Bài tổng quan
Tam giáo hợp nhất và lối nghĩ vượt lô-gích hai mặt của Thiền
Một vị hòa thượng chỉ vào cái mũ, đôi giày rồi tấm áo cà sa, và người hỏi tự kết luận ngài thuộc cả ba nhà. Chuyện nhỏ ấy nói lên cách Nho, Đạo, Phật hòa vào nhau. Còn Thiền thì đi xa hơn: nó hỏi con công đẹp hay con quạ đẹp, và ai là người đặt ra điều đó.
Một nghìn năm Thiền đi vào văn hóa Trung Hoa
Thiền tông là một hiện tượng văn hóa trọng yếu của Trung Hoa. Đại sư Nhật Bản Linh Mộc Đại Chuyết định nghĩa Thiền là vượt qua lý tính để tiếp xúc trực tiếp với sự vật. Lối tư duy độc đáo này dám "đường hoàng" đi ngược lẽ thường, đánh đổ suy lý lô-gích, xem nhẹ mọi triết lý có sẵn; nó mở cho con người cái gan dám phủ định quan điểm của người đi trước, để nắm lấy hình dạng thật của sự vật mà không bị định kiến chi phối. Thiền vượt được lô-gích chính vì trong Thiền lý ẩn một lối tư duy rất sâu. Ngoài tư duy, Thiền còn có những gợi mở quan trọng cho học thuật, nghệ thuật, y học và giáo dục, nhất là giáo dục.
Thiền học bắt đầu truyền vào Trung Hoa từ thời Hậu Hán. Từ khi Đạt Ma sang đây truyền đạo, lập tông, cho đến sau thời Tuệ Năng, Phật giáo hưng thịnh và Thiền học luôn chiếm vị trí chủ đạo trong Phật giáo nước này. Một nghìn năm lịch sử đủ để Thiền chạm tới tư tưởng, văn hóa, tín ngưỡng, thu hút đông đảo văn nhân sĩ tử và để lại dấu ấn sâu đậm trong văn học, nghệ thuật. Vì vậy ai nghiên cứu văn hóa tư tưởng Trung Hoa cũng không thể bỏ qua Thiền học, và các ngữ lục của Thiền tông đã làm giàu thêm kho tàng văn hóa Trung Hoa.
Vì sao Thiền sống được lâu và ảnh hưởng đến thế? Lý do chủ yếu là Phật học Ấn Độ có "duyên" với văn hóa truyền thống Trung Hoa. Thiền Ấn Độ gặp tư tưởng Nho gia, Đạo gia ở đây thì hợp nhau, tương đồng nhau. Phật giáo ở Ấn Độ khởi nguồn rồi suy, trong khi sang Trung Hoa lại hưng thịnh, vì đạo Phật đã tìm được mảnh đất hợp với mình ở đây và nhanh chóng đơm hoa kết trái. "Đại từ đại bi" của đạo Phật gần với "nhân, thiện" của Nho gia. Việc bước vào cõi Bồ Đề, Niết Bàn có phần giống với chuyện thành tiên của Đạo gia (dù hai điều này thật ra khác nhau). Còn "không vọng không vì" trong "không quán" lại giống chữ "vô dục vô vi" của Đạo gia. Nhờ thế mà Nho, Đạo, Phật thành thế "tam giáo hợp nhất".
Cái mũ, đôi giày và chiếc áo cà sa
Trong nhà Thiền cũng có một chuyện kể về "tam giáo hợp nhất". Có người hỏi một vị hòa thượng: ngài thuộc giáo phái nào? Vị hòa thượng chỉ vào chiếc mũ đang đội trên đầu. Người kia nói: à, ngài là người Nho giáo. Vị hòa thượng lại chỉ vào đôi giày đang đi. Người kia nói: thì ra ngài còn thuộc Đạo giáo nữa. Vị hòa thượng lại chỉ vào chiếc áo cà sa đang mặc. Người kia thốt lên khen ngợi: hóa ra ngài không chỉ thuộc Nho, Đạo mà còn thuộc cả Phật.
Ba nhà thật ra nâng đỡ, bổ sung cho nhau. Nho gia lấy "tâm tính" của Phật học để phát triển "tâm học" của mình, thành một nền lý học mới. Đạo gia lấy Thiền Na của Phật học để làm giàu cho đường tu đạo thần tiên. Từ đó Nho, Đạo, Phật thành thế chân vạc, trở thành ba giáo phái lớn của Trung Hoa và có ảnh hưởng sâu sắc ở nhiều phương diện như tư tưởng, văn hóa.
