Chuyển đến nội dung chính
Quay lại Khuyên Thiện

Bài tổng quan

Mười tên trộm trong nhà nghèo và mười điều tự chuốc họa

Đạo Học - Khuyên Thiện05/10/202611 phút đọc1 lượt đọc
Mười tên trộm trong nhà nghèo và mười điều tự chuốc họa

Người số giàu còn phải tiết kiệm khi dùng, còn nhà nghèo thì ngầm chứa mười tên trộm không ai nhìn thấy. Một vị quân sư đã bóc từng tên một cho nhà vua nghe, rồi bảo rằng họa của người đời chẳng phải do trời giáng xuống. Điều đáng hỏi là mười tên trộm ấy…


Đặt phép dạy người để mỗi chỗ đứng đều có gốc

Dạy người không phải chỉ là truyền chữ nghĩa, mà là đặt ra những phép tắc để giúp người ta nên người tài đức. Có phép thì vững như nguyên lý, có phép thì tỉ mỉ thiết thực, nhưng đều xoay quanh việc sinh sống, việc nhà, việc dạy người và việc trị dân. Với người bình thường thì tu thân là trọng, với người ra làm quan thì trị dân là trọng, mỗi địa vị đều có lề lối riêng để người ta khơi dậy điều lành sẵn có trong mình. Từ thiên tử đến thứ dân, ai cũng lấy tu thân làm gốc.

Khổng Tử nêu sáu việc, mỗi việc có phép tắc riêng nhưng đều có một cái gốc:

Lập thân hữu nghĩa nhi hiếu vi bản,

Tang sự hữu lễ ai nhi vi bản.

Chiến trận hữu liệt nhi dũng vi bản,

Trị chính hữu lý nhi nông vi bản.

Cư quốc hữu đạo, nhi tự vi bản.

Sinh tài hữu thời nhi lực vi bản.

Đứng thân có nghĩa, nhưng hiếu là gốc. Việc tang có lễ, nhưng lòng thương xót là gốc. Ra trận có hàng ngũ, nhưng sự dũng cảm là gốc. Trị chính có lẽ phải, nhưng nghề nông là gốc. Giữ nước có đạo, nhưng việc nối ngôi là gốc. Làm ra của cải có thời vụ, nhưng sức lao động là gốc.

Cảnh Hạnh Lục nói về mấy việc cốt yếu của người làm quan và người gây dựng nhà:

Vi chính chi yếu viết công dữ thanh,

Thành gia chi yếu viết cần dữ kiệm,

Độc thư thành gia chi bản. Tuần lý bảo gia chi bản.

Cần kiệm trị gia chi bản. Hòa thuận tề gia chi bản.

Cần giả phú chi bản. Kiệm giả phú chi nguyên.

Điều cốt yếu của việc làm quan là công bằng và trong sạch, điều cốt yếu của việc gây dựng nhà là siêng năng và tằn tiện. Đọc sách là gốc để nên nhà. Theo lẽ phải là gốc để giữ nhà. Cần kiệm là gốc để trị nhà. Hòa thuận là gốc để sửa nhà cho tề chỉnh. Siêng năng là gốc của sự giàu, tằn tiện là nguồn của sự giàu.

Khổng Tử có câu về chuyện sắp đặt thời gian trong một đời, một năm, một ngày:

Nhất sinh chi kế tại ư cần. Nhất niên chi kế tại ư xuân. Nhất nhật chi kế tại ư dần.

Ấu nhi bất học lão vô sở tri. Xuân nhược bất canh, thu vô sở vọng. Dần nhược bất khởi, nhật vô sở biện.

Kế cả đời nằm ở siêng năng, kế cả năm nằm ở mùa xuân, kế cả ngày nằm ở giờ dần. Nhỏ không học thì già chẳng biết gì. Mùa xuân không cày thì mùa thu chẳng có gì để trông. Giờ dần không dậy thì cả ngày chẳng làm nên việc gì.

Năm điều dạy và nếp sống làng xóm

Một làng nên nết không nhờ vào những lời lớn, mà nhờ hàng trăm việc nhỏ ai cũng giữ.

