Bài tổng quan
Hai mươi bốn hướng rồng ứng với các vì sao trên trời
Ngẩng nhìn bầu trời đêm, bao giờ cũng có một vì sao tôn quý nhất đứng ở chỗ then chốt mà thống lĩnh muôn sao; cúi nhìn mặt đất, cũng có một chỗ núi nước thống lĩnh muôn mạch. Người xưa gắn từng hướng của mạch rồng với một ngôi sao, và mỗi cặp ấy báo phú quý hay họa hại khác nhau. Nhưng nếu bỏ hình đầu núi chỉ xem sao trời thì được gì?
Mục lục · 7 phần
Trời có sao tôn quý, đất có núi nước tôn quý
Ngẩng lên nhìn bầu trời đêm, thấy các vì sao xếp thành đủ hình dạng khác nhau, nhất định có một ngôi sao tôn quý nhất, đứng ở vị trí then chốt nhất mà thống lĩnh muôn sao. Cúi xuống nhìn mặt đất, thấy sông núi, ao hồ la liệt, nhất định cũng có một chỗ núi nước đẹp nhất, đứng ở vị trí kỳ diệu nhất mà thống lĩnh muôn mạch. Trời hình thành nhiều tinh tướng, đất có vô số địa mạo. Nhưng muốn thành một thế đất kỳ diệu tốt đẹp, không thể nói một mạch rồng hợp với một vì sao là đã đủ để coi là nơi hoàn mỹ.
Mỗi hướng rồng ứng với một vì sao
Theo cách nói xưa, mỗi hướng của mạch rồng đều có một ngôi sao đi cùng, và ngôi sao ấy quyết định thế đất mang điềm lành hay điềm dữ.
Theo thuyết sao trời đời xưa truyền lại, rồng hướng Hợi hợp với sao Thiên Hoàng thì phú quý vô cùng. Rồng hướng Nhâm hợp với sao Thiên Phủ thì phúc lộc cát tường nhưng nhỏ hơn. Rồng hướng Tý hợp với sao Dương Quang thì vận khí không hay, dễ chết yểu. Rồng hướng Sửu hợp với sao Kim Ngưu thì dâm tà phóng đãng. Rồng hướng Cấn hợp với sao Dương Khu thì phú quý tột cùng. Rồng hướng Dần thì phát tài chút ít rồi lập tức suy bại nặng nề. Rồng hướng Giáp hợp với sao Âm Cơ thì phát tài chút ít nhưng bị bệnh tật nặng nề.
Rồng hướng Mão hợp với sao Dương Hoành thì uy danh hiển hách, quyền lực tối cao, khí phách hiên ngang. Rồng hướng Ất hợp với sao Thiên Quan thì nhân khẩu ít ỏi, con cháu không vượng. Rồng hướng Thìn hợp với sao Thiên Canh thì hung hãn, độc ác, xảo trá. Rồng hướng Tốn hợp với sao Dương Toàn thì vinh hoa phú quý và thanh cao. Rồng hướng Tỵ hợp với sao Thanh Xả thì tính khinh bạc, hành vi phóng đãng. Rồng hướng Bính hợp với sao Âm Quỳ thì vinh hoa phú quý, tài sản dư dật. Rồng hướng Ngọ hợp với sao Dương Quyền thì bạo phát bạo tàn. Rồng hướng Đinh hợp với sao Nam Cực thì khỏe mạnh trường thọ, tài lộc phong phú, vinh hoa.
Rồng hướng Mùi hợp với sao Thiên Thường thì thanh cao tôn quý. Rồng hướng Khôn hợp với sao Thiên Thành thì cô độc một thân. Rồng hướng Thân hợp với sao Thiên Quan thì không có được sự toàn vẹn. Rồng hướng Canh hợp với sao Thiên Hoàng thì uy danh hiển hách, quyền lực tối cao. Rồng hướng Dậu hợp với sao Kim Kế thì tài trí hơn người, mưu lược xuất chúng, quý hiển trường thọ. Rồng hướng Tân hợp với sao Âm Toàn thì văn chương hoa mỹ, quý hiển trường thọ. Rồng hướng Tuất hợp với sao Thiên Khôi thì chết non, bệnh tật triền miên. Rồng hướng Càn hợp với sao Dương Cơ thì tàn bạo hung hãn.
