Chuyển đến nội dung chính
Quay lại Khuyên Thiện

Bài tổng quan

Phượng, rùa, rắn, cá, ngựa và những tổ tiên mang hình loài vật

Đạo Học - Khuyên Thiện01/10/202613 phút đọc4 lượt đọc
Phượng, rùa, rắn, cá, ngựa và những tổ tiên mang hình loài vật

Một người con gái dẫm lên vết chân khổng lồ ngoài bãi cỏ, rồi sinh ra tổ tiên của cả một triều đại. Ở một nơi khác, người ta thờ một con rắn mặt người, và tin ai có được nó sẽ làm bá chủ thiên hạ...


Chim phượng: loài chim của mặt trời và của nhà Thương

Sau con rồng, đến lượt một loài chim ngũ sắc bay vào câu chuyện, mang theo màu đỏ của phương đông.

Tác giả cho rằng biểu tượng phượng được tạo nên từ những hình ảnh như chim chóc, lửa và mặt trời. Về chim, phượng là biểu tượng chính của nhà Thương. Thời ấy có truyền thuyết nàng Giản Địch nuốt trứng chim mà sinh ra Khế, tổ nhà Thương. Từ đời Thương đã có những ghi chép về biểu tượng chim như câu trong Kinh Thi, phần Thương tụng, nói rằng trời sai con chim đen xuống mà sinh ra nhà Thương.

Thiên mệnh huyền điểu, giáng nhi sinh Thương.

Theo ông, con chim được Kinh Thi nhắc đến chính là chim phượng, còn gọi là đan phượng. Sơn hải kinh chép rằng đó là loài chim sinh ra ở những vùng núi có màu đỏ, là loài chim ngũ sắc mà màu chủ đạo là đỏ. Sách kể về núi vùng huyệt Đan ở phía đông năm trăm dặm, nơi có loài chim hình giống con gà, lông ngũ sắc, gọi là phượng hoàng. Vì nó mang màu đỏ lại sinh ra ở phương đông, hướng mặt trời mọc, nên người xưa lấy đan phượng tượng trưng cho mặt trời.

Phượng cùng với rồng, rùa và kỳ lân được gọi là tứ linh. Dựa vào việc phân tích văn hiến cổ đại, ông cho rằng chim phượng rất có thể là một con vật tổng hợp từ nhiều loài như tiên tước, khổng tước và gà, tượng trưng cho mặt trời và lửa. Chữ phượng tượng hình trong giáp cốt văn và kim văn thời đại đồ đồng đều chứng thực rằng sùng bái chim phượng rất thịnh hành thời nhà Thương.

Theo thời gian, cùng với sự phát triển của văn hóa rồng phượng, hai loài ấy trở thành biểu tượng của dân tộc Trung Hoa. Rồng được coi là tượng trưng cho khí cương dương, còn phượng là tiêu chí cái đẹp của dương cương. Các vị vua nhiều triều đại đều xem rồng phượng là biểu tượng chí cao vô thượng. Rồng đặc biệt là ký hiệu của quốc kỳ, hoàng bào và tộc huy. Tác giả kể thái hậu Từ Hy nhà Thanh rất sùng bái chim phượng và đã ra lệnh khắc hình phượng đè lên hình rồng, đủ thấy lòng sùng bái ấy lớn thế nào. Người Trung Quốc còn tự xưng là truyền nhân của rồng, khí chất rồng phượng được khắc ghi đến đời con cháu, tinh thần rồng phượng được truyền bá khắp nơi, và ông xem đó là dấu hiệu cho địa vị của văn hóa rồng phượng trong văn hóa Trung Hoa.

Rùa: con vật gắn với bói toán, với nhà Chu và nhà Hạ

Ở phần này, rùa không còn chỉ là con vật mang bảng số. Nó trở thành tổ tiên của cả một dòng họ.

Tác giả nhắc lại rằng rùa là một trong bốn biểu tượng tứ linh, rồi dẫn Lễ ký, phần Lễ vận. Nguồn gốc của việc sùng bái rùa có từ rất sớm. Hệ từ có câu Hà xuất đồ, Lạc xuất thư, thánh nhân tắc chi. Tương truyền Hà đồ do ngựa rồng cõng, còn Lạc thư do thần rùa cõng. Điều đó cho thấy địa vị của cả rồng và rùa thời xưa đều rất cao.

