Chuyển đến nội dung chính
Quay lại Đạo Gia

Bài tổng quan

Vũ Khúc dáng chuông úp và Phá Quân dáng lá cờ bay

Đạo Học - Đạo Gia06/10/202615 phút đọc2 lượt đọc
Vũ Khúc dáng chuông úp và Phá Quân dáng lá cờ bay

Núi úp như chiếc chuông thì là Vũ Khúc, thấp hơn một chút như cái nồi lật ngược thì là Phụ Bật, và người xưa đọc ở đó cả vận phú quý của một dòng họ. Còn ngọn núi dựng như lá cờ bay, trước cao sau thấp, có thể sinh ra tướng quân mà cũng có thể chỉ dựng nổi một ngôi đền. Khi long mạch sắp dừng lại, dấu hiệu nào cho biết huyệt kết là thật hay chỉ là hư ảo?


Vũ Khúc: ngọn núi như chuông úp và dấu hiệu long sắp dừng

Dáng núi của sao Vũ Khúc lúc nào cũng gợi hình một chiếc chuông hoặc một cái nồi úp ngược. Thường thì chuông cao còn nồi thấp, và hai hình này chỉ về hai việc khác nhau: chuông cao là Vũ Khúc, nồi thấp là Phụ Bật. Cả hai đều là dáng tốt, nhưng lớn nhỏ không như nhau. Nếu Vũ Khúc đứng ngay ngắn thì vận phú quý khá vững bền, còn nếu chỉ có Tả Phụ, Hữu Bật thì phú quý nhiều hay ít phải tùy vào bề dày của long mạch.

Khi chân long đã đi được năm sáu dặm và sắp sửa dừng lại để kết huyệt, người ta phải tìm cho ra Phụ Bật tách ra từ thân long. Trên đường đi, phía trước có núi quan, phía sau có núi hiệp theo cùng; hiệp càng nhiều thì long càng uy mãnh. Nếu Phụ Bật tách ra thành ba bốn lớp thì đó là chỗ phải xem thật kỹ, vì dấu vết của long nằm ở đây. Ngược lại, nơi long sắp dừng mà không có Phụ Bật, chỉ có Tham Lang và Cự Môn, thì dù là núi cao cũng không giữ nổi con rồng lại.

Phụ Bật là dấu hiệu long sắp nhập huyệt, nhưng hình dáng của huyệt lại tùy vào chỗ nhấp nhô của thổ phong mà thành các kiểu kiềm, nhũ hay hình thần. Huyệt lớn hay nhỏ thì do tông long quyết định. Thường thấy long của sao Viên bất ngờ kéo dài chân ra, đó là quý long có hình cái thìa lật úp. Dáng chiếc ki bị úp, hay bàn tay để ngửa, là điềm báo long sắp lạc huyệt. Đến chỗ ấy đừng làm mất dấu vết thật của nó: hãy nhận cho kỹ huyệt vị ngay trước mặt long, và cũng đừng bỏ qua phía lưng.

Làm thế nào biết long có lạc huyệt hay không? Phải nhìn phía sau xem có hình thành được núi non tươi tốt hay không. Làm thế nào biết long đang dịch chuyển? Chủ yếu là xem phần đuôi long có lắc lư liên tục hay không.

Quan và quỷ: núi trước mặt, núi sau lưng huyệt

Sau lưng long là quan hay là quỷ thì phải phân cho rõ. Nếu núi khắc thân long mà nằm phía sau thì đó là quỷ, nếu núi khắc thân long mà nằm trước mặt thì đó là quan. Như vậy long mạch có thể hiện ra quan tinh ở phía trước và quỷ tinh ở phía sau.

Nơi chân long lạc huyệt, nếu âm dương rối loạn thì ngũ hành với quan quỷ không được đối nghịch nhau. Thủy long tách ra thì hỏa long hiện, quỷ ở sau, quan ở trước. Chẳng hạn trên sơn Khảm có long đến làm Ngọ, Đinh, khiến địa võng và thiên la cùng chuyển, đó là âm dương pha tạp trong ngũ hành. Ở chỗ này không cần cố nhận ra ngũ hành, chỉ cần nhìn kỹ thân long là đủ.

