Bài tổng quan
Huyệt hình người, hình chim và lẽ nhìn đất qua vật tượng
Một quả đồi có thể là người nằm, là con chim sà cánh, là mu rùa hay lá sen sau mưa, và mỗi hình lại có chỗ đặt huyệt riêng. Huyệt hình người táng ở rốn, hình chim táng ở nách cánh, lá sen thì giọt nước đọng giữa lá mới là huyệt. Nhưng hạt trân châu trên lá sen thì sao lại không táng được?
Mục lục · 17 phần
- 01Huyệt hình người ở rốn, huyệt hình chim ở nách cánh
- 02Thiên Mã, Ngư Đại, Kim cáo và những ngọn núi làm nên danh vị
- 03Lá sen, dưa leo: những thế đất nhỏ yếu
- 04Hổ với sư tử, nhạn với phượng hoàng
- 05Núi vây như bình phong, rùa như ngậm ngọc
- 06Vật phải có người hưởng ứng
- 07Xuyên bụng hổ, đạp đầu rồng
- 08Nhìn từ xa mới thấy cái đẹp của núi
- 09Xác không hồn, nhà hoang, hồ lô và cán gáo
- 10Mỹ nữ gần nước, tướng quân dựa thành, long non rời can
- 11Mỏm đá đáy nước, ánh lửa trong tro, hai thai cùng sinh
- 12Tổ yến, hạt trân châu và ống trúc
- 13Tiếng chim sẻ, tiếng gầm hú và những điềm trước cửa
- 14Dây thừng móc cá, măng mọc và cây gậy tuổi già
- 15Long cùng, long giận và tìm huyệt trong hình thỏ, xe, hoa
- 16Cây đổ, cây khô, sen khô
- 17Rồng dưới nước, ao trên đỉnh núi
Huyệt hình người ở rốn, huyệt hình chim ở nách cánh
Người xưa nhìn một quả đồi như nhìn một con vật hay một người nằm, rồi tìm huyệt đúng chỗ mà thân thể ấy giữ khí.
Huyệt vị nhân hình nên táng ở chỗ rốn lồi lên.
Nhân hình là chỉ Thái Dương Kim tinh. Chỗ rốn nhô lên là nơi huyệt sâu nhất, chứa đựng được, nên táng ở đó.
Huyệt vị cầm hình thì hay nhất là tàng ẩn ở hai bên cánh.
Hình chim chóc thuộc cô âm, không sinh hóa được vạn vật, nhưng vẫn táng được ở chỗ kỳ diệu là khuỷu hai cánh. Bất kể cánh phải hay cánh trái, chỉ cần dựa vào khí thế mà xác định.
Thế nhạn bay hàng, tiêu tức nhạn trận, có thể tìm trong khoảnh đất khúc khuỷu. Con nhạn sà thấp thì tinh khí tụ ở chỗ đất bằng, cho nên tìm tiêu tức của nó ở nơi hoang dã bát ngát, miễn có đá đất che chắn và có nước. Hương thơm của ngư quán có thể ngửi thấy ngay ở chỗ núi quành: ngư quán là núi chạy thẳng tới, chỗ thơm nhất của nó cũng là huyệt có chân khí tụ hợp, nên tìm ở chỗ núi quành.
Thiên Mã, Ngư Đại, Kim cáo và những ngọn núi làm nên danh vị
Hình núi nào ở phương nào thì sinh ra hạng người nào, cổ nhân đã định sẵn.
Núi Thiên Mã cao vút từ phương Nam đến, nếu nằm trên đất bằng thì sinh công hầu. Núi Ngư Đại ở vị Đoài thì sinh khanh tướng. Đó là Kim tinh ở phương Tây, thấp nhỏ mà tròn, giống cái túi đựng cá. Kim cáo nở hoa thì con trai lấy được công chúa. Kim cáo là Thổ tinh, nở hoa nghĩa là trên núi có sắc thái hoa văn. Núi Nga My hiện ra thì con gái được vào cung làm vương phi, vì đó là Thái Âm Kim tinh, báo chủ nhà có gái xinh đẹp.
