Bài tổng quan
Hà đồ, Lạc thư, thái cực đồ ngầm uốn nét chữ Hán
Nhà thư pháp lão luyện viết nét cứng mà trong nét có mềm, viết hình vuông mà trong vuông sinh tròn. Người xưa bảo cái hồn ấy không do tay luyện mà ra, nó đến từ những bức hình cổ nhất của kinh Dịch. Bức hình nào đã dạy chữ Hán biết thở?
Hồn của một nét chữ nằm ở đâu?
Nhìn một bức thư pháp đẹp, ta thường cảm thấy chữ như đang thở. Nét cứng mà trong nét có mềm, nét mềm mà trong nét có cứng; chữ vuông vức mà trong vuông ẩn tròn, chữ tròn trịa mà trong tròn ẩn vuông. Nhà thư pháp Triệu Phác Sơ được nhắc đến như một người viết đúng như thế: bút đi đến đâu, cương nhu hòa nhau đến đó, nên chữ của ông có hồn.
Người xưa nói cái hồn ấy không phải tự nhiên mà có. Nó là bóng của những hình vẽ cổ nhất của Trung Hoa, những hình đã nằm trong kinh Dịch từ rất sớm: Hà đồ, Lạc thư và thái cực đồ. Ba bức hình ấy không dạy người ta viết chữ, nhưng chúng đã nhào nặn con mắt và tay của người viết suốt mấy nghìn năm.
Hà đồ, Lạc thư và chữ hình vuông
Có những bức hình mà gốc gác cứ lùi mãi vào bóng tối, trong khi dấu chân của chúng vẫn còn in trên mặt chữ.
Nguồn gốc của Hà đồ và Lạc thư đến nay không ai nói chắc, vì thiếu chứng cứ khảo cổ. Theo những gì thư tịch ghi lại, từ Dịch – Hệ từ, Thượng Thư cho đến Hán thư, hai bức hình này gắn với khoảng từ thời Phục Hy đến thời Đại Vũ. Truyện cũ kể rằng thời Phục Hy làm vua thiên hạ, long mã nổi lên từ sông Hoàng Hà, mang theo hình vẽ để người xưa dựa vào đó mà vạch bát quái; hình ấy được gọi là Hà đồ.
Các nhà nghiên cứu hiện đại để ý một điều: những gì khắc trên cổ vật thường có trước những gì thư tịch ghi lại, thậm chí trước rất xa. Vì thế họ đặt kết cấu hình vuông của Hà đồ, Lạc thư vào dòng chuyển biến của chữ khắc trên mai rùa, từ hình chữ nhật dài đứng sang hình vuông. Đi dọc dòng chuyển biến ấy, mối quan hệ giữa hai bên dần hiện ra.
Thử nhìn các mảnh mai rùa. Ở thời Thương, phần nhiều là những lỗ đục tròn. Sang đời Chu, toàn là lỗ đục vuông. Năm 1952, ở khu Thái Sơn, Lạc Dương, người ta khai quật được những mảnh mai rùa Tây Chu mà mặt ngoài đục lỗ dày đặc, thẳng hàng, tất cả đều là lỗ vuông hoặc chữ nhật. Đến thời chữ đúc trên đồ đồng, khuynh hướng chữ vuông rõ hơn nữa. Đến đời Hán, chữ triện hơi tròn đã hóa thành chữ lệ vuông chuẩn, và nhìn chung nó đã trở thành chữ Hán vuông như ngày nay.
Hà đồ và Lạc thư thì lại nổi bật nhất đúng vào lúc chữ Hán chuyển từ tròn sang vuông. Hai bức hình ấy không liên quan trực tiếp đến việc tạo chữ, nhưng cái nếp “trong vuông có tròn, trong tròn có vuông” của chúng khó mà không để lại ảnh hưởng. Nhà Dịch học đời Thanh là Vạn Đan Phong từng viết trong Dịch Mẫu rằng trong tròn có vuông, trong vuông có tròn, trong âm có dương, trong dương có âm, và đó cũng chính là “thần sắc” của chữ Hán.
Ngay cả tỉ lệ cấu trúc của chữ Hán vuông cũng gợi nhớ Lạc thư: ngoài vuông trong tròn, trên nặng dưới nhẹ, trái ít phải nhiều. Lạc thư cũng sắp các con số theo một thế vừa vuông vừa tròn, và hai thứ ấy ngầm hòa quyện với nhau. Hà đồ, Lạc thư thịnh hành nhất vào đời Hán, nên khó nói rằng chúng không ảnh hưởng gì đến chữ Hán.
Đến đời Tống, hai bức hình này lại nở rộ lần nữa và các học giả bắt đầu chú ý thực sự đến chúng, môn Dịch đồ học nhờ vậy mà phát triển. Dịch đồ học gồm Hà đồ, Lạc thư, bát quái tiên thiên đồ và nhiều bức đồ khác, được dùng trong rất nhiều lĩnh vực, sinh ra nhiều học giả có tiếng như Chu Đôn Di với thuyết thái cực đồ, Lưu Mục với đồ Dịch số, Ngô Nhân Kiệt với thuyết Dịch đồ, Lôi Tư Trai với phần biện giải Dịch đồ. Quá trình tròn chuyển thành vuông của chữ Hán vì thế gặp đúng thời Hà đồ, Lạc thư nở rộ, như chứng cứ cho thấy cội nguồn của chữ vuông đã rất xa xưa.
