Chuyển đến nội dung chính
Quay lại Khuyên Thiện

Bài tổng quan

Đường Thái Tông và cuộc chính biến giành ngôi báu ở Huyền Vũ Môn

Đạo Học - Khuyên Thiện30/09/202612 phút đọc3 lượt đọc
Đường Thái Tông và cuộc chính biến giành ngôi báu ở Huyền Vũ Môn

Bị anh trai và em trai mưu hại nhiều lần, Lý Thế Dân cuối cùng phát động một cuộc chính biến ngay tại cửa cung, tự tay kết liễu người anh từng cùng cha vào sinh ra tử. Từ máu và nước mắt ấy, ông trở thành Đường Thái Tông, mở ra thời Trinh Quán thịnh trị. Cùng lúc đó ở nước Tần xa xưa hơn, một môn khách trẻ tuổi tên Thương Ưởng cũng sắp châm ngòi cho một cuộc cải cách không kém phần quyết liệt...


Đường Thái Tông và cuộc chính biến giành ngôi báu ở Huyền Vũ Môn

Không phải hoàng đế nào lập nên thời hoàng kim cũng lên ngôi một cách êm đẹp. Trước khi trở thành minh quân được hậu thế ca tụng, Lý Thế Dân đã phải bước qua xác của chính anh trai mình.

Lý Thế Dân, vị vua anh kiệt xông pha trên các chiến trường nam bắc

Đường Thái Tông vốn họ Lý, tên Thế Dân, là con của Đường Cao Tổ Lý Uyên. Ông là nhà chính trị, nhà quân sự kiệt xuất của giai cấp địa chủ trong thời đại phong kiến Trung Hoa.

Lý Thế Dân xuất thân quý tộc, sinh ra trong thế loạn, trải qua thời kỳ thanh niên đúng vào lúc nhà Tùy mạt vận lâm vào cảnh rối ren. Khi đó, vương triều Tùy Dạng Đế u mê và thối nát đã rung lay, đứng trước bờ vực sụp đổ, khắp nơi ngập tràn khói lửa của các cuộc khởi nghĩa nông dân, các cuộc mưu phản của bộ tướng. Lý Thế Dân đã cùng với cha là Lý Uyên tiến hành khởi binh. Đương thời, đây là hành động tiến bộ, đại biểu cho một lực lượng mới sẽ khởi sắc trên con đường phát triển của lịch sử. Trong thời gian "Tấn Dương khởi binh", "thống nhất chiến tranh", Lý Thế Dân cùng cha chuyển sang chiến trường nam bắc, đây là một sự phát hiện về tài năng quân sự xuất chúng của ông.

Đến năm 618, cha con Lý Uyên diệt xong nhà Tùy, Lý Uyên lên ngôi, lấy hiệu là Đường. Lý Thế Dân được phong làm Tần Vương, từ đó bắt đầu một cuộc đời rạng rỡ. Cha con Lý Thế Dân đã đem thay thế nhà Tùy suy yếu, lạc hậu bằng một nhà Đường hưng thịnh, đại biểu cho cuộc tân hồi sinh trên điểm chuyển ngoặt của lịch sử Trung Quốc, kết thúc thời kỳ chiến loạn, thống nhất và đưa Trung Quốc phát triển theo trào lưu lịch sử.

Cuộc chính biến Huyền Vũ Môn giành ngôi báu

Chính biến Huyền Vũ Môn chính là một cuộc đấu huynh đệ tương tàn, ở đó là những thủ đoạn tàn nhẫn và vô tình nhằm mục đích tranh đoạt quyền bính của nội bộ giai cấp thống trị phong kiến. Đây cũng là sự kiện làm nổi bật khí chất phi phàm, tinh thần đại dũng đại mưu của Lý Thế Dân.

