Chuyển đến nội dung chính
Quay lại Khuyên Thiện

Bài tổng quan

Ngộ chân thiên: lấy thân làm lò, đi ngược về nguồn

Đạo Học - Khuyên Thiện03/10/202612 phút đọc2 lượt đọc
Ngộ chân thiên: lấy thân làm lò, đi ngược về nguồn

Có người ví kẻ chưa hiểu nội đan như con ếch ngồi đáy giếng, đâu biết trên đời còn nơi rồng ở. Người nói câu ấy là Trương Bá Đoan, đạo sĩ đời Bắc Tống, tin rằng thuốc tiên nằm ngay trong thân mình chứ không ở đá vàng cây cỏ. Ông dạy lấy trời đất làm lò, và đi ngược dòng sinh hóa.


Người dạy tìm thuốc tiên ngay trong thân

Ngộ chân thiên là một trong bốn bộ kinh nổi tiếng về nội đan của Đạo gia. Nó ra đời vào thời Bắc Tống, do Trương Bá Đoan, tự là Bình Thúc, hiệu Tử Dương, viết. Ông lấy tư tưởng của Chu Dịch và Lão Tử làm nền lý luận, khéo tiếp thu cả Chu Dịch tham đồng khế lẫn Âm phù kinh, nên bộ kinh được coi là một tập đại thành về lý luận nội đan trước đời Tống. Quan điểm cơ bản của ông rất rõ: đề cao nội đan và phản đối thẳng lối ngoại đan, tức nấu thuốc bằng khoáng vật ngoài thân. Người đời sau chú giải rất nhiều, như bản chú sớ của Ông Bao Quang, bản trực chỉ, bản giảng nghĩa.

Ông nói thuốc tiên có ngay trong bản thân, cần gì tìm đến đá vàng cây cỏ. Khi hào dương trong quẻ Khảm được phát động, tâm và thận, thủy và hỏa giao nhau, tinh và khí hội lại nơi nê hoàn và khí hải, thuốc tiên sẽ sinh ra. Thứ thuốc tiên đích thực chỉ là tinh, khí, thần được sinh ra sau khi đã đặt nền và luyện kỷ: luyện tinh hóa khí, luyện khí hóa thần, luyện thần hoàn hư. Nhiều người uổng công phí sức lên rừng xuống biển tìm tiên đan, kim thạch, mà không biết tìm ngay ở thân mình. Thiền định, đạo dẫn để trở về cội nguồn ban đầu mới là con đường đúng. Người chưa hiểu nội đan, theo lời ông, chẳng khác con ếch ngồi đáy giếng, đâu biết trên đời còn có nơi rồng ở; chim sẻ sao biết trên trời có tổ phượng hoàng. Tu thành thì như vàng chứa đầy nhà, trường sinh tự đến, việc gì phải chạy theo ngoại đan, và nội đan mới là gốc.

Âm dương như cây cỏ, như đôi sao cách trở

Muốn hiểu nguyên lý của nội đan, ông bảo hãy nhìn một cái cây mới nảy mầm trước đã.

Chịu ảnh hưởng sâu của âm dương trong Chu Dịch, Ngộ chân thiên lấy âm dương làm nền lý luận. Người tu kim dịch hoàn đan phải thông luật âm dương; ví như muốn hiểu hỏa hầu thì phải lấy cái thịnh suy của âm dương làm cơ sở, cho nên có câu “điều đình hỏa hầu thác âm dương”. Ông còn đưa ra một bài thơ nói rằng nhìn cỏ cây sẽ thấy: lá xanh nảy trước là dương xướng, hoa hồng nở sau là âm theo; riêng một bên thì không có sinh nở. Ông nhắn những ai học đạo: chưa biết âm dương chớ làm liều.