Chân long khi đoạt mạch thì có quỷ khí, nhưng quỷ khí không tụ lại mà chạy dọc theo long mạch. Trên thân chính long thường không có quỷ sơn. Chỉ khi hoành long rời huyệt mới có quỷ tinh hiện ra, xoay mình bao lấy phía sau huyệt. Quỷ sơn mà quá dài thì sẽ lấy mất chân khí của long.

Vậy thế nào mới đúng là quỷ? Đó là ngọn núi chống đỡ phía sau chủ sơn. Nếu nó tách nhánh rồi đi luôn mà không quay đầu lại, thì nó đoạt lấy chính thân long và làm long thiếu toàn khí. Quỷ sơn sau huyệt của chân long thì ngắn mà chia nhiều nhánh; đó là những tinh tú đứng sau huyệt, có thể nhọn, có thể tròn. Quỷ sơn sau chính long giống đàn chim trĩ bay đến rồi quay đầu hộ vệ cho huyệt. Nếu quỷ sơn không quay đầu ôm lấy huyệt thì đó là tử huyệt, còn gọi là huyệt không vong. Không vong là gì? Là khi phía sau huyệt hiện thế như viên ngói để ngửa.

Trên mình chân long có rất nhiều hộ vệ, các ngọn núi đều đến chào đón, đứng sát bên mà không dám rời xa, ở giữa có suối nhỏ lặng lẽ chảy vào huyệt. Quỷ sơn của chân long khá ngắn vì phía sau có núi triền hộ. Đã có triền long ngay cạnh hộ long thì quỷ sơn không để tản mát khắp nơi. Nếu quỷ sơn đi thẳng rồi lao vào sông biển, long ấy có nhiều hình dáng tạp loạn. Nếu quỷ sơn mang hình cái qua, cái mâu, chạy tán loạn thì không thể dùng chân long mà kiềm chế chúng. Long không có triền hộ thì dù là chân long cũng không được trọn vẹn.

Triền hộ, cửa ải và ba mươi sáu dáng quỷ của chín sao

Núi hộ triền phần nhiều nằm trước huyệt. Nếu có ba đến năm lớp thì phúc khí bền lâu. Một lớp hộ vệ thì phúc trọn một đời, còn nếu vùng hộ vệ rộng đến mười dặm thì đó là nơi sinh ra danh tướng.

Quỷ sơn cũng có chân hình, và chân hình ấy tùy thuộc vào ba sao cát cùng Phụ Bật. Mỗi sao trong chín sao đều có dáng quỷ riêng. Quỷ của Tham Lang rất nhọn và nhỏ. Quỷ của Vũ Khúc ít cành lá, phần lớn thành dáng cái thìa lật úp, nằm sau huyệt thì tốt nhất. Quỷ của Cự Môn có hình châu ngọc. Hữu Bật làm quỷ thì giống một tấm màn trướng, có khi mọc ra từ phía sau long sơn và hổ sơn. Quỷ của Tả Phụ phần nhiều có dáng đốt sống của loài sâu, na ná chữ Vương.

Phá Quân, Lộc Tồn, Liêm Trinh và Văn Khúc phần nhiều tạo thành cửa ải. Cửa ải mà rộng lớn thì gọi là tân quan. Cửa ải cũng có lớn nhỏ: Phá Quân và Lộc Tồn đứng ngoài ngăn trước cửa. Lộc Tồn mà không có lộc thì gọi là thần đàn, Phá Quân mà không có phá thì thành cận quan. Quỷ sơn đổi hướng đều dựa vào hoành long, còn chính long thường lạc huyệt từ đất bằng. Thế long ở đất bằng giống con rết bò, chân núi dài như mái chèo, và trước mặt chính là huyệt vị. Nếu mái chèo quay ra sau thì long mạch còn đi tiếp; nếu mái chèo quay ra sau mà bỗng có đỉnh núi dựng lên thì nơi đó chắc chắn có chân long.