Chính biến Huyền Vũ Môn là sự kiện người con trai thứ ba Lý Thế Dân của Đường Cao Tổ Lý Uyên giết anh trai là thái tử Lý Kiến Thành ở cửa Huyền Vũ để giành lấy ngôi báu. Duyên do của cuộc chính biến là việc Đường Cao Tổ đã chiếu theo thế tập truyền thống mà trao cho con trưởng của mình là Lý Kiến Thành quyền kế vị ngôi báu, dẫn đến sự bất mãn của Lý Thế Dân vốn là người có công lớn và có tài năng cái thế. Lý Thế Dân tuy không phải là con trưởng song đã từng vào sinh ra tử, chuyển chiến nam bắc cùng với cha dựng nên nghiệp lớn Đại Đường. Đó là những công lao đẫm mồ hôi, máu và nước mắt đối với giang sơn. Lý Thế Dân vẫn luôn hy vọng được kế thừa ngôi vị của cha. Trong cuộc tranh giành quyền lực giữa hai anh em, thái tử là người ra tay trước. Lý Thế Dân đã mấy lần bị hãm hại, cuối cùng mới hạ quyết tâm, phát động một cuộc chính biến ở giữa cửa Huyền Vũ vào ngày 4 tháng 6 năm 626 cùng với cháu trưởng của mình là Vô Kỵ. Sau đó, Lý Uyên bị buộc phải nhường ngôi vị, Lý Thế Dân lên ngôi hoàng đế.

Sử sách cũng đã ghi lại tỉ mỉ việc thái tử Lý Kiến Thành cùng với người con thứ tư của Cao Tổ là Lý Nguyên Cát nhiều lần mật bàn mưu kế dùng thuốc độc để hạ sát Lý Thế Dân. Lý Thế Dân ở vào tình thế vạn bất đắc dĩ, buộc phải lựa chọn con đường phát động chính biến ác nghiệt kia.

"Lúc đầu Tề Vương Nguyên Cát khuyên thái tử Kiến Thành hãy trừ bỏ Tần Vương là Thế Dân đi, nói là lấy tư cách làm anh, Thế Dân là anh Nguyên Cát, Nguyên Cát xung phong đem quân mai phục vào tẩm cung để đâm chết Thế Dân. Kiến Thành bản tính nhân hậu nên ngăn lại, Nguyên Cát giận nói rằng: ta chỉ vì anh em mà lập kế, chứ ta có lợi gì? Kiến Thành đang đêm cho triệu Thế Dân vào mời rượu đến say khướt, Thế Dân bỗng đau tim dữ dội, thổ ra mấy bát máu. Bọn Uất Trì, Kính Đức ngày đêm khuyên Thế Dân diệt Kiến Thành, Nguyên Cát nhưng Thế Dân vẫn do dự không quyết."

- Tư Mã Quang, Tư trị thông giám.

Bọn Vô Kỵ khuyên Thế Dân nên ra tay trước, Thế Dân than rằng: "Cốt nhục tương tàn xưa nay là chuyện đại ác, ta ngẫm kỹ, tai họa trong triều thế nào rồi cũng xuất hiện trở lại. Khi đó ta muốn lấy nhân nghĩa để xử, chẳng lẽ cũng không được?"

Sự kiện Huyền Vũ Môn đơn thuần là cuộc đoạt quyền tranh lợi trong chốn cung đình giữa giai cấp thống trị với nhau, không có tính đại biểu chính nghĩa hay phi nghĩa. Đây là cuộc đấu tranh một mất một còn, cả hai hoàng tử đều ra trận như nhau, lấy âm mưu để đối phó với âm mưu. Song mưu lược của Lý Thế Dân phản ánh cái khí chất của một võ tướng, có hiệu quả hơn nhiều so với mưu lược của văn nhân Lý Kiến Thành.

Sau cuộc chính biến Huyền Vũ Môn, Lý Thế Dân lên ngôi hoàng đế, lấy hiệu là Đường Thái Tông và trở thành một vị vua anh minh tài giỏi của phong kiến Trung Hoa.

Đường Thái Tông trưng cầu ý kiến quần thần, dũng cảm cải cách

Thời kỳ Đường Thái Tông trị vì là thời kỳ phát triển thịnh vượng của nhà Đại Đường: lãnh thổ được mở rộng, chiều dài đông tây là 9510 dặm, nam bắc là 6918 dặm, dân số cũng tăng lên nhiều, kinh tế phát triển phồn vinh, xã hội ổn định, nhân dân các dân tộc chung sống yên vui, hòa hợp, khắp nơi ca múa thanh bình. Nhà Đường còn có quan hệ kinh tế, ngoại giao với mấy chục nước xa gần. Nền văn hóa, văn học Trung Quốc bao gồm cả Phật giáo trong thời kỳ này đạt tới sự phát triển toàn diện.

