Chuyển đến nội dung chính
Quay lại Khuyên Thiện

Bài tổng quan

Nhẫn là của báu giữ thân, học là ngọc quý của đời

Đạo Học - Khuyên Thiện05/10/202614 phút đọc3 lượt đọc
Nhẫn là của báu giữ thân, học là ngọc quý của đời

Tử Trương sắp lên đường, từ biệt thầy và xin một lời làm yếu quyết tu thân. Khổng Tử chỉ đáp bằng một chữ, rồi kể từ thiên tử đến người thường, ai nhịn thì được gì và ai không nhịn thì mất gì. Nhưng nhịn được rồi, người ta còn cần một nơi để lòng mình lớn lên…


Tính người như nước, phải có đê để giữ

Nho giáo quan niệm tính là điều trời phú cho muôn vật, vì tính là cội nguồn của vật và là phần linh diệu của trời đất, nên tính người không gì là không thiện. Chu Hi giải rằng tính là cái lý của tâm, tình là sự động của tính, động rồi thì thành tình, còn tâm thì suốt qua mọi động của tính. Trương Hoành Cừ chia tính làm hai, tính của trời đất, tức tính thiện do trời phú, và tính của khí chất, tức tính ác do khí chất sinh ra. Người ta cần răn tính và dưỡng tính để bỏ cái tính khí chất mà khôi phục tính trời phú, cái lý chí linh chí diệu, cái thực tính của con người. Riêng tính khí chất thì quân tử không coi đó là tính.

Cảnh Hạnh Lục dùng hình ảnh dòng nước để nói điều ấy:

Nhân tính như thủy, thủy nhất khuynh tắc bất khả phục. Tính nhất túng tắc bất khả phản.

Chế thủy giả tất dĩ đê phòng. Chế tính dã tất dĩ lễ pháp.

Nhẫn nhất thời chi khí, miễn bách nhật chi ưu. Đắc nhẫn thả nhẫn, đắc giới thả giới. Bất nhẫn bất giới, tiểu sự thành đại.

Nhất thiết chư phiền não, giai tòng bất nhẫn sinh.

Lâm cơ dữ đối cảnh, diệu tại tiên thời minh. Phật ngữ tại vô tránh. Nho thư quý vô tranh. Hảo điều khoái hoạt lộ. Thế thượng thiểu nhân hành.

Tính người như nước, nước đã đổ thì không hốt lại được, tính đã buông thả thì không quay về được. Muốn ngăn nước thì phải đắp đê, muốn răn tính thì phải dùng lễ pháp. Nén cơn giận một lúc thì khỏi lo trăm ngày. Nhịn được thì cứ nhịn, kiêng được thì cứ kiêng, không nhịn không kiêng thì việc nhỏ hóa lớn. Mọi phiền não đều từ chỗ không nhịn mà sinh. Gặp cơ hội hay hoàn cảnh, cái nhiệm màu là biết rõ từ trước. Lời Phật cốt ở không cãi vã, sách Nho quý ở không tranh giành. Đây là con đường sung sướng mà trên đời ít người đi.

Chữ nhẫn, phương thuốc cho mọi bậc người

Từ thiên tử đến người thường, chữ nhẫn đứng ở cùng một chỗ, và Khổng Tử trả lời học trò bằng đúng chỗ ấy.

Nhẫn thị thân chi bảo. Bất nhẫn thị thân chi ương.

Thiệt nhu thường tại khẩu. Xỉ chiết chỉ vị cương.

Tư lương giá nhẫn tự. Hảo cá khoái hoạt phương.

Phiến thời bất năng nhẫn. Phiền não nhật nguyệt trường.

Nhẫn là của báu của thân, không nhẫn là tai ương của thân. Lưỡi mềm nên còn mãi trong miệng, răng gãy chỉ vì cứng. Ngẫm chữ nhẫn ấy là một phương thuốc tuyệt vời cho sự vui sướng. Thoáng chốc không nhịn được thì phiền não kéo dài ngày tháng. Bốn câu sau khuyên đừng thêm lửa vào lòng:

Ngu trọc sinh sân nộ. Giai nhân lý bất thông.