Theo ông, rùa có vị trí khá cao vì liên quan đến địa vị cao của việc xem bói thời cổ. Từ thời cổ đại, xem bói, thiên văn và phép tính lịch vốn là một. Xem bói được coi là một trong những việc đại sự của quốc gia phải theo, và điều ấy được kim văn cùng quẻ từ giáp cốt văn đời Thương Chu chứng minh. Vì rùa gắn với việc bói, nên việc xem bói khởi đầu từ hoa văn trên mai rùa. Ông dẫn Nhĩ nhã nói có thần quy, linh quy, và rùa lớn thì mai dùng để bói.

Rùa còn có tuổi thọ rất cao, có thể đến hàng nghìn năm nên rất linh thiêng. Tương truyền rùa sống hai nghìn năm thì biết nói. Kinh Dịch có câu mười bằng rùa ở quẻ Tổn, mà một bằng là hai đồng tiền cổ, thể hiện giá trị rất cao của rùa. Hán thư, phần Thực hóa chí, ghi con rùa lớn dài một thước hai tấc trị giá mười bằng. Rùa lớn được gọi là quốc bảo. Trong hai mươi tám chòm sao, sao Huyền Vũ lấy rùa để đặt tên, cùng với Thanh Long, Chu Tước là phượng, và Bạch Hổ làm thành bốn chòm sao tượng trưng.

Thời nhà Chu, rồng và rùa được coi là biểu tượng, và người thời ấy tự nhận mình có nguồn gốc từ rồng và rùa. Sử ký, phần Chu bản kỷ, chép nguồn gốc của người nhà Chu: bà Khương Nguyên đi dạo ngoài bãi cỏ nhìn thấy dấu chân người khổng lồ, dẫm vào mà có thai, rồi sinh Hậu Tắc, tổ họ Chu. Tác giả đặt thêm một lời giải thích rằng dấu chân người khổng lồ ấy có thể là dấu chân của rồng hoặc của gấu. Ông dẫn thêm câu trong Quốc ngữ, phần Chu ngữ, nói rằng họ ta sinh ra từ rùa thiêng, tức người Chu tự xưng có nguồn gốc rùa thiêng. Sơn hải kinh cũng ghi về rùa ba chân, ở phần Trung sơn kinh: về phía đông năm mươi bảy dặm có núi Đại Khổ, trong núi có nhiều ngọc và nhiều rùa ba chân.

Mặt khác, thời Nam Tống, La Tất chép trong Lộ sử rằng có người con gái họ Trâu Đồ dẫm vào vết chân rùa mà có mang, sinh ra tổ tiên của Đại Vũ. Từ chuyện người con gái họ Trâu dẫm vết chân rùa sinh ra vua Vũ, tác giả cho rằng thấy được mối liên hệ giữa nguồn gốc dân tộc nhà Hạ và rùa, và lòng thành của người Hạ với rùa. Theo ông, những điều ấy chứng tỏ địa vị quan trọng của rùa trong các biểu tượng được sùng bái ở Trung Quốc, đặc biệt là quan hệ mật thiết giữa rùa với nhà Hạ và nhà Chu.

Rắn: tổ tiên của Viêm Hạ và tiền thân của rồng

Có một cặp vợ chồng thần thoại mà nửa thân dưới là hai con rắn quấn vào nhau.

Biểu tượng rắn cũng là một trong những biểu tượng chủ yếu của Trung Quốc. Tác giả đoán nó có thể bắt nguồn từ khả năng sinh sôi nảy nở của rắn, cùng nỗi khiếp sợ của con người với loài này, và người ta còn cho rằng rắn là tổ tiên của người Viêm Hạ. Tương truyền người Trung Quốc có nguồn gốc do Nữ Oa và Phục Hy sinh ra. Văn hiến cổ có câu mô tả buổi mở mang đất trời từ thuở sơ khai: Phục Hy mình lân, Nữ Oa mình rắn, theo bài phú Lỗ Linh Quang điện của Vương Diên Thọ, chép trong Văn tuyển. Ý nói Phục Hy và Nữ Oa đã sinh ra Viêm Đế. Một học giả còn khảo chứng rằng Hạ Vũ họ Tự, mà Tự tức là "tị", tị là rắn. Chữ "vũ" từ chữ "trùng" mà ra, và trong giáp cốt văn chữ "trùng" đọc là "tì", chữ giống nhau, nên chính chữ "vũ" cũng là tên của rắn. Theo ông, thời Hạ rắn đã là một trong những biểu tượng chủ yếu.