Chú sớ của Ông Bao Quang giải thêm bằng hình ảnh hạt giống: hạt nảy một mầm là nhất khí; hai lá xòe ra là lưỡng nghi, tức âm dương; giữa hai lá một chồi hé nhú là tam tài; có tam tài thì cành lá xum xuê. Xuân sinh, hạ trưởng, thu tiêu, đông tàng, âm dương phối với nhau thì sự hóa sinh không ngừng. Thiếu một bên thì không sinh: cô âm không tự sinh, quả dương không tự thành. Trời đất âm dương giao phối, người nam nữ giao phối, đó là đạo bất biến của vạn vật. Ông dùng cả hình ảnh Ngưu Lang Chức Nữ, rùa và rắn, cóc và chim, trời và đất để nói âm dương hòa thì mọi việc viên mãn, cách trở thì mọi việc trục trặc, khí âm dương không giao nhau thì việc tu luyện nội đan khó thành. Ông còn nhắc câu “đạo từ hư vô sinh nhất khí, nhất khí sinh âm dương, âm dương hợp thành ba thể, ba thể sinh vạn vật”, tức quay về thuyết “nhất âm nhất dương chi vị đạo” của Dịch và “đạo sinh nhất” của Lão Tử.

Lấy trời đất làm lò, mặt trời mặt trăng làm thuốc

Bát quái trong Dịch được ông dựng lên thành một chiếc khung, mà bên trong là cả một xưởng luyện.

Trương Bá Đoan học Dịch rất sâu, và đưa bát quái vào nội đan để dựng cho nó một khung kết cấu. Ngộ chân thiên coi trời đất là cái lò khổng lồ, còn âm dương là vị thuốc. Trong thân người, Càn là huyệt nê hoàn ở đỉnh đầu, Khôn là đan phủ ở bụng dưới. Kim ô, con chim ba chân của mặt trời, và ngọc thố, con thỏ của mặt trăng, đại diện cho Khảm Ly, thủy hỏa, là nguyên liệu để luyện. Chú sớ viết: mặt trời mặt trăng vốn là tinh hoa của trời đất, nên thánh nhân lấy trời đất làm lò đan, lấy nhật nguyệt làm thuốc; trời đất là rồng thật hổ thật, thuốc chính là cái khí vàng của rồng hổ. Trời là Càn thuộc dương, khí bay lên; đất là Khôn thuộc âm, khí lắng xuống; hai khí dưới trên đã định thì đỉnh của trời đất thành. Mặt trời sinh khí dương ở đông, mặt trăng sinh khí âm ở tây, hai khí hợp lại ấp ủ mà thành kim đan.

Không chỉ lò và thuốc, bát quái còn làm thước đo cho hỏa hầu. Kinh có bốn câu về “doanh hư”, đầy và vơi của trời đất. Chú sớ giảng: trong âm có nửa dương là quẻ Thái, khí chuyển từ hàn sang ôn, vạn vật sinh sôi; trong dương lại có dương là quẻ Càn, khí nóng, vạn vật kết trái, nên gọi là đầy; trong dương có nửa âm là quẻ Bĩ, khí chuyển mát; trong âm lại có âm là quẻ Khôn, khí lạnh, vạn vật thu tàng, nên gọi là vơi. Hình dạng mặt trăng cũng thế, theo cách nạp giáp mà Chu Dịch tham đồng khế dùng: ngày mồng ba Chấn Canh hiện hình, mồng tám Đoài Đinh định hình, ngày rằm Càn Giáp tròn đầy; ngày mười sáu Tốn Tân bắt đầu hao, hăm ba Cấn Bính còn nửa, ngày ba mươi Khôn Ất lặn hết. Thánh nhân hiểu được cái máy của đất trời đầy vơi ấy, và lấy sự thịnh suy của âm dương trong vũ trụ làm tiêu chuẩn tiến thoái của hỏa hầu. Nội đan, vì vậy, phải theo đúng quy luật của trời đất.

Tính và mệnh phải cùng tu

Có chiếc lò rồi, còn phải biết người đứng bên lò là ai.

Chu Dịch gọi tính là nhân tính, mệnh là thiên mệnh; hiểu tính mệnh là thuận theo cái lý của tính và cái lý của mệnh. Cái đạo lập trời là âm dương, cái đạo dựng đất là cương nhu, cái đạo thành người là nhân nghĩa. Vì thế cốt lõi của tính mệnh trong Dịch nằm ở đạo đức: thuận đạo tự nhiên, thực hành nhân nghĩa thì thành thánh nhân và hợp nhất với trời đất, hợp đức với trời đất, hợp sáng với nhật nguyệt, hợp thứ tự với bốn mùa.