Gốc là hình núi, ngọn là sao trời
Trong lời bàn về việc xét đất, người ta nói rằng đầu núi, chín sao và khí đất, thịnh hay suy, thường rất ứng nghiệm. Hình đầu núi là căn bản, còn xét sao là công dụng. Nếu bỏ hình đầu núi mà chỉ dùng sao trời để xem đất thì được gì? Xem đất mà không bỏ hình đầu núi mới là thượng sách. Hình đầu núi trên mặt đất kỳ lạ đẹp đẽ là toàn mỹ; nếu lại phối hợp thêm sao trời như Hợi, Cấn, Tốn, Đinh thì càng hay. Mạch rồng uốn lượn như chữ Chi, chữ Huyền, hợp với phép năm sao thì mới kết thành huyệt.
Câu nói thiên thời không bằng địa lợi là chỉ những sao hung sát tàn ác như Thiên Canh, Thiên Khôi, Dương Cơ, Dương Quang. Còn những sao cát lợi đem lại phú quý như Thiên Hoàng, Âm Toàn, Dương Hoành thì sao lại bỏ đi?
Lời xưa còn nói nếu trong nhà có người đức hạnh cao thượng ở thì đất đá trên đỉnh núi gần đó nhất định có linh khí. Điều ấy ngụ ý rằng con người hoàn toàn có thể thắng được tự nhiên, trung tâm của tự nhiên hoàn toàn tụ ở thân người, là cái linh của vạn vật. Lại nói rằng nếu không biết sự biến hóa đan xen, trong anh có tôi, trong tôi có anh, thì làm sao biết trong khối lửa đang cháy đùng đùng vẫn có bông hoa sen. Ý là khí âm và khí dương tác dụng lẫn nhau có thể làm cho sao trời biến hóa, đổi phương vị, nghĩa là sức người cũng rất lớn.
Sao là thứ khí nhẹ nhất và linh nhất của trời đất
Trên trời có triều đình của các vì sao, dưới đất cũng có triều đình của vua quan, và ánh sáng của bên này soi xuống bên kia.
Nói đến sao là nói đến thứ khí nhẹ nhất, linh nhất của trời đất. Khí nhẹ ấy dần dần bốc lên mà thành Trời. Bầu trời rộng bao la lại chia ra các tinh tú, đặt vào các cung thất, quản lý các vị thần lành. Cũng như dưới đất, triều đình đặt quan chức để quản lý bách tính trong thiên hạ. Vì vậy sao trời treo lơ lửng trên cao, phát ánh sáng rực rỡ chiếu xuống đất, ứng hợp với địa mạo.
Cái hợp với tinh tú trên trời là dương của quẻ Kiền. Vị trí ở cực bắc trên trời gọi là Bắc Cực xuất dương. Vị trí ở một góc phương bắc gọi là nguyên dương thuộc đông. Chỗ quẻ Chấn biến hóa gọi là Dương cơ, đó là nơi quân tử nuôi ngựa. Lại có nơi gọi là Thiên Cứu, là những tinh tú ở hai bên hộ vệ sao Kiền. Sao ở vị Tuất gọi là Thiên Khôi, Lâu, Cổ Bồn, Thiên Cẩu. Sao bên vị Hợi gọi là Tử Vi, Thiên Môn, Thiên Tôn, Thiên Hoàng.
Khôn âm ở phương tây nam nên gọi là Âm Huyền. Vị trí âm cực nên gọi là Lão Âm. Sao Thiên Thành hộ vệ hai bên sao Khôn. Ở vị Mùi có các sao Thiên Thường, Thiên Chương, Quỷ Kim, Bao Y. Ở vị Thân có các sao Thiên Ngô, Đại Minh, Truyền Tống, Tòa Kỳ. Ở vị Ngọ có sao Hiên Viên cùng Thiên Miếu. Nơi vì sao giáng xuống gọi là Thiên Mã; ngôi sao ở chính giữa bầu trời chiếu sáng rực rỡ là Thái Dương; khi dương khí mạnh nhất gọi là Dương Quyền; lúc mặt trăng và mặt trời giao thời gọi là Du Hồn.