Hưu thiêm tâm thượng hỏa. Chỉ tác nhĩ biên phong.

Trường đoản gia gia hữu. Viêm lương xứ xứ đồng.

Thị phi vô thực tướng. Cứu cánh tổng thành không.

Kẻ ngu đục sinh giận dữ đều vì lý chưa thông. Đừng thêm lửa vào lòng, cứ coi như gió thoảng bên tai. Ai cũng có chỗ hay chỗ dở, nơi nào cũng có nóng lạnh thế thái. Chuyện phải trái không có tướng thật, rốt cuộc rồi cũng thành không. Khổng Tử có một cuộc đối thoại với Tử Trương, người nước Trần, tên Chuyên Tôn Sư, học trò của ngài. Tử Trương sắp lên đường, từ biệt thầy và xin một lời làm yếu quyết tu thân. Khổng Tử đáp:

Bách hạnh chi bổn, nhẫn chi vi thượng.

Gốc của trăm nết, nhẫn là cao nhất. Tử Trương hỏi nhẫn thế nào, và Khổng Tử đáp từng bậc:

Thiên tử nhẫn chi, quốc vô hại; chư hầu nhẫn chi, thành kỳ đại; quan lại nhẫn chi, tiến kỳ vị; huynh đệ nhẫn chi, gia phú quý; phu phụ nhẫn chi, chung kỳ thế; bằng hữu nhẫn chi, danh bất phế; tự thân nhẫn chi, vô hoạn họa.

Thiên tử bất nhẫn, quốc không hư; chư hầu bất nhẫn, táng kỳ khu; quan lại bất nhẫn, hình phạt tru; huynh đệ bất nhẫn, các phân cư; phu phụ bất nhẫn, tình ý sơ; tự thân bất nhẫn, hoạn bất trừ.

Vua nhẫn thì nước không hại, chư hầu nhẫn thì thành nghiệp lớn, quan lại nhẫn thì thăng chức, anh em nhẫn thì nhà giàu sang, vợ chồng nhẫn thì trọn đời, bạn bè nhẫn thì danh không mất, bản thân nhẫn thì không tai họa. Vua không nhẫn thì nước trống rỗng, chư hầu không nhẫn thì mất thân, quan lại không nhẫn thì bị hình phạt, anh em không nhẫn thì mỗi người một nơi, vợ chồng không nhẫn thì tình nhạt, bản thân không nhẫn thì họa không trừ. Tử Trương nói rằng hay quá, khó nhẫn quá, không phải người thì không biết nhẫn, không biết nhẫn thì không phải người.

Cảnh Hạnh Lục ghi thêm một cặp:

Khuất kỷ giả năng xử chúng. Hiếu thắng giả tất ngộ địch.

Nhún mình thì sống được với mọi người, hiếu thắng thì ắt gặp kình địch. Trương Kính Phu, tên tự của Trương Thức, danh nho đời Nam Tống đồng thời với Chu Hy và Lục Cửu Uyên, phân biệt hai loại giận:

Tiểu dũng giả huyết khí chi nộ. Đại dũng giả nghĩa lý chi nộ.

Huyết khí chi nộ bất khả hữu. Nghĩa lý chi nộ bất khả vô.

Dũng nhỏ là giận vì huyết khí, dũng lớn là giận vì nghĩa lý. Giận vì huyết khí thì không nên có, giận vì nghĩa lý thì không thể không có. Một bài kệ kể chuyện người lành bị kẻ dữ chửi:

Ác nhân mạ thiện nhân. Thiện nhân tổng bất đối.

Thiện nhân nhược hoàn đối. Bỉ thử vô trí tuệ.

Bất đối tâm thanh lương. Mạ giả khẩu nhiệt phí.

Chính như nhân thóa thiên. Hoàn tùng kỷ thân trụy.

Ngã nhược bị nhân mạ. Dương lung bất phân thuyết.