Đột bút phong là ngọn núi chĩa lên như cây bút, thuộc Mộc tinh, Hỏa tinh. Thấy dáng ấy thì sinh nhiều người giỏi văn chương. Trác kỳ phong là Hỏa tinh hình lá cờ bay phấp phới, thấy dáng ấy thì sinh tướng quân uy vũ.
Lá sen, dưa leo: những thế đất nhỏ yếu
Núi dáng lá sen thì chân khí mỏng manh, sức yếu, không nên táng. Địa huyệt dáng dây dưa leo thuộc Thủy tinh, khí mạch vốn rất nhỏ, phải đắp đất thêm Kim, chứa cũng chẳng được bao nhiêu, chỉ xem xét được trong phạm vi hẹp.
Hổ với sư tử, nhạn với phượng hoàng
Tinh phong hình hổ thì thân to đầu nhỏ, tinh phong hình sư tử thì đầu lớn thân nhỏ. Tinh thần của cả hai đều có thể kết huyệt, nhưng không giống nhau: khí thế hổ tương đối hung mạnh, khí thế sư tử tương đối uốn lượn.
Chim nhạn và phụng hoàng cũng khác nhau về bản chất. Núi hình nhạn đầu đuôi hậu trọng, quyết định sự giàu có. Núi hình phụng hoàng đầu đuôi thanh thoát tĩnh mịch, quyết định sự cao quý. Hình thể và bản chất của hai loài có chỗ khác nhau.
Núi vây như bình phong, rùa như ngậm ngọc
Có thế long nằm giữa cánh đồng bát ngát, bốn bề núi vây như tấm bình phong, long huyệt từ dưới đất bò lên gò đống tạo nên huyệt vị, giống con trai ngậm ngọc quý. Địa thế xung quanh không tạp loạn. Núi như muôn binh sĩ tùy tùng quanh nơi cấm địa, ngàn vạn đỉnh nhấp nhô như chốn triều đình, nơi quần sơn quy tụ triều bái chính là huyệt vị.
Thế đất hình mu rùa thì tìm huyệt ngay trên lớp mai. Chỗ không có thịt không phải là huyệt, chỗ có thịt mới là huyệt. Đặt ở hai bên vai tương đối chuẩn. Thế ba ba thì phải phân biệt với rùa, đặt huyệt ở hai bên vai và dưới lớp yếm có thịt của con ba ba.
Vật phải có người hưởng ứng
Mỗi dáng đất tự nó chưa đủ; nó cần một dáng khác đứng bên để làm thành công dụng.
Huyệt có dạng cây kim xuyên ngọc thì phải có sợi chỉ xâu chuỗi hưởng ứng, sợi chỉ ấy là dòng nước. Huyệt dạng cây súng đặt trong hộp phải có núi hình tướng quân đối ứng, nếu không cây súng vô dụng. Huyệt dạng cây roi của lực sĩ phải có núi hình cánh tay đỡ lấy. Huyệt dạng hoa lau, hoa trúc bay tản mác thì phải có hướng nhất định. Huyệt dạng roi ngọc phải có hình người tương ứng. Hoa bay rơi tản mác nhưng cành hoa vẫn còn, lá trên cành có chỗ kết trái, hương bay mất mà trái vẫn kết trên cành.
Địa huyệt hình lá sen được mưa rửa sạch, nếu giữa lá có giọt nước đọng tròn thì hạ huyệt được, giọt nước ấy chỉ hạt đá quý. Địa huyệt hình đàn ngọc còn dây tơ thì sinh thần tiên.
Xuyên bụng hổ, đạp đầu rồng
Có câu nói trăng từ phía tây mọc ở bờ đông, trời sáng thì sắc mây rọi xuống mặt đất, trời trở nên âm u: ý rằng huyệt này phải kết tụ và hội với núi chầu của nó. Huyệt như mũi tên bắn hổ thì phải xuyên qua bụng hổ mà lập huyệt. Địa hình người cưỡi lưng rồng thì phải đạp trên đầu rồng mà lập huyệt. Con hổ né mũi tên, nên hạ huyệt ở phía trước bụng hổ; người cưỡi lưng rồng nên hạ huyệt ngay đầu rồng.