Sơn hải kinh cũng ghi về rắn. Có người họ Miêu, đầu người mình rắn, dài như con vượn, bên trái bên phải đều có đầu, mặc áo màu tía, đội mũ kỳ quan, tên là Diên Duy, ai có được người ấy sẽ làm bá chủ thiên hạ. Tác giả giải thích rằng nơi họ Miêu sinh sống, mọi người đã coi rắn là thần để thờ cúng, chứng tỏ thời xưa biểu tượng rắn đã bước vào giai đoạn nhân cách hóa, giữa người và thú. Sách còn kể nước phụ nữ ở phương bắc, đầu người mình rắn, đuôi vắt trên đầu, và những vật ở phía đông Vô Khải, đầu người mình rắn, màu tía đỏ, sống dưới núi Chung. Theo ông, những ghi chép về mình rắn đầu người ấy cho thấy biểu tượng rắn thời cổ đại rất được sùng bái. Thời cổ đại cũng thường kết hợp biểu tượng rắn và rùa, coi đó là điềm lành. Đến nay ở nơi gọi là "quy xà tỏa đại giang" tại Hoàng Hạc lâu, hai bờ sông Trường Giang ở Vũ Hán, vẫn còn dấu tích biểu tượng kết hợp của rùa và rắn.

Một cách nói khác cho rằng biểu tượng rắn là tiền thân của biểu tượng rồng, và rắn cũng là một trong những yếu tố làm nên hình ảnh rồng trừu tượng. Theo tác giả, Sơn hải kinh có căn cứ cho điều này. Sách kể rằng ngoài vùng biển Tây Bắc, bên sông Xích Thủy, có núi Chương Vĩ. Ở đó có một vị thần mặt người mình rắn, thân dài nghìn dặm, mắt nhìn thẳng. Khi ông mở mắt thì trời sáng, khi nhắm thì trời tối, ông không ăn, không ngủ, không thở, mưa gió đều dừng, và có ngọn đuốc chiếu cả cõi cửu âm, tên là Chúc Long. Ông coi đây là đoạn ghi cho thấy từ biểu tượng rắn phát triển thành biểu tượng rồng, nghĩa là lịch sử biểu tượng rắn ở Trung Quốc rất lâu đời, ảnh hưởng rộng và gắn bó với việc hình thành biểu tượng rồng.

Cá và ngựa: hai biểu tượng gần với đời sống

Một loài mang lưới và cần câu đến trước mọi mùa gặt, một loài mang theo bánh xe và lưng người cưỡi.

Về biểu tượng cá, tác giả nhận xét rằng thời cổ đại, nông nghiệp xuất hiện muộn hơn việc đánh cá và săn bắt, nên cá gắn rất sát với đời sống sản xuất, và đó là lý do biểu tượng cá có nguồn gốc sớm nhất trong các biểu tượng động vật. Sáu nghìn năm trước, thời văn hóa Ngưỡng Thiều, đã có biểu tượng cá, như trên đồ gốm màu đào ở di chỉ thôn Bán Pha, Thiểm Tây. Ông cho rằng từ thời Hạ đã bắt đầu có biểu tượng cá. Có người cho rằng thủ lĩnh tộc Hạ là Cổn, hậu duệ của Hoàng Đế, thuộc loài cá. Truyền thuyết kể Cổn lặn xuống vực Vũ rồi chết. Tả truyện nói Cổn hóa thành gấu vàng, còn Quốc ngữ chép hóa thành con ba ba có ba chân. Có người lại nói gấu là con vật không sống được dưới nước, nên đáng lẽ phải hóa thành cá, và không chỉ Cổn thuộc loài cá. Hoa văn cá trên đồ gốm màu đào ở di chỉ Ngưỡng Thiều cũng là một bằng chứng, nên họ tộc Hạ thờ biểu tượng cá.

Về biểu tượng ngựa, ông viết rằng thời cổ ngựa có quan hệ mật thiết với sản xuất và đời sống nên các thị tộc coi ngựa là biểu tượng, có thể xuất phát từ lòng biết ơn. Kinh Dịch đã coi ngựa tượng trưng cho sự nhu thuận của Khôn âm: Khôn, nguyên, hanh, lợi, tẫn mã chi trinh, nghĩa là Khôn có đức đầu tiên và lớn, hanh thông, thích đáng, bền chính như đức của con ngựa cái. Ngựa vì thế được lấy làm tiêu chí và xây dựng nên biểu tượng của khí chất âm nhu mà cương nhẫn.