Thí như hỏa đương không. Bất cứu tự nhiên diệt.

Sân nhân diệc như thị. Hữu vật tao tha nhiệt.

Ngã tâm đẳng hư không. Thỉnh bỉ phiên thần thiệt.

Kẻ dữ mắng người lành, người lành không đáp lại, vì đáp lại thì cả hai đều không có trí. Không đáp thì lòng mát, kẻ mắng thì miệng nóng sôi, giống như người nhổ lên trời, nước bọt lại rơi xuống thân mình. Nếu ta bị mắng thì cứ giả điếc không phân bua, như lửa cháy giữa khoảng không, không cứu cũng tự tắt. Người giận cũng vậy, có vật mới bắt nóng. Lòng ta như hư không thì mặc kẻ kia khua môi múa lưỡi. Lão Tử, tức Lão Đam, họ Lý tên Nhĩ, người thời Xuân Thu, tác giả Đạo Đức Kinh và được tôn là ông tổ của đạo gia, có câu ngắn:

Thượng sĩ vô tranh, hạ sĩ hiếu sự.

Phàm sự lưu nhân tình. Hậu lai hảo tương kiến.

Bậc trên không tranh, kẻ thấp thích gây chuyện. Làm việc gì cũng nên lưu lại tình người để sau còn gặp nhau.

Ngọc không mài thì không thành đồ quý

Cái lòng nhịn được cần một chỗ để lớn lên, và cổ nhân nói chỗ ấy là sự học.

Lễ Ký dùng hai câu để mở đầu việc khuyên học:

Ngọc bất trác, bất thành khí. Nhân bất học, bất tri lý.

Ngọc không mài thì không thành đồ quý, người không học thì không biết lẽ. Khổng Tử, bậc thầy của Nho học, nổi tiếng là người hiếu học: vui thú mà học, say mê mà học đến nỗi không biết tuổi già đã đến, và cần mẫn hiếu học, không xấu hổ khi hỏi người dưới. Trung Dung bàn về cách học rằng phải học cho rộng, hỏi cho kỹ, nghĩ cho cẩn thận, phân biệt cho sáng rõ, làm cho hết sức. Có điều không học, nhưng đã học thì chưa hay chưa thôi, có điều không hỏi, nhưng đã hỏi mà chưa rõ thì chưa thôi. Người dụng công một thì ta dụng công trăm, người dụng công mười thì ta dụng công nghìn, đạt được mới thôi, nhờ vậy ngu cũng thành sáng, yếu cũng thành mạnh. Học vấn của người trí thức không phải cái học cửa miệng mà là cái học để hóa tâm thần, làm cho thân mình tốt đẹp. Quân tử chi học dĩ mỹ kỳ thân, sự học ấy cốt ở thực hành, hữu ích cho đời, chứ không cốt ở từ chương.

Tử Hạ nói về phép học ngắn gọn:

Bác học nhi đốc chí, thiết vấn nhi cận tư, nhân tại kỳ trung hỹ.

Học rộng mà bền chí, hỏi kỹ mà nghĩ gần thì đức nhân ở ngay trong đó. Khổng Tử nói thêm một câu về tấm lòng người học:

Mẫn nhi hiếu học, bất sỉ hạ vấn.

Đã nhanh nhạy lại ham học, hỏi người dưới không thấy xấu hổ. Thứ tự việc học được ghi:

Vi học chi tự: Bác học chi, thẩm vấn chi, thận tư chi, minh biện chi, đốc hành chi.

Học cho rộng, hỏi cho kỹ, nghĩ cho cẩn thận, phân biệt cho sáng, làm cho hết sức. Một đoạn nữa ví việc học như leo núi xuống vực:

Bất đăng tuấn lĩnh, bất tri thiên cao.

Bất lý thâm nhai, khởi tri địa hậu.

Bất du thánh đạo, an đắc vị hiền?