Thiền đã hòa vào đời sống: từ lối nghĩ đến nghệ thuật
Đã đứng chung một mái, ba nhà ngấm vào nhau, và nấc đầu tiên mà Thiền chạm tới trong con người là chính cách ta nghĩ.
Thiền thật sự đã hòa vào cuộc sống thường ngày. Bất kể trong tư duy, khoa học hay nghệ thuật, chúng ta đều học Thiền, dù tự giác hay không tự giác. Thiền, như Linh Mộc Đại Chuyết nói, là vượt qua lý tính để chạm thẳng vào sự vật. Lối nghĩ của Thiền là lối nghĩ riêng của tôn giáo, mà kiểu tư duy triết học hai mặt không thể ôm hết, vì nó đứng đối lập với suy lý, phán đoán, phủ định, khẳng định của lô-gích học mà Thiền xem nhẹ. Bài kệ về chiếc cuốc và con trâu, chiếc cầu và dòng nước chảy là một ví dụ rõ ràng: nó ngược thường lý, đối nghịch với triết học hai mặt, phi lô-gích, nhưng lại là cốt lõi của Thiền lý.
Tay không mà cầm cuốc, đi bộ mà cưỡi trâu; người đi trên cầu, cầu chảy mà nước không trôi.
Tư duy là thứ gắn với ta từng giờ từng ngày. Thường thì tư duy của ta hợp với lô-gích và lẽ thường, nhưng có những lúc nó va vào lô-gích hai mặt, và ta chẳng tìm được đáp án trong đó. Lô-gích học là môn khoa học nghiên cứu quy luật của tư duy. Tư duy là quá trình nhận thức của con người, bao gồm khái niệm, phán đoán, suy lý; nó vừa trừu tượng vừa rất thực tế. Lô-gích còn gọi là biện học, gồm tư duy hình thức và lô-gích biện chứng, cũng có thể coi là hai giai đoạn phát triển. Cốt lõi của tư duy hình thức là đúng là đúng, sai là sai, phủ định là phủ định, tức kết luận cố định, không mập mờ. Lô-gích biện chứng thuộc tư duy cao hơn, mở rộng phạm vi của lô-gích hình thức: giữa hai mặt đối lập, như "đúng" và "chưa đúng", "tuyệt đối" và "tương đối", có khoảng mềm dẻo, có thể thay đổi, nương nhau và chuyển hóa cho nhau; trong một điều kiện nhất định A có thể là B, mà B cũng có thể là A.
Đẹp hay xấu: con công, con quạ và nàng Tây Thi
Thiền lý xem nhẹ cả những quy luật tư duy quen thuộc. Nhà Thiền cho rằng lý tính, trừu tượng là thứ do con người đặt ra, không bao quát nổi mọi hiện tượng khách quan. Cũng như trước khi lô-gích biện chứng ra đời, tư duy con người từng bị trói trong khuôn của tư duy hình thức, thì ngày nay cũng không nên để lô-gích biện chứng trói buộc nữa.
Tư duy của Thiền nghiêng về cảm nhận, tôn trọng chân tướng sự vật, phá bỏ lớp che phủ của lý tính có sẵn, để mình tự chạm, tự nắm lấy sự vật. Vì vậy Thiền "dũng cảm" thách thức cả lô-gích học. Lấy cặp "đẹp" và "xấu" làm ví dụ. Theo lô-gích hình thức, đẹp là đẹp, xấu là xấu, không đẹp thì xấu, không thể vừa đẹp vừa xấu. Lô-gích biện chứng thì cho rằng trong một số điều kiện đẹp xấu có thể chuyển hóa: lô-gích hình thức nói con công đẹp, con quạ xấu, nhưng nhìn từ một góc nào đó cũng có thể nói con công xấu, con quạ đẹp.
Thiền thì vượt qua cả sự đối lập ấy, vượt khỏi triết học hai mặt, khỏi phủ định và khẳng định của lô-gích. Nhà Thiền nói con công và con quạ đều không đẹp cũng không xấu: con công có cái đẹp của con công, con quạ có cái đẹp của con quạ, căn bản không có sự đối lập giữa đẹp và xấu. Đẹp xấu vốn do con người đặt ra. Chẳng hạn Tây Thi đẹp, người nhìn thấy thì muốn lại gần, nhưng con cá nhìn thấy lại lặn đi.
