Bài tổng quan
Xem đất từ hình núi, hướng nước và năm đốt tổ tông
Núi chạy thẳng tấp, thô cứng và cao sừng sững thì đừng táng, còn nơi thâm sơn cùng cốc chợt nổi một gò nhỏ lại có thể là cát địa. Người xưa còn tính rằng phúc đức chỉ kéo qua năm đời, và năm đời ấy ứng với năm đốt của mạch núi. Vì sao một đốt núi lại gánh cả một đời người?
Mục lục · 7 phần
- 01Xem đất theo thứ tự: hình đất, núi nước cạnh huyệt, hướng và bối
- 02Núi quý ở oai nghiêm, nước quý ở uốn quanh
- 03Chính mạch và bàng chi, gò nhỏ giữa vùng thô cứng
- 04Hiệp, sa, gió và hình dáng tình ý của núi
- 05Một gò nhỏ giữa thâm sơn và nơi không nên cất nhà
- 06Nước là phần nối của núi
- 07Năm đốt núi, năm đời người
Xem đất theo thứ tự: hình đất, núi nước cạnh huyệt, hướng và bối
Phàm xem địa lý núi sông, việc đầu tiên là quan sát hình dạng của chính vùng đất. Xem xong hình tướng núi sông thì xét núi nước ở sát cạnh huyệt, rồi xét các trạng thái hướng và bối. Đó là bước cơ bản để tìm và chọn long mạch.
Nếu ở vùng bình dương thì phải xét xem mạch nối liền ra sao và nhô lên đột xuất ở đâu: có long như sóng trào, có long như rắn bò. Long mạch của núi tuy khác long mạch của đất bằng, nhưng có một điểm giống nhau: hai dòng nước giao hội, tụ hợp là điều không thể thiếu.
Đất hai bên sông lớn là thượng địa, hai bên sông nhỏ là trung địa, hai bên ruộng nước là hạ địa. Với sông lớn, chỉ cần nguồn nước chảy từ xa tới là được. Chỉ có địa mạch nhô lên từ đồng bằng mới là sơn mạch đẹp đẽ kỳ diệu, dù ngắn dù nhỏ cũng cực quý.
Long mạch có nước trong đổ vào, bên ngoài hợp với thế ngang. Nếu nước ngoài núi giao hội mà cửa nước co hẹp thì có thể chọn làm huyệt. Long mạch có nước ngoài đổ vào, núi án sáng sủa, minh đường thoáng đãng mà nước không rời đi thì lập huyệt được. Nếu nước không tới minh đường thì đừng lập huyệt. Nếu núi không giữ được khí thì cũng không nên cư trú.
Núi quý ở oai nghiêm, nước quý ở uốn quanh
Chân hay giả của địa mạch đều bao hàm núi, nước, hướng và bối. Núi không trọng ở vẻ yêu kiều mà quý ở dáng oai nghiêm, bình chính. Nước không nhắm vào chuyện đến hay đi mà kỳ diệu nhất là uốn lượn bao bọc. Dãy núi nghịch với nước thì rất cần minh đường rộng và sáng. Dãy núi thuận theo nước thì cần có núi án chắn phía trước. Nước chầu không nên quá thẳng và cứng. Núi chầu không ngại uốn lượn, chỉ kỵ nhất là nghiêng xéo.
Với dòng long quanh co chỉ cần để ý thế đi. Với nhánh long thì phải xem tinh thần của nó có hiện ngang không. Nhánh long yếu ớt, không có hộ tống thì không nên chọn, nhưng có thể táng ở nhánh long cúi thấp mà có đuôi. Gặp làng xóm thì xem long có sinh động hay không. Thế đi của sơn mạch cần có nước kèm sát hai bên hộ tống thì mới có huyệt thật. Nếu nước không bao bọc hộ tống thì đó chỉ là long đang đi.
Dãy núi quay lưng nghịch thế nước thì hai dòng nước phải tụ ở phía sau. Núi thuận theo nước thì hai dòng nước phải tụ ở phía trước. Sơn mạch chạy từ bên trái tới thì hai dòng nước nên tụ bên phải, và ngược lại. Tóm lại phải có nước bao bọc hộ tống sơn mạch. Thế đi của sơn mạch thẳng thì nên chọn huyệt chính diện, sơn mạch uốn như vành cung thì nên chọn huyệt nghịch hướng.
Long thô kệch cứng đơ, tới gần nước mà dựng đứng thì không nên kết huyệt nhà ở, mà nên chọn nơi long hoạt bát sinh động, và cũng phải có nước bao bọc hộ tống mới tốt. Nước không bao bọc sơn mạch thì mạch ấy chưa dừng, có nước thì sinh khí mới tụ.