Ngũ giáo chi mục: Phụ tử hữu thân. Quân thần hữu nghĩa. Phu phụ hữu biệt. Trưởng ấu hữu tự. Bằng hữu hữu tín.

Điều mục của năm điều dạy là cha con có tình thân, vua tôi có đạo nghĩa, vợ chồng có phần khác biệt, lớn bé có thứ bậc, bạn bè có lòng tin.

Cổ Linh Trần tiên sinh viết một bài khuyên dân trong làng, kể ra từng nếp sống mà người dân của mình nên có:

Vi ngô dân dã.

Phụ nghĩa mẫu từ, huynh hữu đệ cung.

Phu phụ hữu ân, nam nữ hữu biệt.

Tử đệ hữu học, hương lư hữu lễ.

Bần cùng hoạn nạn, thân thích tương cứu.

Hôn nhân tử táng, lân bảo tương trợ.

Vô nọa nông nghiệp, vô tác đạo tặc.

Vô học đổ bác, vô hiếu tranh tụng.

Vô dĩ ác lăng thiện, vô dĩ phú thôn bần.

Hành giả nhượng lộ, canh giả nhượng bạn.

Ban bạch giả bất phụ đái ư lộ.

Tắc vi lễ nghĩa chi tục hỹ.

Đã là dân của ta thì cha ngay thẳng, mẹ hiền từ, anh thương em, em kính anh. Vợ chồng có ân tình, trai gái có chừng mực. Con em có học, làng xóm có lễ. Nghèo khổ hoạn nạn thì họ hàng cứu nhau. Cưới xin tang lễ thì xóm giềng giúp nhau. Chớ lười việc ruộng đồng, chớ làm trộm cướp. Chớ tập cờ bạc, chớ ham kiện cáo. Chớ lấy kẻ ác lấn người lành, chớ lấy giàu nuốt kẻ nghèo. Người đi thì nhường đường, người cày thì nhường bờ ruộng. Người đầu bạc không phải mang vác trên đường. Như thế là tục lệ của lễ nghĩa vậy.

Sách Tính Lý tóm lại bằng hai cặp:

Giáo nhân dã, dưỡng kỳ thiện nhi ác tự tiêu.

Trị dân dã, đạo chi kính nhượng nhi tranh tự tức.

Dạy người là nuôi dưỡng điều lành của họ thì điều ác tự tiêu. Trị dân là dẫn họ đến chỗ kính nhường thì tranh giành tự dứt.

Hai câu ngắn về lòng chung thủy và hai câu về nghề làm quan:

Trung thần bất sự nhị quân. Liệt nữ bất giá nhị phu.

Bề tôi trung không thờ hai vua, người phụ nữ trinh liệt không lấy hai chồng.

Trị quan mạc nhược bình. Lâm tài mạc nhược liêm.

Làm quan không gì quý bằng công bằng, đứng trước của cải không gì quý bằng liêm khiết.

Mười bốn điều viết ở góc chỗ ngồi

Có người viết lời răn ngay ở nơi mình ngồi mỗi sáng mỗi chiều, vì họ biết mình dễ quên nhất chính những điều mình biết.

Bùi Tư Thức khắc bài minh để bên chỗ ngồi, kể ra mười bốn điều:

Phàm ngữ tất trung tín. Phàm hạnh tất đốc kính.

Phàm thực tất thận tiết. Tự hoạch tất khải chánh.

Dung mạo tất đoan trang. Y quán tất túc chỉnh.

Bộ lý tất an tường. Cư xử tất chính tĩnh.

Tác sự tất mưu thủy. Xuất ngôn tất cố hành.

Thường đức tất cố trì. Nhiên nặc tất trọng ứng.

Kiến thiện như kỷ xuất. Kiến ác như kỷ bệnh.

Phàm thử thập tứ giả, ngã giai vị thâm tỉnh.

Thư thử đương tọa ngung, triêu tịch thị vi cảnh.

