Bài tổng quan
Triện, Lệ, Khải, Thảo, Hành: năm thể chữ và dáng đứng, đi, chạy
Có người nói chữ Khải như người đứng, chữ Hành như người bước nhanh, chữ Thảo như người chạy. Năm thể chữ ấy là năm cách đi của cùng một nét bút, từ khi còn khắc trên mai rùa cho đến lúc bay trên giấy. Mỗi thể ra đời để gỡ một nỗi bất tiện nào...
Triện thư: từ vết khắc trên mai rùa đến nét tròn nhà Tần
Thư pháp Trung Quốc có năm thể: Triện, Lệ, Khải, Hành, Thảo. Mỗi thể đều có hoàn cảnh ra đời và dáng vẻ riêng, như năm cách đi của một con người từ lúc còn khắc đá cho đến khi chạy nhanh trên giấy.
Thể Triện gồm ba lớp. Lớp xa xưa nhất là chữ giáp cốt, xuất hiện vào khoảng thế kỷ 12 - 11 trước Công nguyên, và là cột mốc đánh dấu chữ viết Trung Quốc đi từ hình tượng sang trừu tượng. Chữ giáp cốt có nhiều chữ hình tượng, chữ nhỏ, nét bút mạnh. Kim văn, tức chữ trên đồ đồng, xoay tròn, trơn tru, vuông vắn, đẹp, tuy là chữ khắc nhưng nét nào cứng, nét nào mềm đều có.
Từ gốc ấy, mỗi bước đi của nét bút là một bước tách khỏi hình vẽ.
Lớp thứ hai là Đại Triện, gồm Trụ văn, Thạch cổ văn và Chung đỉnh văn. Đại Triện bắt nguồn từ thời Chu Tuyên Vương, xuất hiện trong thiên Sử Trứu, có gốc là chữ giáp cốt nhưng nét bút xoay tròn hơn, và là nền của Tiểu Triện đời Tần. Thạch cổ văn có dáng đường hoàng, rộng rãi, thoáng đạt, phong cách thuần phác cổ xưa, cương nhu đều có trong nét. Người xưa gọi Thạch cổ văn là tổ của ngàn năm Triện pháp. Đó là chữ khắc trên trống đá nước Tần, nét tròn và dừng ở đầu nét, làm nền cho chữ Triện của nước Tần. Chung đỉnh văn là cách gọi kim văn Thương Chu, biến đổi từ chữ giáp cốt; đầu chữ cuối chữ cân đối, âm điệu cô đọng, đôn hậu, phong thái mạnh mẽ, nét tròn đầy mà vuông vắn.
Lớp thứ ba là Tiểu Triện, chữ chuẩn của nhà Tần khi thống nhất sáu nước, bắt nguồn từ Đại Triện đời Chu. Chữ xoay tròn, cân bằng, không còn chữ tượng hình. Bia khắc đá ở núi Thái Sơn của Lý Tư là mẫu mực của Tiểu Triện.
Lệ thư: nét ngang thẳng thay nét tròn gập
Hình thức của lệ thư là dấu hiệu của bước chuyển từ cấu trúc bằng đường nét sang cấu trúc bằng chấm và nét họa của chữ Hán. Lệ thư do Trình Mạc thời Tần tạo ra, hoàn chỉnh vào thời Hán nên gọi là Hán Lệ. Nó bắt nguồn từ Triện thư, đặc điểm là vuông thẳng, thay những nét tròn gập của Triện bằng nét ngang thẳng vuông vắn. Dáng chữ nghiêng về dẹt bằng, nhiều nét mác, ít nét chấm, đơn giản, dễ viết, được coi là thể chữ chính thức. Sau khi Tần Lệ được sửa thành Hán Lệ, nó trở thành nguồn gốc của Khải thư. Người xưa nói gọn: lệ thư là đổi nét tròn, nét gập của Triện thành nét ngang, nét thẳng cho đơn giản và dễ.
Khải thư: dáng người đứng thẳng
Cùng một chữ, nét đứng nét ngang đã bước từ bia mộ đến công văn và máy in.
Khải thư hình thành từ thời Ngụy thuộc Tam Quốc, chia thành Hành Khải và Hành Thảo, thịnh hành thời Đông Tấn, lấy chữ Khải trên bia mộ (bia Đường, bia Ngụy) làm mẫu. Khải thư của Liễu Công Quyền và Âu Dương Tuân nổi tiếng. Thể chữ này thường dùng trong in ấn, công văn, có nét độc đáo ở cấu trúc chấm và nét họa của chữ Hán, dáng đoan trang, ngay ngắn. Có người nói: Khải như đứng, Hành như bước nhanh, Thảo như chạy. Chữ Khải như người đứng thẳng, chữ Hành như người đi nhanh, chữ Thảo như người chạy.
Khải thư do Chung Dao thời Tam Quốc sáng tạo, hoàn chỉnh vào thời Đường. Khải thư của Vương Hi Chi nổi bật những đường nét thanh thoát, tự nhiên, vuông vắn mà không gò bó, mở ra phong cách mới cho Khải. Trần Vân Quân, trong một bộ lịch sử thư pháp, nhận xét: chữ Khải của Chung Dao chưa bỏ hết sự gò bó của chữ lệ Hán, chữ Khải của Hi Chi đã tách khỏi thói quen của chữ lệ, đến Hiến Chi thì lại tách xa hơn.
Thảo thư: nét bút chạy
Thảo thư là lối viết nhanh, chia thành Chương Thảo, Tiểu Thảo và Đại Thảo. Chương Thảo là chữ thảo thời Hán, phát triển trên nền lệ thư. Tiểu Thảo bắt nguồn từ đời Đông Hán, thịnh hành vào đời Tấn, chữ viết đã hoàn toàn rời khỏi lệ. Đại Thảo bắt đầu từ Đông Hán, nở mạnh vào thời Đường, đặc điểm là trải dài, viết liền một mạch, đến cuồng thảo thì chạy theo cái đẹp mà mất cả ý nghĩa của ký hiệu chữ.
Hành thư: giữa dáng đứng và nét chạy
Hành thư bắt nguồn từ đời Đông Hán, nằm giữa Khải và Thảo. Nét bút trơn tru, phóng khoáng mà không phóng túng, vẫn có trật tự. Như một người xưa nói, Hành thư là thể chữ viết nhanh trực tiếp từ Khải thư, vừa giữ hình dáng, phong cách của Khải, vừa có sự giản dị uyển chuyển của Thảo.
Điển hình của Hành thư là bản "Lan đình tự" của Vương Hi Chi, nên mới được gọi là "Thiên hạ đệ nhất hành thư". Chữ của Vương Hiến Chi thì trải dài như sông nước, chỉ một nét bút đã nổi danh thiên hạ.
Tóm lại, Vương Hi Chi đã cải cách chữ Khải của Chung Dao, thừa kế chữ Thảo của họ Trương, và sáng lập Hành thư. Đó là ba công lao lớn của ông trong thư pháp.
Nguồn: Dương Lực, Kinh điển văn hóa 5000 năm Trung Hoa - Tập 4, thuật lại có lược bớt.