Nhìn từ xa mới thấy cái đẹp của núi
Hoa tươi nở bên ngoài lan can thì đứng ngoài đình viên mà ngắm là đẹp nhất. Núi đẹp ở gần núi án cũng vậy: đứng bên ngoài chỉ thấy chỗ đẹp của hoa, không thấy những cành tạp vắt ngang trong lan can. Nhưng nếu núi bên ngoài ló mặt trên đầu tường, tức có ngọn nhô đầu rình rập, thì nhà sẽ gặp chuyện hung dữ, vì bọn trộm cướp để mắt rình rập.
Bầu trời vì quá xa nên mắt chỉ thấy một màu xanh. Đá núi mà ở quá gần người thì dáng xấu hiện rõ mồn một. Núi càng xa càng đẹp. Lâu đài có nước bao quanh thì dù xa vẫn thấy bóng nó in trong dòng nước, ngụ ý nhìn nước mà phân biệt được hình núi.
Xác không hồn, nhà hoang, hồ lô và cán gáo
Nếu khí long không nối tiếp thì huyệt vị chỉ là cái xác không hồn: long khí bị đứt đoạn thì long trở thành cái xác khô héo, như người ngừng thở. Nếu tứ bề bao bọc có chỗ tán thoát thì nhà thành hoang phế. Nhà đổ nát có lỗ hổng thì bị bỏ, huyệt có chỗ khuyết, có lỗ hổng thì thành phế huyệt.
Hình cán gáo, tương đối bình ổn, chỉ núi ở chỗ thủy khẩu. Còn hình hồ lô không thể xuất hiện nơi thủy khẩu, nếu lại có người lai vãng nơi hồ lô thì sẽ có người rơi xuống nước.
Núi chầu có khí thế rồng giáng hổ phục thì là nơi thần tiên ngự. Hậu long có hình phượng cưỡi loan là nhà hoàng hậu: thân hậu long có đồ hình cát lợi thì con trai lấy công chúa, con gái được vào cung làm vương phi, núi chầu có hình ấy cũng vậy. Hoa lá hướng về phía mặt trời thì nở sớm, không hướng thì nở muộn, hướng dương thì ấm áp mượt mà.
Mỹ nữ gần nước, tướng quân dựa thành, long non rời can
Sao đều quay về hướng bắc thì có thể tôn xưng: ý là vị trí sao ở phương nam mà triều hướng về phía bắc. Huyệt hình mỹ nữ ở gần dòng nước thì chủ nhân ham dục. Địa thế hình tướng quân nhất định phải có la thành cao, vì uy thế của tướng cần dựa vào thành lũy mới yên. Long còn non phải qua nhiều lần rời xa can chính, nhiều lần biến đổi mới lớn mạnh.
Mùi thơm ngửi được từ ngoài song cửa: long mạch và huyệt đẹp thì không cần đến tận nơi, từ xa nhìn khí thế cũng đã biết. Ngọc trai không sinh ở ao tù nước đọng, đá quý đâu ở trong đá xấu: nước phải êm ả chảy ra xa, núi phải hùng vĩ. Núi hình hổ nhe răng thì như giáo như đao, nguy hiểm. Huyệt có khe hở mở ra thì khiến người sinh bệnh, vì phương vị hung ác có gió thổi vào chỗ lõm, sinh các chứng nan y.
Núi hình bụi dây mây thì bỏ vợ, núi hình phản kích thì sinh con cháu phản nghịch bất hiếu. Bụi dây mây là long mạch phản nghịch, phản kích là long đi nghịch chiều.
Mỏm đá đáy nước, ánh lửa trong tro, hai thai cùng sinh
Nếu dưới đáy nước có mỏm đá, ắt sóng sẽ nổi lên phía trên: long mạch đi trong nước, mạch lạc và tinh phong của nó đều qua mỏm đá dưới đáy, nên mặt nước nổi sóng. Huyệt đích thực nằm giữa quần sơn thì dễ nhìn ra, như ánh lửa trong đám tro than không bị che lấp.