Thái cực đồ: cái hình đơn giản nhất mang ý sâu nhất
Thái cực đồ là biểu tượng của văn hóa Trung Hoa, mà nguồn gốc và thời điểm ra đời đến nay chưa ai rõ. Kinh Dịch có câu: trong Dịch có thái cực, thái cực sinh hai nghi, hai nghi sinh bốn tượng, bốn tượng sinh bát quái. Còn bức hình thì được vẽ từ bao giờ, không ai dám khẳng định.
Đó là bức tranh giản dị đến mức ai cũng có thể vẽ, nhưng triết lý chứa trong nó thì rất sâu. Phụ âm mà ôm dương, trong âm có dương, trong dương có âm, vạn vật chuyển động không ngừng nghỉ. Nhiều người gọi nó là “thiên hạ đệ nhất đồ”, vì mọi đạo lý mênh mông đều được thu gọn trong một hình đơn giản mà không bức hình nào sánh được.
Có một cách phân vai khá hay giữa hai bên. Hà đồ, Lạc thư có liên quan đến “hình” của chữ Hán, còn thái cực đồ dẫn dắt cái “thần” của nó. Điểm mấu chốt của một chữ không nằm ở hình mà nằm ở thần. Âm dương trong thái cực đồ là từ trong ra ngoài, dương trên âm dưới, âm trái dương phải; cái thần ấy hiện ra trong cấu trúc từng chữ và còn in dấu sâu đậm trong thư pháp.
Chữ Hán có âm dương hòa quyện, hư thực gặp nhau, cương nhu điều hòa. Đó là linh hồn sống của thư pháp, dù viết kiểu thảo hay kiểu khải, đều phải giữ nguyên tắc ấy. Những nguyên lý âm dương, hư thực, cương nhu, động tĩnh đều bắt nguồn từ Dịch lý, nên Dịch lý với chữ Trung Hoa có quan hệ mật thiết. Tại sao chữ của một bậc thầy lại sống động? Vì ông nắm được triết lý âm dương, cương nhu, trong tĩnh có động, trong động có tĩnh.
Quan sát hình tượng để lấy ý
Trước khi chữ biết nói, con người đã nhìn vạn vật, bắt lấy hình rồi hiểu ra ý.
Chữ vẽ hình là nền móng của chữ Hán, và Chu Dịch được xem là ông tổ của văn hóa vẽ hình. Văn hóa ấy là bắt chước hình tượng của vạn vật để lấy ý trong đó, nên mới có những cụm như “quan tượng lấy ý” hay “dùng tượng để biểu đạt ý”. Chữ “tượng” đi qua một quá trình, từ nhìn vật mà bắt hình đến xem hình mà lấy ý. Dịch – Hệ từ nói: Dịch là tượng, tượng là hình giống.
“Tượng” vừa là ký hiệu vừa là tin tức. Trong Chu Dịch, tượng chủ yếu là quẻ bói và các đồ hình như bát quái tiên thiên, hậu thiên, đồ sáu mươi bốn quẻ tròn và vuông của Phục Hy, thái cực đồ, Hà đồ và Lạc thư, mỗi thứ chứa rất nhiều tin tức. Văn hóa vẽ hình đã nảy nở từ xã hội mẫu hệ nguyên thủy, gắn với việc thờ tô-tem mặt trời, mặt trăng, thờ muông thú cây cỏ, cùng với bói toán, hội họa, điêu khắc. Ở góc nhìn hiện đại, nó là tiền thân của môn sinh học: ngày nay máy bay trực thăng bắt chước chuồn chuồn, máy bay phản lực bắt chước chim, ô tô có dáng con côn trùng mang giáp.
Các vạch âm và dương trong bát quái, vạch đứt và vạch liền, là thủy tổ của lối biểu đạt ấy. Dù thờ tự nhiên, thờ mặt trời, mặt trăng, hay thờ việc kiềm chế và sinh sôi, tất cả đều là mở đầu của văn hóa vẽ hình. Bát quái vốn là hình, nhưng đã chú trọng đến ý. Nhờ phần chú giải của Dịch truyện, nghĩa biểu ý của bát quái được nới rộng thêm.
Chẳng hạn quẻ Càn: trời, vua, cha, vàng, lạnh, băng, ngựa hay, ngựa già, trái cây. Từ chỗ giống trời, quẻ mở rộng thành mọi thứ có khí chất của trời. Đó là cách lấy hình rồi thêm nghĩa, làm đầy thêm tin tức của mỗi quẻ, và cũng là bước từ chỗ nhìn trực tiếp sang tư duy trừu tượng, từ chỗ ký hiệu chỉ một vật sang chỗ ký hiệu gom cả một loại.