Tóm lại, chín sao đều có hình quỷ, mỗi sao có bốn dạng, cộng lại là ba mươi sáu hình quỷ. Biết được hình quỷ cũng là biết được tinh túy của chân long.

Lại hỏi: thế nào mới được gọi là quan? Đó là ngọn núi kéo dài ngược hướng ở phía sau núi triền, biểu hiện của việc núi triền còn dư khí, cũng như sau lưng long huyệt có quỷ vậy. Quan đứng trước, quỷ đứng sau; quan phải biết quay đầu, quỷ phải biết nghênh đón, bằng không chỉ là hư ảo và huyệt không thể kết phát. Nơi có nước mưa tụ lại ở chỗ quan lan mà chẳng thấy huyệt, thì cũng giống như người đã được bổ nhiệm mà không đi nhận chức.

Minh đường: nơi chân khí hội tụ

Hãy xem minh đường, nơi chân khí tụ lại. Trong lòng minh đường cần có đất bằng phẳng; nếu có nước thì nước phải rộng rãi và phẳng lặng mới quý. Nếu minh đường nghiêng đầu, lệch lạc, lao tới, hoặc nước chảy gấp, thì đều không tốt. Khi chưa phán đoán chắc được tả hữu, tiền hậu của núi, hãy đến minh đường xem thế nước trước tiên.

Minh đường có nhiều dáng. Có minh đường giống đáy nồi, nằm ngang, gọi là kim thuyền, được thanh long và bạch hổ ôm hai bên. Có minh đường nằm thẳng thì gọi là thiên tâm mà vẫn uốn khúc, hoặc như vết chân ngựa, tuy thẳng nhưng có thế cuộn lượn. Minh đường giống đóa sen, nếu trôi về bên trái thì đại quý, về bên phải thì tiểu quý, còn đóng ngay giữa thì các phương đều đạt phú quý song toàn. Minh đường lấy thế nằm ngang làm quý, tiếp đến là thế khúc chiết rõ ràng gọi là quan tỏa. Minh đường trôi đi mà không có thế quay đầu thì không tốt.

Quan tỏa có nhiều kiểu: dài mà vuông gọi là tượng, ngắn gọi là mộc, nhỏ gọn gọi là kim, đầy đặn gọi là ngân. Xem xong các kiểu ấy thì cần đến gần cục thế quan sát; nếu bên trong có nhũ huyệt thì đó là chân long. Nếu quỷ có hình trái bầu thì chuyển sang bên trái. Trước huyệt mà có thế chuyển ngang thì quan vận sẽ chuyển, con cháu ba đời được hưởng phúc.

Phá Quân: lá cờ bay có đuôi kéo dài

Dáng núi của sao Phá Quân giống lá cờ: phía trước là núi cao, phía sau thấp dần. Hai bên không có thế hiểm yếu, vách núi dựng lên nghiêng lệch. Ít ai biết rằng đây chính là tinh tú sinh ra lục phủ: trên mặt có tam thai, xa hơn là tổ sơn. Từ đó sinh ra sáu diệu là Tham Lang, Cự Môn, Lộc Tồn, Văn Khúc, Liêm Trinh và Vũ Khúc. Tinh tú trên tam thai được gọi là tam giới, sáu vì sao này dắt nhau mà ra. Hình tròn, nhọn thì giống Tham Lang và Cự Môn, hình tròn đầy sinh ra Vũ Khúc; thượng thai, trung thai, hạ thai cũng hiện ra rồi đi thẳng đến Văn Xương thai của lục phủ.

Sáu sao của Văn Xương thai giống hình lưỡi dao yển nguyệt. Trên đỉnh bằng phẳng sinh ra sáu sao, ổ sao tạo nên chỗ lồi chỗ lõm; trong chỗ lõm lại có phần trồi lên, sinh ra chín sao xếp đặt ngay ngắn. Phá Quân chịu sự biến chuyển của chín sao: mỗi vì sao sinh ra một đỉnh núi, hình tượng đều hiện rõ, thế núi nằm trên mặt đất mà hình của thủy lại ở trên trời. Nếu tôn tinh trồi lên thì chân khí bị dứt, cành lá đều bị Lộc Tồn chiếm mất. Nói đến tôn tinh là nói đến ba sao cát và Phụ Bật.