Nói năng thì phải trung thực và đáng tin. Hành xử thì phải hậu và kính. Ăn uống thì phải biết tiết chế. Chữ viết thì phải ngay ngắn. Dung mạo thì phải đoan trang. Mũ áo thì phải tề chỉnh. Đi đứng thì phải khoan thai. Ở xử thì phải ổn định, yên tĩnh. Làm việc thì phải tính toán từ đầu. Đã nói ra thì phải làm cho được. Đức thường thì phải giữ. Điều gì đã nhận lời thì phải thận trọng đáp ứng. Thấy việc lành thì coi như do mình làm ra, thấy việc dữ thì coi như bệnh của mình. Cả mười bốn điều ấy ta đều chưa suy nghĩ thật kỹ, nên viết ra đây, để nơi góc chỗ ngồi, sáng chiều xem đó mà răn mình.

Phạm Ích Khiêm có hai bản ghi tương tự, một về bảy chuyện không nói, một về bảy chuyện không làm:

Nhất bất ngôn triều đình lợi hại, biên báo sai trừ. Nhị bất ngôn châu huyện quan viên, trưởng đoản đắc thất. Tam bất ngôn chúng nhân sở tác quá ác.

Tứ bất ngôn sĩ tiến quan chức, xu thời phụ thế. Ngũ bất ngôn tài lợi đa quả, yếm bần cầu phú. Lục bất ngôn dâm tiết hí mạn, bình luận nữ sắc. Thất bất ngôn cầu mịch nhân vật, nhu sách tửu thực.

Một là không bàn điều lợi điều hại của triều đình, tin tức nơi biên giới, việc bổ nhiệm điều động chức quan. Hai là không bàn quan viên châu huyện hay dở, được mất ra sao. Ba là không bàn tội lỗi của mọi người. Bốn là không bàn chuyện thăng quan tiến chức, xu thời phụ thế của các quan. Năm là không bàn chuyện tiền của nhiều ít, ghét nghèo tìm giàu. Sáu là không bàn chuyện đùa cợt dâm dật, không bình luận nữ sắc. Bảy là không bàn chuyện đòi tìm đồ của người, hạch sách rượu thịt.

Nhân phụ thư tín, bất khả khai chiết, trầm trệ.

Dữ nhân tịnh tọa, bất khả khuy nhân tư thư.

Phàm nhập nhân gia, bất khả khán nhân văn tự.

Phàm tá nhân vật, bất khả tổn hoại, bất hoàn.

Phàm khiết ẩm thực, bất khả giản trạch khử thủ.

Dữ nhân đồng xử bất khả tự trạch tiện nghi.

Phàm nhân phú quý bất khả thán tiện để hủy.

Phàm thử số sự, hữu phạm chi giả, túc dĩ kiến dụng ý chi bất tiếu, ư tồn tâm tu thân đại hữu sở hại. Nhân thư dĩ tự cảnh.

Người nhờ đưa thư thì không được mở xé, không được để chậm trễ. Ngồi cạnh nhau thì không được lén nhìn thư riêng của người. Vào nhà người ta thì không được xem giấy tờ sổ sách của họ. Mượn đồ của người thì không được làm hỏng, không được không trả. Khi ăn uống thì không được chọn miếng ngon bỏ miếng dở. Sống chung với người thì không được tự chọn phần tiện lợi cho mình. Với người giàu sang thì không được ngợi ca cũng không được chê bai. Mấy việc ấy, ai phạm vào cũng đủ cho thấy dụng ý không tốt, chắc chắn hại cho việc giữ lòng tu thân, nên viết ra để tự răn mình.

Mười tên trộm trong nhà nghèo và mười điều tự chuốc họa

Giàu nghèo nghe như chuyện trời định, nhưng người xưa vẫn đếm ra được từng lỗ hổng trong nhà.

Vũ Vương hỏi Thái Công vì sao người đời có kẻ giàu sang, người nghèo hèn khác nhau. Thái Công đáp rằng giàu sang như đức của bậc thánh nhân, đều do trời mà có, nhưng người số giàu cũng phải tiết kiệm khi dùng, còn nhà nghèo thì chứa đến mười tên trộm. Vũ Vương hỏi mười tên trộm ấy là gì.