Quẻ Ly có các sao Thiên Quý, Thai Vi, Âm Phu hợp với Bính; các sao Thiên Trụ, Nam Cực, sao Thọ hợp với Đinh. Sao Thiên Lũy bao quanh phương Tý như thành lũy. Khi dương khí thuần túy quy tụ lại là sao Dương Quang; khi âm khí quá vượng, dương khí dần sinh thì gọi là Thái Âm. Hai bên vị Tý có Thiên Phủ, Thiên Hồng, Hưu Quang, Âm Quyền phò tá; hợp với Quý là Thiên Hán, Dao Quang, Bắc Đạo.
Quẻ Chấn có Thiên Thống, Âm Cơ hợp với Giáp; Thiên Quan, Địa Tước hợp với Ất; Thiên Hoàng, Thiên Hán, Âm Hoành, Võ Khố hợp với Canh; Thiên Ất, Thiên Nguyên, Văn Khoa, Dương Toàn hợp với Tân. Quẻ Tốn có tên khác là Thái Ất, còn gọi là Dương Toàn hay Ngự Nhai, hai bên có Thiên La, Thiên Canh, Thiên Bình, Thiên Đường, Minh Đường, Xích Xà phò tá. Cung Cấn có tên khác là Thiên Thị hay Thiên Khu, hai bên có Thiên Trù, Khiên Ngưu, Thiên Ngô, Thiên Bội, Công Tào phò tá.
Các tinh tú kể tỉ mỉ ở những quẻ Kiền, Khôn, Ly, Chấn, Tốn, Cấn dùng để xác định bát quái, cửu tinh, hai mươi bốn cung, các mạch rồng, bốn trạch và hai mươi tám sao. Dùng đúng chỗ thì tiêu trừ tai họa, hợp pháp độ thì hưởng phúc lộc. Ánh sáng sao trời chiếu xuống đất, mộ phần dưới đất hướng lên mà đón nhận.
Bộ ba mươi sáu hình vẽ trong Đồng Đường vấn đáp lời giản dị, hình rõ ràng, nhưng ý sâu xa: hướng lên ứng với tinh tú trên trời, hướng xuống ứng với mộ phần dưới đất, hoàn toàn không rời hai thuyết hình đầu núi và khí đất. Có thể nói đó là tài liệu rất quý cho người xem địa lý phong thủy.
Rồng ẩn ngọc ứng sao Hoa Cái
Triều hỏi: ba mươi sáu đồ hình của Quách Phác mở đầu bằng hình con rồng lớn đang vùng vẫy, ẩn giữ một viên ngọc. Trên là trời xanh, dưới là đất rộng mênh mông trống trải, không có gì tựa vào nhau, vậy tại sao nói hướng lên ứng với sao Hoa Cái thì nhất định sinh bậc trọng thần trong triều có tài trị nước?
Nguyên đáp: giữa trời và đất tràn đầy chất khí nhẹ và mềm. Mặt trời, mặt trăng, sao, đẩu trên trời, sông, hồ, ao, đầm dưới đất, hai khí trời đất tiếp xúc, hòa trộn vào nhau. Dù cõi chín tầng vô tận vẫn tràn khí trời, dù trên chín tầng trời mênh mông vẫn tràn khí đất. Vậy ai dám bảo mênh mông trống trải không có gì tựa vào nhau? Phần đầu của thế đất chỉ hướng thiên hoàng; rồng từ Cấn chuyển mạch thì làm cho chính khí cổng trời tràn đầy. Lại hướng về Bính đón hai sao Dương Tinh và Văn Giáp chiếu tới. Ngoài ra có hai ngọn sa Thanh Long, Bạch Hổ ở hai bên phò tá huyệt, làm cho khí mạch của sao Hoa Cái hòa hợp, cảm ứng với long huyệt dưới đất, khiến khí hung sát không nổi lên tác oai tác quái. Thế là văn võ song toàn, trí dũng có thừa.