Hai bào thai cùng thụ thai thì cơ thể người mẹ tổn hại, ví với việc lực huyệt nhỏ mà táng hai người, khí mạch của long dễ tổn hại, chỉ khi long khí rất thịnh mới không ngại. Hai con cùng ra đời e khí mạch tổn hại, vì sợ thụ khí không đều, một bên yếu đi, khó hưng vượng.
Dựng nhà giữa cánh đồng bát ngát phải xét kỹ thủy tình. Mặt nước rộng mênh mông mà không thấy nước chảy động thì có thể dựng nơi cư trú trên mặt nước, nhưng vẫn phải chú ý dòng nước. Gieo mạ được trên ruộng nước nhưng đó không phải là sông: mặt nước nông thì phát phúc nhỏ, sức non yếu.
Nếu có thể nằm ngủ được trên núi thì long mạch hội tụ nơi đó. Nơi địa thế bằng phẳng đến mức người nằm ngủ được mới là chỗ long khí tụ hợp, mới có thể an cư lạc nghiệp và dựng huyệt.
Tổ yến, hạt trân châu và ống trúc
Có những dáng đất đẹp trên mắt mà không giữ nổi nước và khí.
Nước chảy vào minh đường thì tổ yến yên ổn. Minh đường giống nhiều tổ yến quần tụ, nước rót vào mà không chảy mất là cát lợi. Nước chảy về phía Hỏa tinh thì có thể phân rõ cát hung: quẻ Ly và quẻ Khảm hướng vào nhau thì có sự khắc nhau, tức là hung. Tổ sơn hướng về phía gió cũng phải phân biệt kỹ biến hóa: quẻ Cấn là núi, quẻ Tốn là gió, Cấn Tốn hướng vào nhau cũng chia cát hung.
Hạt trân châu trên lá sen khó đứng lâu. Địa thế hình hạt châu trên lá sen không thể cắm huyệt, vì hạt châu rất dễ rơi vỡ. Nước trong ống trúc cũng dễ cạn: huyệt hình ống trúc không nên cắm, bởi nguồn nước dài mà địa thế ống lại quá hẹp, không đủ sức tiếp nhận.
Câu nói ánh chiều tây dễ tắt, trăng non dễ mọc, gió đông phần nhiều thổi chậm có hàm ý sâu, người xưa ghi rằng khó lý giải nên không dám giải thích.
Tiếng chim sẻ, tiếng gầm hú và những điềm trước cửa
Trước cửa mà có tiếng chim sẻ kêu nháo nhác thì trẻ mồ côi khóc lóc. Chu Tước sơn không nên có tiếng kêu tạp loạn, vì nếu có thì rất khó nuôi con nhỏ, trẻ sơ sinh sẽ khóc ròng mà chết. Long mạch dưới huyệt bị kinh động thì phụ nữ mang thai khóc than: nếu núi Huyền Vũ bị đào bới không yên thì người mang thai ưu sầu hoặc rất có hại cho việc sinh sản.
Long ngâm hổ gầm thì trong nhà có họa: Thanh Long, Bạch Hổ há miệng lớn trước huyệt, hoặc bị đào bới kinh động mà phát tiếng gầm hú, nhà nhất định phát sinh tai họa. Rắn hoảng thỏ chạy thì vạn sự đều hỏng: tìm long mạch mà gặp tình huống ấy, dù có long huyệt cũng không nên cắm, hãy đi nơi khác.
Dây thừng móc cá, măng mọc và cây gậy tuổi già
Dòng nước ngoằn ngoèo như sợi dây xuyên qua mang cá thì chủ nhân lâm họa ngục tù. Trái lại, sa phong phía trước như măng mọc, Chu Tước lượn lờ bò lan trước minh đường thì chủ đại quý, đến mức có vua chúa tới dự lễ dựng lâu đài.