Sở dĩ thời Đại Đường trở thành thời kỳ huy hoàng trong lịch sử Trung Quốc là bởi Đường Thái Tông đã tiến hành thực hiện thành công hàng loạt những cải cách mang tầm nhìn chính trị cao xa. Như, ông thực thi điều chỉnh cơ cấu, cách tân chế độ thừa tướng, đồng thời lập tập đoàn quyết sách với thành phần nội các trọng yếu nghị bàn việc triều chính, mở rộng khoa cử kén chọn hiền tài... ông còn đặc biệt chú trọng việc "nạp gián", "cầu gián" - đón nhận những ý kiến, những chủ trương cải cách - đó là những biện pháp trên phương diện chính trị.

Trong lĩnh vực kinh tế, Đường Thái Tông một mặt chú trọng phát triển thương nghiệp, mặt khác cũng rất chú trọng nông nghiệp, lại mở rộng chế độ quân điền và chế độ tô dung, khuyến khích khai khẩn đất hoang và xây dựng các công trình thủy lợi. Đó là những biện pháp kích thích sản xuất rất hiệu quả, làm cho nền kinh tế sản xuất thời bấy giờ đạt được mức phát triển vượt bậc và chưa từng có trong lịch sử.

Trong lĩnh vực ngoại giao, Đường Thái Tông rất mực chú trọng tới mối quan hệ hữu hảo, hòa hợp với các dân tộc thiểu số vùng biên giới. Đặc biệt thông qua việc công chúa Văn Thành kết hôn với Tùng Tán Cán Bố là người dân tộc Thổ Phiên - Tây Tạng - đã giúp ổn định biên vực đồng thời thúc đẩy sự phát triển của các dân tộc Tây Tạng. Đây là một việc làm mang ý nghĩa lịch sử quan trọng. Ngoài ra, Đường Thái Tông còn lập mối quan hệ ngoại giao với các nước láng giềng xung quanh, mở rộng mối giao lưu văn hóa kinh tế, khiến Trung Quốc trở thành một quốc gia rất có ảnh hưởng trên thế giới thời bấy giờ.

Trong lĩnh vực văn hóa, Đường Thái Tông đặc biệt quan tâm luân lý Chu Công, Khổng Tử và Nho học, cũng như rất tôn sùng các kinh thư. Ông từng nói: "Trẫm sở dĩ được như ngày nay là nhờ có cái đạo của Nghiêu, Thuấn, Chu, Khổng, thật đúng như chim có cánh, cá có nước, nếu mất đi thì sẽ chết, không một lúc nào rời được." Đồng thời cũng chú ý đến việc tu chỉnh Lễ, Nhạc và kiện toàn chế độ giáo dục. Đương thời, nền văn học nghệ thuật, điêu khắc, mỹ thuật, thi ca đã đạt tới sự phát triển đỉnh cao.

Thông qua các biện pháp cách tân, Đường Thái Tông đã khiến cho nền đại trị Trinh Quán - niên hiệu thời kỳ Đường Thái Tông - nổi tiếng vì sự phát triển phồn vinh, thịnh vượng, đặt nền tảng để Đại Đường vươn lên trở thành quốc gia văn minh, có ảnh hưởng lớn trên thế giới. Đó cũng là công lao to lớn, cống hiến vĩ đại mang tính vạch thời đại của Đường Thái Tông. Tên tuổi Đường Thái Tông mãi mãi được sử sách nhắc tới và ca tụng như một vị vua anh minh và rất mực tài năng.

"Cao sâu thay bậc quân vương có tài trị nước... Thịnh thay, công lao oanh liệt của Thái Tông, dẹp loạn nhà Tùy, đem so với thời thịnh trị của Thang Vũ, công đức to lớn vẹn toàn như của muôn đời góp lại. Từ thời Hán đến nay, kể cũng chưa từng thấy, mở rộng tình yêu thương, phục hưng cơ đồ, lập nên công lớn. Công việc của người lính nơi biên ải hay ở chốn kinh đô cũng đều được vua Đường quan tâm săn sóc, rồi mỗi tiết xuân thu lại theo phép kén chọn hiền tài."

- Tân Đường thư, bản kỷ.