Chính mạch và bàng chi, gò nhỏ giữa vùng thô cứng
Nơi khởi đỉnh, nếu hai dòng phân ra dài ngắn bằng nhau thì long ấy là chính mạch, nếu một dài một ngắn thì là bàng chi. Địa mạch khuất khúc, hồi chuyển thì phần núi thấp phía dưới thường nhấp nhô nên có chỗ khiếm khuyết. Chỉ khi núi ngoài bao bọc dày đặc, hai dòng nước tụ ở phía sau thì mới thành cát địa. Địa mạch uốn lượn đổi hướng cần có phần núi thấp của chính nó hùng vĩ dày dặn. Địa mạch uốn quanh, phía sau thường thiếu hụt, cần nhiều nước canh giữ.
Phàm sơn mạch chạy dài cần thu về, kết thành một gò đầu nhỏ gọn, nổi lên, ôm một khối nhau, thì nơi ấy mới gọi là đất quái lạ mà kỳ đẹp. Không có gò đầu nhỏ bé thì khí mạch không kết tụ được. Hơn nữa còn cần núi nước hộ tống hai bên thì mới hùng mạnh có lực. Gò đầu nhỏ gọn của địa mạch bình dương trông giống một đỉnh bạc. Long kết thành đất dương thì đỉnh bạc ở xa lớn rồi dần thu nhỏ, mạch một tụ một tán, một thu một buông. Long kết thành mạch âm thì đỉnh bạc ở gần lớn rồi từ từ nhô lên, khí một buông một giữ, một tán một tụ.
Có long như bình phong xếp hàng, như chim ưng bay lượn, như lúc lên lúc xuống, biến hóa khôn lường: đó là chỗ quý nhất của vùng núi. Có long như sóng cuộn, như rắn bò, khi đứt khi nối, mạch lạc thông suốt: đó là chỗ quý nhất của vùng đất bằng. Núi hang kết thành địa mạch thì phải có đoạn đứt, nếu không khí mạch sẽ thô, đục và nặng nề. Bình dương kết thành địa mạch cần nhọn, lại có đỉnh bạc nối liền, bằng không cũng không liền thì khí sẽ tản mác.
Sơn mạch sinh ra bậc công hầu thì đoan trang, dày dặn. Sinh ra quan văn thì thanh kỳ, tú lệ, đáng yêu vô cùng. Sinh ra võ tướng thì hào hùng, khiến người nhìn phải kính nể. Can long mà khởi thế cao vút thì núi hai bên kèm sát hộ tống ắt hùng hậu và phát đạt. Chi long khởi thế thấp thì núi hộ tống không thể hùng vĩ, khí thế chẳng được hậu như can long.
Hiệp, sa, gió và hình dáng tình ý của núi
Chân của chi long đang đi mà dừng lại kết huyệt thì phải qua một chỗ thắt hiệp hoặc nhô lên một đỉnh, vùng bình dương bên dưới cần nổi gồ lên. Nếu long mạch không qua hiệp thì huyệt dưới chân núi không có thần tướng bao bọc, ấy là huyệt giả. Nơi qua núi mà bốn phía sơn cương bao bọc, la thành dày đặc thì có thể chọn làm huyệt. Nếu dòng nước hiệp chảy thẳng tới mà trước mặt không có cửa ải thì không thể kết huyệt. Long mạch xoay mình nhìn về tổ sơn thì được.
Sa sơn quý nhất là có tình với hướng, kỵ nhất là cùng nghịch với bối. Dáng như vòi voi thì cát, giống cánh cung thì tốt, nghiêng lệch mà vươn ra thì hung. Nơi có nhiều núi tụ kết, hoạt bát sinh động thì táng được. Chỗ bình cương, gió thổi cũng không hại, còn nơi hẻm núi thì gió thổi vào gây hại. Vùng bình dương không sợ gió, còn vùng khe núi rất kỵ gió.
La thành là tường thành, bao bọc kín đáo là quý. Cửa nước là cổng, quý ở chỗ chắn ngang. Núi chầu là khách, từ xa tới là quý. Minh đường là kho của, tụ lại là quý. Nên biết bên bờ sông, hồ, biển lớn thì núi quý ở chỗ nước, còn giữa vùng đất bằng trống trải thì nước quý ở chỗ núi. Nước chầu cần thịnh vượng, nếu suy yếu thì sẽ dẫn tới chết yểu, gia nghiệp lụn bại.
Sơn mạch chạy tới thẳng, thô, không đứt đoạn, không dừng lại, đứng cao sừng sững thì đừng táng. Nếu là hoành sơn đảo ngược thì cần có đuôi, tức có tình, mới là huyệt thật. Nếu gần đó có sa bao bọc hộ vệ thì không cần đuôi. Hình huyệt giống viên ngói ngửa lên cũng không ngại, đuôi lệch về một bên cũng được.