Không lên núi cao thì không biết trời cao, không xuống vực sâu thì sao biết đất dày, không dạo đạo thánh thì sao đáng gọi là hiền. Thái Công có câu về người không học:

Nhân sinh bất học, minh minh như dạ hành.

Người sống không học thì tối tăm như đi đêm. Hàn Văn Công, tức Hàn Dũ đời Đường, năm tuổi đã đọc được sách, lớn lên thông nhiều kinh truyện lẫn bách gia, hai mươi lăm tuổi đỗ tiến sĩ làm chức giám sát ngự sử, là một trong tám đại gia Đường Tống, nói thẳng:

Nhân bất thông cổ kim, mã ngưu nhi khâm cư.

Người không thông xưa nay thì chỉ như trâu ngựa mặc áo. Ông muốn nối gót Mạnh Tử chấn hưng Nho giáo trước thế lực của cả Lão và Phật, từng dâng biểu can vua đừng đón xá lợi Phật, lời lẽ thẳng mạnh nên bị vua giận đày đi xa, và tâm sự trong thơ:

Nhất phong triệu tấu cửu trùng thiên.

Mộ biếm Triều Châu lộ bát thiên.

Bản vi thánh minh trừ tệ chính.

Cảm tương suy hủ tích tàn niên.

Sớm dâng một tờ biểu lên chín tầng trời, chiều bị biếm đến Triều Châu cách tám nghìn dặm. Vốn vì vua sáng mà trừ chính sự hư hỏng, đâu dám tiếc cái thân suy mòn tuổi tàn. Chu Hi nhắc đừng chần chừ:

Vật vị kim nhật bất học nhi hữu lai nhật.

Vật vị kim niên bất học nhi hữu lai niên.

Nhật nguyệt thệ hỹ, tuế bất ngã diên.

Ô hô lão hỹ. Thị thùy chi khiên?

Đừng bảo hôm nay không học vì còn ngày mai, đừng bảo năm nay không học vì còn năm sau. Ngày tháng trôi qua, tuổi không chờ ta. Ôi, già rồi, lỗi tại ai? Ông viết thêm một đoạn dài khuyên nghèo giàu đều phải học:

Gia nhược bần, bất khả nhân bần nhi phế học. Gia nhược phú, bất khả nhân phú nhi đãi học.

Bần nhi cần học, khả dĩ lập thân. Phú nhi cần học, danh nãi quang vinh.

Duy kiến học giả hiển đạt. Bất kiến học giả vô thành.

Học giả, nãi thân chi bảo. Học giả, nãi thế chi trân.

Thị cố, học giả nãi vi quân tử. Bất học giả, nãi vi tiểu nhân. Hậu chi học giả. Các nghi miễn chi.

Nhà nghèo thì không vì nghèo mà bỏ học, nhà giàu thì không vì giàu mà lười học. Nghèo mà siêng học thì lập được thân, giàu mà siêng học thì danh rạng rỡ. Chỉ thấy người học mà hiển đạt, chưa thấy người học mà không nên. Học là của báu của thân, là ngọc quý của đời. Vì thế người học thành quân tử, người không học thành tiểu nhân. Người học đời sau, ai cũng nên cố gắng.

Huy Tông, vua nhà Tống, một nghệ sĩ tài tử ham văn chương thi họa, bị người Kim bắt cả hai cha con đem về nước Kim cầm tù nên nhà Bắc Tống mất, để lại bài khuyến học:

Học dã hảo, bất học dã hảo? Học giả như hòa như đạo. Bất học giả như cảo như thảo.

Như hòa như đạo hề, quốc chi tinh lương, thế chi đại bảo. Như cảo như thảo hề canh giả tăng hiềm, sừ giả phiền não.

Tha nhật diện tường, hối chi dĩ lão.

Học thì hay hay không học thì tốt? Người học như lúa như nếp, người không học như cỏ như rơm. Lúa nếp là lương tinh của nước, báu lớn của đời, cỏ rơm thì người cấy ghét, người bừa phiền. Ngày sau mặt đối với bức tường, hối thì đã già. Trực Ngôn Quyết có hai câu về ánh sáng của sách:

Tạo chúc cầu minh, độc thư cầu lý.