Thương Ưởng và cuộc biến pháp không câu nệ chuyện cũ

Công Thúc Tọa tiến cử Thương Ưởng và lời tiên đoán ứng nghiệm

Thương Ưởng là tể tướng nước Tần thời Tần Hiếu Công, là người có năng lực khai phá lớn nhất trong lịch sử Trung Quốc. Những cải cách nổi tiếng của ông đã giúp cho nước Tần trở thành một nước lớn mạnh trong số "thất hùng", đặt nền tảng để nước Tần cường thịnh tiến tới thống nhất các nước chư hầu.

Thương Ưởng là một nhà cải cách chính trị, một tể tướng nổi tiếng thuộc phái cách tân. Ông là người nước Vệ, vốn có tài mưu lược, từng là môn khách của tướng Công Thúc Tọa nước Ngụy. Về sau Công Thúc lâm bệnh, Ngụy vương đến thăm, Công Thúc liền tiến cử Thương Ưởng cho vua Ngụy, nói rằng: "Môn khách của Tọa là Công Tôn Ưởng, tuy trẻ tuổi nhưng lại có tài cao, xin nhà vua giao phó việc nước cho ông ta." Thấy Ngụy vương không có ý muốn trọng dụng, Công Thúc liền nói: "Nếu bệ hạ không muốn dùng Ưởng thì phải giết ngay, chớ để cho y ra khỏi biên giới."

Quả nhiên, sau này Thương Ưởng đã thể hiện được tài năng kiệt xuất của mình ở nước Tần, làm nước Tần trở nên lớn mạnh, nước Ngụy bấy giờ cũng phải ở dưới trướng nước Tần, lời phán đoán của Công Thúc đã ứng nghiệm. Ngụy vương than rằng: "Quả nhân thật hối hận vì đã không nghe theo lời của Công Thúc Tọa mà giết Thương Ưởng ngay từ buổi ban đầu để trừ bỏ hậu họa." Điều đó chứng tỏ Thương Ưởng là một bậc kỳ tài.

Năm 361 trước Công nguyên, Tần Hiếu Công vì muốn chấn hưng nước Tần mà treo bảng thị, chiêu tìm hiền tài. Thương Ưởng đã tìm đến. Thương Ưởng ba lần vào yết kiến Tần Hiếu Công. Lần thứ nhất Thương Ưởng nói về "đế đạo" - đem đạo Ngũ Đế ra bàn, ý muốn làm cho vua thành Nghiêu, Thuấn - lần thứ hai nói về vương đạo của Tam Vương, ý muốn làm cho vua thành Hạ Vũ, Thành Thang, Vũ Vương, cả hai lần Tần Hiếu Công đều không thích thú. Đến lần thứ ba, giảng về bá đạo - đạo làm bá chủ chư hầu như Tề Hoàn Công, Tần Mục Công thời Xuân Thu - thì Tần Hiếu Công cảm thấy vô cùng thích thú, say sưa lắng nghe. Nhất là khi Thương Ưởng nói về chủ trương chính trị phú dân cường quốc trúng với thâm ý của Tần Hiếu Công. Sau cuộc tranh cãi kịch liệt với phái phản đối là đại biểu của giai cấp chủ nô, được sự ủng hộ nhiệt tình của Tần Hiếu Công, Thương Ưởng đã tiến hành một loạt các cải cách về kinh tế, chính trị. Đó chính là "biến pháp Thương Ưởng" nổi tiếng.

Không câu nệ chuyện cũ, dũng cảm thực hiện biến pháp

Thương Ưởng đã phải tranh cãi với quần thần trong triều về biến pháp của mình. Ông nói: "Trị đời không phải chỉ có một cách, trị nước không nên bắt chước xưa. Vì vậy Thành Thang, Vũ Vương không chấp theo lối cổ mà làm vương, vua Kiệt nhà Hạ, vua Trụ nhà Ân không thay đổi lễ mà vong. Làm trái với lệ cổ chưa hẳn đã sai, mà kẻ theo với thói cổ chưa hẳn đã hay."

Nguồn: Kinh điển văn hóa 5000 năm Trung Hoa - Tập 1 (Dương Lực).

Kiều Oanh Trần

Tác giả

Kiều Oanh Trần

Nghiên cứu Mệnh lý - Tử vi - Tâm lý học

Theo dõi trên Facebook

Chia sẻ bài viết

FacebookXLinkedInZalo
Quay lại Khuyên Thiện