Địa mạch hình như cái yên ngựa đặt trên lưng long, nếu ở giữa lõm khuyết, phía trước dựng đứng, hai dòng nước giao nhau bao bọc thì có thể hạ huyệt. Nước không giao hội thì chớ hạ táng. Long đổ nghiêng, thế núi hiểm ác thì không nên chọn huyệt, còn nơi có sống núi hơi cong, uốn thì có thể được. Long mạch tiến tới không nên lệch nghiêng, có vẻ hữu tình thì mới hạ huyệt. Nơi bình dương rộng rãi, quân bình, thẳng ngay thì có thể dùng chỗ đổ ngược mà làm đất dương để chọn huyệt. Nếu bình dương có chỗ nổi cao thì khí cát bay lên, nếu bình dương có thế mở ra thì là huyệt đại cát.
Hang động của núi cao ắt có nước tụ hợp bên dưới, bằng không nó chỉ là long đang đi. Huyệt hang giữa núi vốn đã đẹp, huyệt nổi gồ giữa vùng bằng còn đẹp hơn. Nơi bỗng nổi cao mà có chỗ hơi lõm thì không nên hạ táng. Nơi hang thấp lõm cũng không nên lấy làm huyệt. Long mạch tới thẳng thì chọn huyệt táng ngang, vì gọng kẹp, minh đường và khí tức đều tụ về một phía, nên táng ngang để gần tiếp nó. Phía sau cần có đuôi, dư khí cũng cần bao bọc chuyển về, hai dòng nước phải tụ hợp, bằng không sơn mạch ấy chỉ là ngọn núi nằm ngang. Phía trước huyệt không có nước tụ thì không nên chọn huyệt. Có nước tụ mà lại cuồn cuộn chảy đi thì cũng không tốt.
Làm huyệt trên núi cao thì nước hình dạng thế nào cũng được, chỉ cần chân núi ranh giới phân minh. Kết huyệt ở bình dương thì không sợ gió, chỉ cần gọng kẹp của chính nó ngay ngắn. Trên núi cao có chỗ bằng phẳng, bốn mặt bao bọc, không chỗ nào thiếu sót hay nghiêng lệch thì được. Nếu sơn mạch tới thô hùng cao lớn thì cần nước lớn bao bọc hoặc hai dòng nước ôm hợp mới kết huyệt được.
Một gò nhỏ giữa thâm sơn và nơi không nên cất nhà
Nơi thâm sơn cùng cốc, bỗng sinh ra một gò nhỏ, mở rộng hai bên như gọng kẹp, lộ nhũ, khác hẳn với núi xung quanh. Thật ra nó đang thoát khỏi vẻ thô to. Tú khí hội tụ, minh đường tự kết thành chỗ trũng, bốn phía bao bọc thì có thể mai táng.
Sơn mạch cao, thô, hùng chạy tới, không có gợn sóng nhưng lại sinh một gò nhỏ, phía sau vẫn thô cứng mà ở đây kết tụ sinh khí, mở rộng gọng kẹp, lộ nhũ thì ắt là cát địa. Không có gò nhỏ thì sinh khí không thể gom lại. Nếu có gợn sóng như sườn trâu thì là hung địa. Sơn cương thô cứng đứng im, không mở trũng, không mở gọng kẹp, thì địa mạch ấy mất núi đến. Sơn thẳng, nhọn sắc, nhỏ hẹp thì địa mạch ấy mất núi chủ.
Nếu mạch đến thuộc âm, gò nổi đầy đặn giữ được sinh khí, khí thế hùng vĩ thì có thể xây lâu đài. Nền đất nhỏ hẹp thì chớ nên dựng nhà cao. Xây phòng ốc làm tổn hại mạch đến thì vô cùng hung hiểm, hai bên trái phải cũng vậy. Hai bên nhà nhất định phải trống trải để tỏ ý có dư đất mà không dùng hết.
Long mạch đến đi thẳng thì cần có sự hỗ trợ trước sau. Long mạch đến ngang, đi ngang thì cần tả hữu bao bọc. Mạch đến thẳng mà nhận nghiêng ở xa thì cần có tổ sơn hộ vệ, như vậy tuy hư mà không giả. Mạch đến nghịch mà nhận thuận thì bao hàm và thu nạp khí mạch có sẵn. Mạch đến thuận mà nhận nghịch thì phải xét kỹ thế phong nhiêu và tiêu giảm.