Về sau xã hội phát triển, người với người trao đổi nhiều hơn, thứ chữ ký hiệu chung cho cả cộng đồng không còn đủ dùng, nên chữ có tính riêng từng vật, từng việc mới nảy ra. Đó là lý do chữ Hán từ xưa đến nay vẫn giữ rất nhiều chữ vẽ hình. Nhà nghiên cứu Trương Chính Lương còn nhận xét rằng trong chữ khắc trên mai rùa và đồ đồng Thương Chu có một loại ký hiệu hợp thành chữ số, mà thực chất chính là bát quái.
Chữ vẽ hình là nét đặc sắc của chữ Hán. Nó có thế mạnh là giúp người ta cảm nhận ý bằng mắt, và truyền đạt tình cảm cùng tin tức phong phú hơn chữ phiên âm; nhất là đem lại cảm giác sống động mà chữ ghi âm không có. Chữ vẽ hình là kết tinh của văn hóa vẽ hình, và được thử thách qua mấy nghìn năm. Vì lẽ đó, có ý kiến cho rằng việc sửa đổi, đơn giản hóa chữ viết là quay lưng với tinh thần văn hóa truyền thống, nên không ai được tùy tiện làm.
Những con số ẩn trong ký hiệu quẻ thời Thương Chu
Nếu chữ và quẻ cùng một họ, thì mai rùa của nhà Thương, nhà Chu phải còn giữ vết của quẻ. Quả đúng là vậy.
Ai là người vạch ra bát quái? Sách tiên Tần không nhắc đến. Tư Mã Thiên cho rằng Văn Vương, trong lúc bị giam ở Dũ Lý, đã diễn ra sáu mươi bốn quẻ. Về sau, Vương Bật nói Phục Hy, Trịnh Huyền nói Thần Nông, Tông Thịnh nói Hạ Vũ; những lời ấy đều thiếu chứng cứ. Nhà nghiên cứu Cao Hanh trong Chu Dịch cổ kinh kết luận rằng bát quái ra đời chậm nhất là vào đời Ân. Để kiểm chứng, phải nhờ khảo cổ.
Giáp cốt của Tây Chu thu được đến nay là khoảng mười sáu nghìn bảy trăm mảnh, trong đó 302 mảnh có chữ, tổng cộng 1041 chữ. Từ đó và từ chữ khắc trên đồ đồng đầu đời Chu, các nhà khảo cổ lần ra dấu vết của bát quái. Điều lạ là người thời Thương, Chu không dùng vạch đứt và vạch liền như ta quen, mà dùng thẳng ba hoặc sáu chữ số xếp liền nhau để ghi quẻ. Những chữ số ấy chủ yếu là một, năm, sáu, bảy, tám.
Tại sao thiếu hẳn hai, ba, bốn? Nhà nghiên cứu Trương Chính Lương đã thống kê số lần xuất hiện: số sáu hiện 64 lần, nhiều nhất; số bảy 38 lần; số một 36 lần; số tám 24 lần; số năm 11 lần; còn hai, ba, bốn không hiện lần nào. Cộng các số lẻ được 80, cộng các số chẵn được 88, hai bên gần như ngang nhau. Nghĩa là ba số kia vẫn tồn tại, chỉ là không được ghi riêng.
Lý do rất thực tế. Số đếm khi đặt nằm ngang chỉ là các vạch: một vạch là một, hai vạch là hai, ba vạch là ba, bốn vạch là bốn. Đếm số vạch như vậy rất dễ nhầm, khó phân biệt, nên hai và bốn được gộp vào sáu, còn ba được gộp vào một. Việc chỉ còn dùng năm số cho thấy người đương thời chỉ chú ý đến âm và dương, con số cụ thể thì không quan trọng.
Từ đó có thể chia sự hình thành của bát quái làm ba chặng. Chặng thứ nhất là những ký hiệu khắc vạch dùng trong bói toán thời rất xưa, mà thư tịch gắn với thời Phục Hy. Chặng thứ hai là ký hiệu số của thời Thương Chu, lúc ấy chưa có vạch đứt, vạch liền, mà chỉ dùng năm chữ số một, năm, sáu, bảy, tám để chỉ âm dương. Chặng thứ ba là khi trên đồ đồng đời Chu xuất hiện vạch liền chỉ dương và vạch đứt chỉ âm; lúc đầu âm còn hai dạng, sau một thời gian dài biến đổi thì chỉ còn một. Vậy bát quái không ra đời vào một thời nào, cũng không do một bậc thánh nhân nào, mà là kết tinh của trí tuệ tập thể người xưa, được hoàn thiện dần theo chính trị, kinh tế và văn hóa.
Từ đó mà nhìn lại: chữ Hán ra đời sớm, lớn nhanh, lan rộng, và từ rất xưa người Trung Hoa đã dựng nên một nền văn hóa chữ viết rực rỡ, góp phần lớn vào nền văn minh của khu vực.
Nguồn: Kinh điển văn hóa 5000 năm Trung Hoa - Tập 3 (Dương Lực), thuật lại có lược bớt.