Tương thục bất thu vi nhất đạo. Thâu tích bất liễu vi nhị đạo. Vô sự nhiên đăng tẩm thụy vi tam đạo. Dung lãn bất canh vi tứ đạo.

Bất thi công lực vi ngũ đạo. Chuyên hành thiết hại vi lục đạo. Dưỡng súc thái đa vi thất đạo. Trú miên lãn khởi vi bát đạo. Tham tửu thị dục vi cửu đạo. Cưỡng hành tật đố vi thập đạo.

Lúa chín mà không gặt là tên trộm thứ nhất. Thu gom cất chứa mà không xong việc là tên trộm thứ hai. Không việc gì mà thắp đèn đi ngủ là tên trộm thứ ba. Dung túng sự lười không cày cấy là tên trộm thứ tư. Không bỏ công sức ra làm là tên trộm thứ năm. Chuyên làm trò trộm cắp là tên trộm thứ sáu. Nuôi súc vật quá nhiều là tên trộm thứ bảy. Ngủ ngày, lười dậy là tên trộm thứ tám. Ham rượu chè dục vọng là tên trộm thứ chín. Cố làm điều ganh ghét là tên trộm thứ mười.

Vũ Vương hỏi nhà không có mười tên trộm ấy mà vẫn không giàu thì sao. Thái Công đáp rằng nhà ấy ắt có ba điều hao:

Thương khố lậu thấp bất cái, thử tước loạn thực, vi nhất hao. Thu chủng thất thì, vi nhị hao. Phao tán mễ cốc uế tiện, vi tam hao.

Kho dột ướt mà không che, chuột chim ăn tràn lan là điều hao thứ nhất. Gieo gặt không đúng vụ là điều hao thứ hai. Vung vãi lúa gạo cho dơ, cho rẻ đi là điều hao thứ ba.

Vũ Vương lại hỏi nhà không có ba điều hao ấy mà vẫn không giàu thì sao. Thái Công đáp bằng mười điều tự chuốc lấy họa, họa ấy chẳng phải do trời giáng xuống:

Nhân gia tất hữu nhất thác, nhị ngộ, tam si, tứ thất, ngũ nghịch, lục bất tường, thất nô, bát tiện, cửu ngu, thập cưỡng, tự chiêu kỳ họa, phi thiên giáng ương.

Dưỡng nam bất giáo huấn vi nhất thác. Anh hài bất huấn vi nhị ngộ. Sơ nghênh tân phụ bất hành nghiêm huấn vi tam si. Vị ngữ tiên tiếu vi tứ thất.

Bất dưỡng phụ mẫu vi ngũ nghịch. Dạ khởi xích thân lục bất tường. Hiếu vãn tha cung thất nô. Ái tha mã bát tiện. Khiết tha tửu khuyến tha nhân cửu ngu. Khiết tha ẩm tự bằng hữu vi thập cưỡng.

Có con mà không dạy là lầm, con thơ mà không uốn nắn là lỡ, vợ mới về mà không nghiêm khắc dạy bảo là khờ, chưa nói đã cười là thất lễ, bỏ mặc cha mẹ không nuôi là ngỗ nghịch, đêm dậy trần truồng là không lành, ham kéo cung của người là nhờn, ham cưỡi ngựa của người là hèn, uống rượu của người rồi lại ép người khác uống là dại, ăn ké tiệc của bạn bè là mặt dày. Vũ Vương nói: hay lắm, lời này thật đúng.

Sách Thuyết Uyển chốt bằng đôi câu nói về hai cách cầm cương:

Trị quốc như đàn cầm, trị gia nhược chấp bí.

Trị nước như gảy đàn cầm, trị nhà như nắm dây cương ngựa.

Nguồn: Minh Tâm Bảo Giám, Nguyễn Quốc Đoan chú dịch.

Kiều Oanh Trần

Tác giả

Kiều Oanh Trần

Nghiên cứu Mệnh lý - Tử vi - Tâm lý học

Theo dõi trên Facebook

Chia sẻ bài viết

FacebookXLinkedInZalo
Quay lại Khuyên Thiện