Hoàng Hà và Hán Thủy gặp nhau ở chỗ cát
Triều hỏi: sông Hoàng Hà và sông Hán bên dưới đan xen phức tạp, trên trời có hai ngôi sao che chắn. Phải dựa vào pháp độ vận hành của mạch rồng mà phán đoán; khí của mạch rồng từ sao Thiếu Vị bắt đầu tương khắc, chuyển đến cung Cấn thì Kim vào Mộc, khắc nhau, là phạm. Vì sao rốt cuộc lại là nơi cát lợi? Vị trí ngũ hành phải thế nào mới phát phú quý?
Nguyên đáp: mạch rồng trên đại địa uốn lượn quanh co là khí, liên kết che chắn, tự tụ lại thành thần. Nếu thần khí của mạch rồng và đại địa song toàn thì nhất định sinh bậc đại quan quý hiển đầy quyền thế. Hãy xem hình: bên trong, khí mạch từ Đoài vào Cấn; bên ngoài, khí mạch từ Ly về Khảm, uốn lượn vòng vào, tụ kết xung quanh. Cửa nước trong cục có sa đẹp trấn giữ nên khí mạch của nước không thể tán loạn. Bình phong màn trướng vững chắc, nổi cao như hai tòa thành lũy. Kim vào Mộc là xung khắc, là phạm, nhưng nhờ hướng chầu về Hỏa nên Kim bị trấn áp, như con ngựa đã thuần. Vì thế nơi hai sông Hoàng Hà, Hán Thủy giao nhau tất sinh bậc trọng thần phò tá hoàng đế tận tụy, hưởng vinh hoa phú quý tột cùng.
Rồng cuộn bú sữa và thế đất ứng sao Thiên Uyển
Có thế đất như con rồng cuộn mình, và có thế đất như hàng rào tre có tường thành che chở xung quanh.
Triều hỏi: rồng cuộn mình bú sữa trông như cái lưỡi câu, hoặc như dải đai cuộn nhiều vòng. Chính giữa ẩn kín đáo, tất sinh bậc quan trông coi việc cúng tế; huyệt ở bên cạnh tương đối nông, cũng sinh phiêu kỵ tướng quân. Vì sao như vậy?
Nguyên đáp: sao Chẩn trải dài đến sao Hạt, tất sinh đại quan quyền thế hiển hách cao quý. Nhưng hình ảnh dòng nước ở trong thuộc dương, ở ngoài thuộc âm; đức hạnh của nhà tướng quân là bên ngoài oai vệ, bên trong thiên lương thuần phác. Nói riêng về mạch rồng, mạch Hợi uốn lượn mềm mại, che chở thành vòng, tiến vào cung Hợi, Kiền Kim thịnh vượng, biến hóa thành sao Vũ Khúc, không nằm ở chính giữa mà ở hai bên trái phải. Hình tượng ấy chủ xuất hiện phiêu kỵ tướng quân.
Triều hỏi: đồ hình này từ Lục Tú bắt đầu mở tổ mạch, sau khi uốn lượn vào vị trí Cấn thì tiến vào huyệt. Mạch rồng bắt chước sao Thiên Thị chầu về hướng Thái Vi, Mộc Hỏa tương sinh, quả là hình tượng quý hiếm. Nếu long huyệt dưới đất ứng với sao Thiên Uyển thì chủ nhân ắt nổi danh trong viện Hàn lâm, có phải vậy chăng?
Nguyên đáp: Thiên Uyển thật ra ngụ ý như hàng rào tre có tường thành hộ vệ xung quanh. Nhìn đồ hình, thấy tinh tú liền nhau trong Kim Thủy, khí sinh vượng hòa hợp, chuyển hóa cho nhau, qua cung Ly mà không tương khắc, chuyển sang hướng Chấn, Cấn thành tương sinh. Minh đường địa thế rộng rãi bằng phẳng, đó đúng là cách thật sự quý hiếm.
Nguồn: Lưu Bá Ôn, Địa Lý Toàn Thư, tập 2.
