trăm năm mới có một người hiểu rõ phép minh đường.
Minh đường của núi chầu không quan trọng bằng minh đường của núi án gần hơn, minh đường của núi án không quan trọng bằng minh đường trong Long sơn, Hổ sơn. Tìm long, điểm huyệt chỉ cần lưu tâm cẩn thận đến minh đường là được.
Tiểu minh đường phải bằng phẳng, không được nghiêng lệch. Nội minh đường phải bó hẹp, không được rộng. Ngoại minh đường phải lớn và tròn, không được nhỏ và nhọn. Chỗ nước tụ hội phải có sa phong che chắn, không để gió thổi mất đường khí, như thế mới tốt nhất. Cho nên minh đường hợp với ngang mà không hợp với thẳng, hợp với bằng phẳng mà không hợp với cao chênh, hợp với hoàn chỉnh mà không hợp với khuyết hở, hợp với ngay ngắn mà không hợp với nhô lồi, hợp với tròn trịa mà không hợp với nhọn hoắt. So với đáy huyệt, minh đường không được quá cao, vì cao thì nước không tụ, huyệt không nhận được. Minh đường không được nghiêng dốc. Cắm huyệt chủ yếu phải xem thế nước phẳng lặng ở phía trước minh đường.
Nguồn: Lưu Bá Ôn, Địa Lý Toàn Thư, tập 2.