Còn một lời nữa nói về chuyện tu tâm tích đức của người làm nghề địa lý. Thầy phong thủy phải chọn chủ nhân có đạo đức, mà chủ nhân cũng cần chọn thầy địa lý lương thiện. Cát địa rất khó tìm, chỉ có tu tâm tích đức và cố gắng học hỏi, tìm kiếm mà thôi. Có lòng thiện mà chưa giỏi thuật thì thuật sẽ được lĩnh ngộ từ lòng thiện. Chỉ có thuật mà không có tâm thì thuật sẽ mất theo tâm.
Nước là phần nối của núi
Sơn mạch tụ kết hình thành là một thể thống nhất rồi phân tán ra muôn ngàn sự vật khác nhau. Dòng nước tụ hội sinh thành là từ muôn vật khác nhau mà quy kết dung hợp làm một thể.
Vì vậy khi bàn về sơn mạch ta nói theo cách chi mạch và can mạch. Trước hết là long mạch, kế là huyệt. Chia hai bên trái phải thì có Thanh Long, Bạch Hổ. Chia trước sau thì có Chu Tước, Huyền Vũ. Từ đó lại chia ra la tinh, hãn môn, quỹ điệu. Sơn mạch phân tán thì cần thu gom, tụ kết để sinh khí của núi tụ hội, nên rất cần nước. Tác dụng của nước liên hệ mật thiết với âm dương, đến chuyện phải trái, họa phúc cũng liên hệ mật thiết. Một sơn mạch chạy dài cần có hai dòng nước kèm sát hộ tống.
Nước phân ly vì nhiều nguyên nhân. Hãy lấy một huyệt để nói: cứ năm đốt thì thành một tổ mạch, thống lĩnh Long Hổ, ứng tiếp hãn môn, la tinh và quỹ điệu thì luôn cần tụ hội. Thế gọi là cứ một cục âm dương thì có một chỗ giao độ lớn. Long mạch chuyển đi sinh ra một đốt liền có hai dòng nước vây, ấy là nước hội hợp mà sinh ra một đốt long mạch. Sinh đến huyệt thì đầu huyệt và chân huyệt là một phân một hợp. Một Thanh Long, một Bạch Hổ tất có nước làm ranh giới đi cùng. Các sơn mạch ta thấy được cũng luôn có nước làm ranh giới đi theo, thế gọi là một núi hai nước.
Nước cuồn cuộn chảy tới nên phải có minh đường để thu nạp nước đến của cả một cục, tức thu nạp nguồn nước của các núi. Còn nước ở minh đường chính là nước được các khí tụ hội mà thành.
Năm đốt núi, năm đời người
Từ đời ông cố kéo đến đời cháu chắt gọi là ngũ thế, tức năm đời. Sau năm đời thì tình thân chấm dứt mà phúc đức cũng cạn. Vì thế trong địa lý người ta lấy năm đốt làm một huyệt, một huyệt lấy năm đốt làm một tổ, và phúc đức qua năm đời thì hết.
Thi hài mai táng truyền đi năm đời thì thành tổ của một chi. Mà sơn mạch nơi mai táng tổ tông cần hợp thành một thể với thi hài, nên cũng gọi là tổ sơn. Như vậy tổ tông của sơn mạch nằm trong năm đốt, ở phía dưới nơi dừng lại, còn tổ tông của người thì nằm ở chỗ bắt đầu của năm đời, cũng ở phía dưới nơi dừng lại. Nơi kết thúc của tổ sơn và tổ người đã khác nhau thì dựa vào đâu mà xét phúc họa? Hãy xem kỹ và hiểu rõ sự hội hợp thì sẽ thấy.
Ở sơn mạch thì lấy khí. Khi sơn mạch thành hình, nó đã chuẩn bị đầy đủ, cùng hòa hợp hội tụ, nối liền xuyên suốt từ chỗ khởi đầu đến chỗ kết thúc của năm đốt. Khi mai táng hài cốt thì lấy đốt đầu tiên của sơn mạch làm huyệt. Rút lấy sinh khí của một đốt trong đó thì khí mạch của cả năm đốt sẽ xuyên suốt và đều tụ hội tại đây, từ đời cố cho đến đời chắt. Thi hài tổ tông sau năm đời thì không ai còn thấy. Thi hài ấy gắn vào một đốt của sơn mạch, sinh khí của năm đốt bị gói vào hình tượng của một đốt cố định. Nó chỉ rõ tinh tú nào, địa mạch nào thì sinh ra nhân vật nào và phúc đức nào: một đời người ứng vào một đốt mà tồn tại. Cứ qua một đời thì lùi về sau một đốt, đến đốt thứ năm thì sinh khí của năm đốt cũng cạn kiệt.
Nguồn: Lưu Bá Ôn, Địa Lý Toàn Thư, tập 2.