Dám phủ định điều người trước đã nói
Lối nghĩ độc đáo ấy gợi cho tư duy con người rất nhiều, nhất là những người làm khoa học: cần dám mạnh dạn phủ định quan điểm của người đi trước, nếu không sẽ không có sáng tạo và sự vật khó phát triển. Mặt trời mọc ở phương Đông, lặn ở phương Tây vốn là quan điểm bất biến hàng nghìn năm, nhưng nhà Thiền lại nói mặt trời mọc ở núi phía Tây, lặn ở núi phía Đông. Đó không phải để chê khen lẽ thường mà để nhắc rằng việc chia ra "Đông", "Tây" vốn do con người đặt. Nói mặt trời mọc từ phương Tây cũng không làm hại gì mặt trời, vì mặt trời vẫn hiện lên trên mặt đất bằng, sao có thể coi đó là "đại nghịch bất đạo"?
Trên đời không có chân lý cuối cùng, mọi thứ đều đang phát triển và đổi mới. Thuyết "nhật tâm" của Aristotle chẳng phải đã bị lật đổ đó sao? Vật lý học kinh điển của Newton cũng bị cơ học lượng tử và thuyết tương đối của vật lý hiện đại thay thế. Thuyết tương đối của Einstein lại đang đối diện với nhiều thách thức. Phát minh của họ đều vĩ đại nhưng cũng không tồn tại mãi, cuối cùng vẫn bị cái mới thay thế.
Điều đáng quý trong tư duy Thiền là không chịu sự giới hạn của lý tính có sẵn mà tự mình thể nghiệm, nhờ vậy có nhiều cơ hội làm lại nhận thức về sự vật hơn, có lợi cho cách tân hơn. Chính vì thế Thiền tông rất kỵ chuyện bắt chước, làm theo người. Thiền sư Nhất Chỉ chặt ngón tay của chú tiểu vì chú tiểu bắt chước thầy, và chú tiểu sau khi bị chặt ngón tay đã bắt đầu "ngộ".
Giữ lấy hiện tại và con đường sống
Dám nghi ngờ lẽ thường rồi, nhà Thiền lại đặt hai chân rất vững xuống mặt đất của cuộc sống.
Thiền quý hiện tại, không đi sâu vào chuyện tương lai. Có vị hoàng đế hỏi một thiền sư: sau khi chết con người đi về đâu? Thiền sư đáp: không biết. Hỏi: sao lại không biết? Đáp: vì tôi chưa chết.
Một điểm đáng quý khác là "ý chí mưu sinh mạnh mẽ", giỏi nắm sợi dây của con đường sống. Nhà Thiền hay lấy việc chăn trâu để ví von. Hòa thượng Thạch Củng chuẩn bị dắt trâu đi, Mã Tổ hỏi: làm gì đấy? Đáp: chăn trâu. Hỏi: chăn thế nào? Đáp: cho nó đi ăn cỏ. Mã Tổ nói: đúng là chăn trâu rồi. Chuyện rất cô đọng, chỉ vài câu nhưng hàm chứa Thiền cơ thâm diệu, là con đường sống nằm ngay trong mối liên hệ.
Trong Thiền lý có nhiều điều đáng để các nhà triết học suy xét. Triết học vốn gồm cả các quy luật lô-gích, nhưng liệu nó có khái quát nổi mọi hiện tượng của tư duy không? Câu trả lời rõ ràng là không. Sự vật biến hóa không ngừng, thế giới rộng lớn, sự vật vô số kể, mấy quy luật không thể gói hết. Lô-gích biện chứng là bước "nhảy vọt" của lô-gích hình thức, thì chắc chắn còn có bước nhảy vọt của lô-gích biện chứng. Thiền vượt khỏi lô-gích là để chứng tỏ Thiền lý chứa một tư duy sâu xa. Việc các nhà triết học, lô-gích học "nhập Thiền", đem lối tư duy huyền bí của Thiền vào lô-gích học, nâng tư duy lô-gích lên tầm cao hơn để thích ứng với nhu cầu phát triển của thế giới là điều tất yếu. Khi nhìn chân tướng của sự vật bằng lòng hòa với cảnh, như trong tinh thần đi ngược về nguồn, người ta thấy được lối nghĩ vượt khỏi hai mặt ấy rộng đến mức nào.
Nguồn: Dương Lực, Kinh điển văn hóa 5000 năm Trung Hoa - Tập 4, thuật lại có lược bớt.