Minh dĩ chiếu ám thất. Lý dĩ chiếu nhân tâm.

Làm đuốc để cầu sáng, đọc sách để cầu lý. Đuốc soi nhà tối, lý soi lòng người. Lễ Ký thêm:

Độc học vô hữu tắc cô lậu quả văn.

Thư thị tùy thân bản. Tài thị quốc gia trân.

Học một mình không có bạn thì hẹp hòi kiến thức. Sách là gốc theo thân, tài là báu của nước. Một câu trong Luận Ngữ nói tâm thế người học:

Học như bất cập, do khủng thất chi.

Học như sợ không theo kịp, lại còn sợ để mất điều đã học. Và sáu cặp câu của Khổng Tử nhắc rằng đức tốt mà không học thì đều có chỗ bị che lấp:

Hiếu nhân bất hiếu học, kỳ tế dã ngu.

Hiếu trí bất hiếu học, kỳ tế dã đãng.

Hiếu tín bất hiếu học, kỳ tế dã tặc.

Hiếu trực bất hiếu học, kỳ tế dã giảo.

Hiếu dũng bất hiếu học, kỳ tế dã loạn.

Hiếu cương bất hiếu học, kỳ tế dã cuồng.

Ham nhân mà không ham học thì cái che lấp là ngu, ham trí mà không ham học thì che lấp là phóng đãng, ham tín mà không ham học thì che lấp là hại người, ham thẳng mà không ham học thì che lấp là sỗ sàng, ham dũng mà không ham học thì che lấp là gây loạn, ham cương mà không ham học thì che lấp là cuồng. Và ngài dặn cái thứ tự của người trẻ:

Đệ tử! Nhập tắc hiếu, xuất tắc đễ. Cẩn nhi tín, phiếm ái chúng nhi thân nhân. Hành hữu dư lực, tắc dĩ học văn.

Này các trò, ở nhà thì hiếu, ra ngoài thì đễ, cẩn trọng mà giữ tín, yêu khắp mọi người mà gần người nhân. Làm hết những điều ấy mà còn dư sức thì mới học văn. Gia Cát Võ Hầu, tức Khổng Minh Gia Cát Lượng, tướng phò Lưu Bị thời Tam Quốc, khép lại bằng một đoạn về chữ tĩnh trong học:

Quân tử chi hạnh, tĩnh dĩ tu thân, kiệm dĩ dưỡng đức.

Phi đạm bạc vô dĩ minh chí. Phi ninh tĩnh vô dĩ trí viễn.

Phù! Học tu tĩnh dã, tài tu học dã. Phi học vô dĩ quảng tài. Phi tĩnh vô dĩ thành học.

Thao mạn tắc bất năng nghiên tinh. Hiểm táo tắc bất năng lý tính.

Niên dữ thời trì. Ý dữ tuế khứ. Toại thành khô lạc. Bi thán cùng lư. Tương phục hà cập dã.

Hạnh của quân tử là lấy tĩnh mà sửa thân, lấy kiệm mà nuôi đức. Không đạm bạc thì không tỏ được chí, không tĩnh lặng thì không vươn xa được. Ôi, học cần tĩnh, tài cần học. Không học thì tài không rộng, không tĩnh thì học không thành. Hời hợt thì không nghiên cứu tinh tường, nóng vội thì không chỉnh được tính. Năm tháng đua nhau chạy, ý chí theo năm tháng mà đi, dần dà thành khô rụng, than thở trong căn nhà nghèo, lúc ấy hối sao cho kịp.

Nguồn: Minh Tâm Bảo Giám, Nguyễn Quốc Đoan chú dịch.

Kiều Oanh Trần

Tác giả

Kiều Oanh Trần

Nghiên cứu Mệnh lý - Tử vi - Tâm lý học

Theo dõi trên Facebook

Chia sẻ bài viết

FacebookXLinkedInZalo
Quay lại Khuyên Thiện