Phá Quân có hình lá cờ bay, đuôi kéo dài mới là chân hình; nếu có tôn tinh xuất hiện thì mới thành hình thế. Tên gọi của hình thế Phá Quân tùy theo từng loại tinh tú mà đặt ra.

Bảy dáng Phá Quân theo từng sao

Phá Quân của Tham Lang như bỗng nhô lên, từng bậc từng cấp, tên là thiên đệ. Mũi nhọn trên đỉnh hướng về trước mặt thì có nham huyệt. Chỗ đỉnh duỗi ra trông như con gà đang gáy; trên đỉnh có một dải đai trải xuống vách đá, đi thẳng ra đất bằng như sợi tơ nhện. Sợi tơ ấy dường như đứt mà không đứt, tựa vó ngựa vượt qua, ở hai phía đông tây có thể thấy rõ. Hình tượng của ba sao cát bao giờ cũng như vậy, nơi này gọi là cát phá địa. Đi qua đất bằng hay nước cũng đều như thế, nhất định có ao hồ đi sát hai bên. Tham Lang xuống rồi Phá Quân đi, hình thành viên cục.

Phá Quân của Cự Môn bày thành hình chữ thập, đỉnh tương đối tròn nhưng có thế nghiêng. Nó giống chim gõ kiến đậu trên cành cao, lên thẳng đến đỉnh mới lộ ra đá và nước. Tinh tú này rời khỏi long mà tạo thế chân vạc. Long này đem lại phú quý, có thể sinh bậc vương hầu, trải qua mấy lần đổi thay sẽ xuất hiện tể tướng phò trợ nước nhà.

Phá Quân của Lộc Tồn đều nằm trên đỉnh bằng phẳng, hai bên thân như rắn uốn mình trườn đi, hai sườn hơi lộ ra, trước mặt như cây đại thụ đổ trên đất bằng, sinh vô số thân cành lá. Trong tán lá lại nảy mầm non, tạo thế từ núi cao chạy xuống đất phẳng. Huyệt vị ở ngay trước mắt, nhưng nếu không có hộ tống thì chỉ có thể dựng đền miếu mà thôi.

Phá Quân của Vũ Khúc giống một cái chạn đựng thức ăn bị đổ. Thân hình đầy đặn nhưng nghiêng lệch, mạch núi phía trước chạy ra như con gà duỗi cổ, mạch từ đỉnh xuống trông như sống múi. Chân núi một cao một thấp, không nhọn; nơi nhũ đầu lạc huyệt ắt phú quý song toàn.

Phá Quân của Liêm Trinh cao lớn, tiếng dòng nước lớn chảy qua cửa ải ầm ầm như sấm. Phá Quân của Tả Phụ giống chiếc khăn đội đầu của đàn ông, hai bên có chân như thế đá cầu. Phá Quân của Hữu Bật giống con cá chép vượt Long môn, đến đất bằng bỗng dựng đứng lên. Các dáng Phá Quân này đều chen nhau đi trong đất bằng, kéo dài thân hình và đặt chân theo hướng ngang.

Triền hộ nhiều hay ít, và cách nhận chân long đổi cốt

Muốn thành đàn thần, tông miếu hay nơi phú quý thì cần xem kỹ sự khác nhau của núi triền hộ. Triền hộ nhiều thì đó là long phú quý, triền hộ ít thì chỉ thành đền chùa. Trong chín sao đều có Phá Quân, Lộc Tồn và Văn Khúc, hình của ba sao này do Phụ Bật làm chủ. Nếu chúng nối nhau như xâu chuỗi thì đó là Lộc Tồn của Cự Môn; nếu có hình mái chèo thì đó là lộc của Phá Quân. Nếu thành huyệt ở dưới sao cát thì tốt, ngược lại thì xấu. Huống chi long hung ác thì không thể kết huyệt, dù có thành cũng là huyệt giả, mà huyệt giả thì làm sao bền lâu được.