Ngộ chân thiên coi trọng tu mệnh, nhưng không xem nhẹ tu tính, vì người là một thể thống nhất, tinh khí và tâm thần không tách. Ông viết rằng muốn đạt đạo của thân, không gì bằng làm sáng tâm, vì tâm là gốc của đạo, đạo là chỗ tâm hiện hình. Tính mà không có mệnh thì không lập được, mệnh mà không có tính thì mệnh không còn. Hai thứ đi bên nhau nên phải tu cả hai, cả tâm lẫn thân, cả nguyên tinh lẫn nguyên thần, loại bỏ hết suy nghĩ vẩn vơ, để tâm hoàn toàn tĩnh thì thuốc tiên mới sinh. Chỉ khi cái mệnh tiên thiên hài hòa với cái đức hậu thiên mới đạt tới “ta và vạn vật hòa thành một thể”, cảnh tiên mà ông nhắm tới.

Đi ngược dòng sinh hóa: thuận là phàm, nghịch là tiên

Lão Tử dạy trở về, và Ngộ chân thiên biến lời dạy ấy thành một thao tác có hướng đi.

Lão Tử nhiều lần nói trở về cái nguyên sơ, trở về vô cực, phản phác quy chân. Ngộ chân thiên nhận ý ấy, thêm ảnh hưởng của Chu Dịch tham đồng khế, và phát huy thành tư tưởng đảo ngược: thuận theo đường sinh hóa thì là phàm, đi ngược lại thì là tiên. Kinh nói: có thuốc tiên là nhờ phỏng theo càn khôn; càn khôn vận hành nhờ ngũ hành; ngũ hành phát triển xuôi chiều là đạo hữu sinh hữu tử, ngũ hành phát triển ngược chiều là thuốc trường sinh bất diệt.

Chú sớ giải: trời đất là cha mẹ, ứng với hai khí âm dương rồi sinh ngũ hành, rồi sinh vạn vật; âm dương ngũ hành tạo ra con người. Âm dương giao nhau mới có sống có chết, dương sinh sự sống, âm sinh sự chết, một sống một chết là lẽ thường đạo. Thánh nhân không làm vậy mà đi ngược sự tiến hóa của âm dương: lấy càn khôn làm lò, nguyên khí đất trời làm thuốc, đưa cái hữu hình vào lại cái vô hình, trở về đạo, mà đạo là vô cực, thì làm gì có ngày tận. Tức là lấy ngay thân mình làm lò càn khôn để luyện, lấy Khảm điền Ly, khôi phục tinh khí, thì có thể cải lão hoàn đồng. Nếu lấy một dương của Càn hóa giải một âm trong Ly thì Ly thành Càn, Khảm thành Khôn, nguyên khí của trời đất được trả lại. Bước nhảy ấy phải dựa vào tâm; và trong quá trình phục hoàn lại phải nhờ tỳ thổ, vì tỳ thổ là gốc sinh khí huyết, càn khôn muốn trở về viên mãn phải dựa vào chân thổ, nên mới có câu “chỉ duyên bỉ thử hoài chân thổ”.

Hư tâm, vô dục và để mọi việc tự nhiên

Càng lên cao, kinh càng nói ít đến lửa mà nói nhiều đến việc buông.

Lão Tử nói thường không ham muốn mới thấy được cái diệu, còn ham muốn che khuất thì nhìn sự vật méo mó. Muốn trở về cái nguyên sơ, thuần chân thuần phác, phải gạt hết dục vọng thấp hèn. Ông cũng nhắc “chí hư cực, thủ tĩnh đốc”: đạt tới sự thanh khiết mênh mông như bầu thái hư, giữ tĩnh chuyên nhất, ngây thơ chân chất như đứa trẻ vừa ra đời. Việc đầu tiên là làm sạch tâm mình, gọi là luyện kỷ: kỷ là quẻ Ly, luyện kỷ là luyện tâm tu tính. Quá trình ấy gồm nhập tĩnh, tồn tư, tức niệm, điều thần, quán cảnh, nội thị, và quan trọng là không để tâm ý đổi thay lung tung mà chuyên tâm vào tích đức tu đạo, thì mới khỏi bị tà chướng làm phiền. Kinh có câu: “hư tâm thực phúc nghĩa câu thâm”. “Hư kỳ tâm, thực kỳ phúc” là ý của Lão Tử, nghĩa là làm tâm trong sạch đạm bạc.