Biểu tượng ngựa xuất hiện rất nhiều từ thời cổ. Sơn hải kinh, phần Trung sơn kinh, ghi núi Cao Lương có loại quả giáp thực và bạch phụ, có thể cưỡi ngựa mà đến đó. Ngựa còn hay được gọi cùng rồng, nên con ngựa hay thường gọi là long mã. Sơn hải kinh có ghi sự kết hợp giữa rồng và ngựa: từ núi Từ Nữ Nhi đến núi Giả Sơn gồm mười sáu núi, ba nghìn năm trăm dặm, hình dạng thần các núi ấy như mình ngựa đầu rồng. Nhĩ nhã dực, phần Thích ngư, viết người đời nói có hình tượng rồng đầu ngựa đuôi rắn. Sau đó ngựa trở thành một trong những bộ phận tạo nên hình tượng rồng, như trong câu mô tả rồng với đầu ngựa, chân hươu, bàn tay hổ, móng ưng, vây cá, mình rắn, bụng rùa, tai trâu. Ông nhận xét chính hình tượng ấy cho thấy ngựa cũng có vị trí nhất định trong thời cổ đại. Sơn hải kinh còn nói thủ lĩnh Cổn của tộc Hạ là hóa thân của ngựa: Hoàng Đế sinh Lạc Minh, Lạc Minh sinh bạch mã, bạch mã chính là Cổn. Ông kết luận biểu tượng ngựa có nguồn gốc lâu đời, ít nhất từ thời Hạ ngựa đã được sùng bái.

Kỳ lân, gấu và hổ: từ hươu trong rừng đến dấu chân khổng lồ

Kỳ lân, gấu và hổ đều gắn với rừng, với săn bắt, và với nỗi sợ lẫn lòng kính trọng.

Tác giả nhắc kỳ lân cũng là một trong tứ linh gồm long, lân, quy, phượng, tượng trưng cho sự may mắn, và dẫn lại câu trong Lễ ký, phần Lễ vận. Kỳ lân có hình dáng gần giống hươu, nên ông cho rằng biểu tượng này rất có thể được biến đổi từ biểu tượng hươu. Thời xưa phương thức sản xuất chủ yếu là săn bắt, hươu là nguồn sống chính, như Kinh Dịch có ghi việc săn hươu ở quẻ Truân, ý nói bao vây hươu trong rừng mà không gặp người coi rừng thì không biết hướng nào để đuổi bắt. Thời bà Khương Nguyên, tức thời đại thị tộc mẫu hệ của xã hội nguyên thủy, cũng có liên hệ mật thiết với loài hươu. Trang tử chép rằng dân chỉ biết mẹ mà không biết cha, sống chung với loài hươu.

Biểu tượng gấu theo ông đã có từ thời xã hội nguyên thủy. Vì gấu dũng mãnh và có thể đi bằng hai chân, người xưa coi gấu có sự nhanh nhạy của con người nên sùng bái gấu để cầu được bảo vệ. Vì thế có người cho rằng hiệu của Hoàng Đế là Hùng thị là do tộc của ông có biểu tượng là gấu. Có người còn cho rằng biểu tượng gấu liên quan đến nguồn gốc người nhà Chu, như Tôn Tác Vân cho rằng vết chân người khổng lồ mà bà Khương Nguyên dẫm phải rồi sinh ra tộc nhà Chu thực ra là vết chân gấu. Tả truyện còn cho thủ lĩnh Cổn của tộc Hạ là thần gấu, sau khi chết hóa thành gấu vàng: xưa vua Nghiêu giết Cổn ở núi Vũ, Cổn hóa thành gấu vàng, rơi xuống vực Vũ, về sau tộc Hạ đều cúng tế ông ở đó.

Hổ cũng là biểu tượng được sùng bái ở Trung Quốc cổ đại, chủ yếu vì con người kính sợ sự hung tợn của hổ, lấy hổ làm tộc huy và coi đó là ý chí của người tráng sĩ. Nhà Chu cũng từng lấy hổ làm biểu tượng. Tác giả còn nhắc một chi tiết dễ gây nhầm: nhiều người khảo chứng rằng cóc được gọi là "cố thỏ", như trong Sở từ, phần Thiên vấn, và người xưa gọi cóc là nguyệt tinh, tinh của mặt trăng. Vì vậy biểu tượng thỏ thời cổ đại có lúc bị hiểu nhầm là biểu tượng mặt trăng. Việc sùng bái hổ rất phổ biến, nhất là dùng làm tộc huy và hổ phù của quân đội, cờ vẽ hổ, ấn khắc hình hổ, tất cả đều mang ý nghĩa về ý chí tráng sĩ của hổ.

Nguồn: Kinh điển văn hóa 5000 năm Trung Hoa - Tập 1 (Dương Lực), thuật lại có lược bớt.

Kiều Oanh Trần

Tác giả

Kiều Oanh Trần

Nghiên cứu Mệnh lý - Tử vi - Tâm lý học

Theo dõi trên Facebook

Chia sẻ bài viết

FacebookXLinkedInZalo
Quay lại Khuyên Thiện