Khi chân long xuất hiện, trước hết hiện ra tôn tinh. Nếu tôn tinh sống động thì tử long cũng có thể hóa thành sinh long. Long đổi cốt thì xuất hiện Phá Quân, Liêm Trinh, Lộc Tồn, Văn Khúc. Phá Quân bỗng quay ngang rồi bước ra khỏi màn sa trướng, long này hiện lên với dáng của một vị tướng quân, dòng nước gặp phía trước thành áo giáp của nó. Lúc ấy hình tượng của Phá Quân và Lộc Tồn rất nhiều: nếu không có hình mũi đao thì cũng có hình gươm kích. Long đi mà gặp phương vị của Lục Tú thì gặp lục khí tung hoành khắp trời đất; lục khí biến hóa sinh ra lục tú, dù hung tinh có đến đây cũng bị diệt tận gốc. Hung tinh bị diệt hết thì cát tinh sinh ra.

Phá Quân nơi dải Côn Luân và những miền không núi

Mỗi dải chân núi của sơn mạch Côn Luân đều là Phá Quân sơn, nối nhau liên miên không dứt từ bờ phía bắc của biển lớn. Người sinh ra ở đó vạm vỡ, tính tình dũng mãnh, trẻ lên ba đã biết cưỡi ngựa bắn cung. Thế núi đi đến vùng Lũng Hữu thì đỉnh cao chọc trời, nhọn hoắt. Vì sao nơi này không sinh ra văn nhân? Vì núi quá nhiều mà thành chỗ hỗn trọc. Nơi núi cao lũng rộng thì đỉnh nhọn không như trên đồng bằng, ở đồng bằng dù có núi cũng chỉ lác đác vài ngọn.

Sơn mạch chạy tới Đại Tản Quan thì núi sông hội tụ rất nhiều; chạy thẳng đến cửa Hàm Cốc thì dòng nước từ Hoàng Hà hiện ra. Núi thấp dần rồi xuất hiện núi Hùng Nhĩ, đồng bằng vạn dặm cũng thấp dần. Đến đất Đại Lương thì không còn núi, vậy phải tìm chân long ở đâu? Phải dựa vào sông nước mới thấy được tông tích của long. Trăm dặm quanh La Thành cũng chưa kể là xa; biết được điều này rồi mới có thể bàn đến chín sao.

Muốn biết chín sao thì phải xem chính hình của chúng, vì vậy hãy tìm ở nơi chân của chính long dịch chuyển, từ đó biết Phá Quân và Lộc Tồn đang dời đổi bên trong. Núi nào trong thiên hạ cũng có Phá Quân và Lộc Tồn. Khi Phá Quân giao với Lộc Tồn thì xuất hiện địa trục, tức là có núi đứng ở thủy khẩu. Lộc Tồn không có lộc thì hình thành quan, Phá Quân không có phá thì thành lan. Núi hình quan, hình lan tạo ra thủy khẩu, và trong nước ắt có la tinh.

Đại long cần có Phá Quân sơn lớn, tiểu long cũng cần có Phá Quân, Lộc Tồn và Văn Khúc kèm hai bên. Liêm Trinh phần nhiều thành núi tổ của long; nếu có Phụ Bật cùng đi với long mạch thì ắt sinh phú quý. Nếu đỉnh Liêm Trinh quá cao thì không có long, chỉ có thể ứng theo và làm cửa ngõ. Quan lan nơi thủy khẩu sơn đều là Phá Quân và Lộc Tồn, tuy không có chân nhưng răng nanh giao nhau thành một vòng; ở đó xuất hiện núi nằm ngang như hổ phục hoặc hình vòng cung. Chỉ cần nhận ra thủy khẩu sơn là nhận ra được Phá Quân và Lộc Tồn.

Nguồn: Lưu Bá Ôn, Địa Lý Toàn Thư, tập 2.

Kiều Oanh Trần

Tác giả

Kiều Oanh Trần

Nghiên cứu Mệnh lý - Tử vi - Tâm lý học

Theo dõi trên Facebook

Chia sẻ bài viết

FacebookXLinkedInZalo
Quay lại Đạo Gia