Câu “nhân pháp địa, địa pháp thiên, thiên pháp đạo, đạo pháp tự nhiên” cũng được Ngộ chân thiên lấy làm nguyên tắc: tu nội đan phải phỏng theo tự nhiên, không được làm trái. Kinh nói chu thiên hỏa hầu phải theo quy luật tự nhiên, không giả dối, không nóng vội, như cây cỏ thu thì kết trái, xuân thì nảy chồi, và lửa tự nhiên mà đan chín, thì tự thoát ra linh thai. Cái thần diệu của nội đan nằm đúng ở chỗ tự nhiên, chân phác ấy.

Lò, lửa, thuốc và ba chữ “sống”

Cuối cùng, kinh trả hết lời về cho những thứ cụ thể: chiếc lò nào, ngọn lửa nào, thứ thuốc nào, và hái vào lúc nào.

Ngộ chân thiên coi thân người là cái lò. Huyệt nê hoàn ở đỉnh đầu là lò trời, khí hải ở hạ đan điền là lò đất; kim ô, ngọc thố chỉ thủy hỏa của thận và tâm, Ly Khảm làm thuốc để tôi luyện; nguyên tinh, nguyên khí đi theo chu thiên hỏa hầu để chuyển vận, nội luyện thành đan. Lửa dùng là chân hỏa, tức khí nguyên chân ở đan điền, là hào dương của Khảm phát động bay lên đắp đổi với Ly; kinh nói trong thân đã có lửa tự nhiên thì cần gì củi than. Thuốc là “chân chủng tử”, chính là nguyên tinh, nguyên khí, nguyên thần sinh ra từ hào dương của Khảm; khi ấy phải bắt lấy ngay đưa vào lò. Lò, lửa, thuốc đều phải “chân” chứ không phải “phàm tục”: một nghĩa là dựa vào tự thân, một nghĩa là trọng tiên thiên, tức giữ gìn nguyên tinh, nguyên khí, nguyên thần.

Tất cả đều phải “sống”. Hái thuốc vào giờ Tý, luyện thuốc bằng hỏa hầu, vận thuốc bằng hà xa, mà người là sinh linh sống nên phải “hoạt tý thời, hoạt hỏa hầu, hoạt hà xa”, nghĩa là theo sự đổi thay của âm dương trong tự nhiên lẫn trong thân từng người. Kinh có câu: “Diên ngộ quý sinh tu cấp thái”. Can quý thuộc thủy, tức chân thủy trong Khảm; “quý sinh” là lúc thiên quý nảy mầm, không giữ thì mất. Thuốc vừa sinh nơi Khảm thì phải lấy ngay, không sớm quá, không muộn quá: sớm thì thuốc chưa chín, muộn thì thuốc lại hóa thành tinh hậu thiên. Điều chỉnh hỏa hầu cũng lấy sự thịnh suy của âm dương làm thước, nhưng giờ chính Tý, chính Ngọ rạch ròi cũng phải để người ta tự đo theo chính mình: chọn chu kỳ vận chuyển hợp với bản thân, lúc khí dương dễ phát nhất thì mạch thăng, lúc dương đã lặng thì mạch giáng.

Kinh còn đề cao khí hóa, với hai thứ khí là nguyên khí tiên thiên và tinh khí hậu thiên, vừa giữ nguyên khí trong thân vừa điều động khí tự nhiên của vũ trụ để cân bằng âm dương trong thân. Một khí chân dương của Khảm được phát động, một khí chân hỏa của Càn chiếu xuống, hai khí tụ lại thì đan tự kết. Ngộ chân thiên không chỉ chú tâm thế giới tự nhiên mà còn trọng Phật giáo, tiếp thu phép tu tâm tính và thiền, nhiều tư tưởng thấm hơi nhà Phật. Có thể nói nó vừa có hệ lý luận sâu, vừa có chỉ dẫn khá cụ thể, nên xứng với vị trí một trong bốn bộ kinh nội đan.

Nguồn: Dương Lực, Kinh điển văn hóa 5000 năm Trung Hoa - Tập 4, thuật lại có lược bớt.

Kiều Oanh Trần

Tác giả

Kiều Oanh Trần

Nghiên cứu Mệnh lý - Tử vi - Tâm lý học

Theo dõi trên Facebook

Chia sẻ bài viết

FacebookXLinkedInZalo
Quay lại Khuyên Thiện