Về già mới đi tìm gậy chống: ý nói núi già mà khô, chỉ mọc những cây trúc đơn độc. Khi còn non rất dễ sinh tơ tằm: ở chỗ long non quá mạch, phần lớn hiện ra địa hình sợi tơ tằm. Nếu sống cô độc, không ai làm bạn thì những chỗ như vậy ngày ngày chỉ thắp hương dùng làm đền miếu. Long mạch cô đơn như thế chỉ có thể dựng đền miếu, không làm được âm phần hay dương trạch.
Long cùng, long giận và tìm huyệt trong hình thỏ, xe, hoa
Cùng long, nộ long thì khó nhận ra dấu vết long mạch, như gió thổi cỏ lá tán loạn: lai lịch không rõ nên tìm huyệt ở đó quá khó.
Đừng ngồi trước trăng mà ngắm thỏ ngọc. Nếu thế đất có trăng và thỏ hướng nhau thì không dựng huyệt. Thỏ nếu thành hình thỏ ngắm trăng thì không thể từ phương vị vầng trăng mà nhìn thỏ, nếu không chủ nhân bị sứt môi. Cứ nhìn từ trên xe thấy bò vàng: địa thế Kim ngưu kéo xe thì cắm được huyệt, nếu hình thế nhọn thì không nên; huyệt hình xa bàn cũng dùng được.
Hoa lộ trong bụi cỏ đều ở phần đuôi: đó là huyệt pháp, chủ yếu xem chỗ chân khí tụ hợp mà hạ huyệt. Hương vị của hoa ở trong nhị hoa, tức hoa tâm huyệt. Hoa rụng theo nước trôi, theo gió kết quả: huyệt hình hoa rụng có gò đất như hoa rơi tán loạn, trong đó hẳn có nhiều chỗ kết trái, đều là nơi chân khí tụ, nếu đi tìm huyệt giữa đám gò đống tán loạn là sai.
Cây đổ, cây khô, sen khô
Cây cối đổ ngổn ngang trên núi thì phải nhìn chỗ phát sáng dưới trăng. Đó là huyệt hình cây đổ: tuy cây gãy mục nát trên mặt đất, nhưng ban đêm dưới trăng sáng vẫn lộ khí phát quang. Gặp hình ấy nên tìm chỗ vượng khí mà hạ huyệt, đừng nói chỗ cây đổ không có huyệt.
Cây khô nếu nở hoa cũng khó kết trái: đó là Mộc tinh già cỗi khô héo, dù có huyệt cũng hết khí lực, vô dụng. Hoa sen khô đọng nước cũng chẳng thành châu: địa thế lá sen héo không thể kết huyệt.
Địa hình phượng hoàng ngậm hoa thì nhất định có trướng màn gấm vóc vây quanh. Địa hình ngọc long hút nước thì nhất định có đảo xanh, tức ao, hồ, đầm, cồn, đảo tương ứng. Gió thổi qua lỗ hổng thì rét căm căm, gió nơi đất lõm là tối hung. Mặt trời sáng giữa không trung thì có ánh sáng: đất minh đường quý ở chỗ rộng thoáng cho nắng rọi chan hòa.
Rồng dưới nước, ao trên đỉnh núi
Có rồng trong nước thì tôm cá tụ về một chỗ. Có rắn bò trên đất thì chuột bọ nháo nhác kinh sợ. Rồng hiện trên núi thì núi chao động. Ngựa phi trên đường thì bụi cuốn mịt mù. Đó là nói phải có sự ứng nghiệm thì hình núi và huyệt mới xác thực. Ngoài ra, đi qua núi mà rồng quay đầu, suối đổ ào ào thì bốn phía đều dao động.
Trăng ngoài núi sáng tỏ thì trong núi có sương đọng; trong đất có rồng thì trên đất có ao hồ. Ý là sơn thủy phía ngoài cát lợi thì phúc khí kết tụ trong huyệt. Nơi chân long hành tiến, nhất định có ao nước của long ẩn nấp kèm long qua mạch, hoặc hiện hai bên, hoặc hiện trên đỉnh núi, người ta quen gọi là thiên trì, ao hồ trên đỉnh núi.
Nguồn: Lưu Bá Ôn, Địa Lý Toàn Thư, tập 2.
