Chuyển đến nội dung chính
Quay lại Khuyên Thiện

Bài tổng quan

Dịch tượng thấm vào chữ viết, múa, tranh và vườn cảnh

Đạo Học - Khuyên Thiện01/10/202617 phút đọc2 lượt đọc
Dịch tượng thấm vào chữ viết, múa, tranh và vườn cảnh

Một nét triện đi từ cổ phác sang mềm mại, một điệu múa lụa vừa cứng vừa dịu, một khu vườn Tô Châu giấu núi trong nước. Người xưa không cần ai giảng giải, vì tất cả đều nghe cùng một tiếng nói thầm của âm dương...


Dịch tượng và văn tự tượng hình

Tác giả mở đầu bằng nhận xét rằng một đặc điểm quan trọng của văn hóa Trung Quốc là văn hóa tượng, gọi là văn hóa tượng hình, tức văn hóa lấy tượng làm hình thức biểu đạt. Đó là văn hóa phù hiệu nguyên thủy phát triển qua nghìn năm thành hạt nhân của văn hóa tượng hình, có ảnh hưởng lớn đến sự phát triển của chính văn hóa ấy. Trước hết là mối quan hệ giữa dịch tượng và văn tự tượng hình.

Văn tự Trung Quốc bắt nguồn từ văn tự tượng hình; sự diễn biến của chữ Hán là đi dần từ văn tự biểu ý đến văn tự biểu âm, và giai đoạn biểu ý bao gồm cả thời kỳ dài của văn tự tượng hình. Nguồn gốc văn tự Trung Quốc rất sâu xa. Tương truyền chữ Hán do Thương Hiệt sáng tạo, nhưng không phải công của riêng một người. Qua các hiện vật khai quật, văn tự sớm nhất tìm thấy chỉ có thể là giáp cốt văn nhà Thương Chu và minh văn khắc trên đồ đồng; giáp cốt văn là văn tự tượng hình khá thuần thục. Sau đó là Thuyết văn giải tự thời Hậu Hán, sự tổng kết kiệt xuất của văn tự tượng hình, đã tổng hợp kim văn và làm nổi bật văn tự tượng hình.

Văn tự Trung Quốc đã diễn biến qua ít nhất ba nghìn năm. Theo khảo chứng của các nhà nghiên cứu chữ cổ, chữ Hán thời Vũ Đinh đã định hình khá rõ nét; bộ phận cấu thành của chữ thời Vũ Đinh đã xuất hiện và còn phát triển thêm. Có thể giả định văn tự đã bắt đầu từ năm trăm năm trước thời Vũ Đinh, nên rất có khả năng vào thời Thành Thang hoặc sớm hơn chữ Hán đã phát sinh. Tóm lại, đến thời Vũ Đinh chữ từ tượng hình đã định hình thành văn tự, và hơn ba nghìn năm sau Vũ Đinh, chữ Hán tiếp tục phát triển trên cơ sở ấy, chỉ biến đổi về số lượng mà không biến chất.

Thư pháp triện thể, gồm cả giáp cốt văn và kim văn, là đại biểu của văn tự tượng hình; triện thể là cơ sở của lệ thể, là chiếc cầu nối đưa từ tượng hình sang văn thể biểu ý và biểu âm. Văn tự tượng hình là sự phủ định của phủ định đối với văn tự đồ họa thời cổ; nó quá độ sang văn tự biểu ý với nguyên tắc xem tượng lấy ý. Vì vậy văn tự tượng hình là chiếc cầu nối giữa văn tự đồ họa với văn tự biểu ý. Nếu căn cứ theo giáp cốt văn đã thuần thục của nhà Ân Thương, văn tự tượng hình của Trung Quốc bắt đầu xuất hiện sớm nhất vào thời nhà Hạ. Sự ra đời của văn tự tượng hình là một cuộc cách mạng của văn tự đồ họa, có ý nghĩa mở ra một thời đại: thoát khỏi sự ràng buộc của văn tự đồ họa mà vẫn giữ được điều chủ yếu là xem tượng lấy ý, tạo tác dụng quan trọng đối với tính chất đặc sắc của sự hình thành văn tự Trung Quốc. Sự phát triển văn tự tượng hình là nội dung quan trọng của văn hóa tượng hình Trung Quốc, ảnh hưởng sâu sắc đến chính văn hóa ấy.

Dịch tượng trong nghệ thuật, năm nguyên lý thấm vào mọi bộ môn

Cùng một nét bút, nét cứng của cây gỗ khô gặp nét mềm của sợi lụa; người xưa không gọi tên điều ấy, nhưng ai cầm cọ cũng làm theo.

Sự phát triển của nghệ thuật Trung Quốc cũng chịu ảnh hưởng của văn hóa tượng hình cổ đại lấy dịch tượng làm hạt nhân, bao gồm rất nhiều bộ môn: mỹ thuật, điêu khắc, hội họa, vũ đạo, kiến trúc, đền miếu, chùa chiền, vườn cảnh, tất cả đều thấm nguyên lý dịch tượng. Tác giả chia ảnh hưởng ấy làm năm nguyên lý.

Dương cương âm nhu là linh hồn của dịch tượng

Dương cương âm nhu vừa là tinh túy của dịch lý vừa là linh hồn của dịch tượng, nên văn hóa tượng hình cổ đại Trung Quốc đều thấm âm vận linh diệu của dương cương âm nhu. Mọi bộ môn như âm nhạc, vũ đạo, thư pháp, mỹ thuật, thi ca, văn học, điêu khắc, hội họa, võ thuật đều thu lấy cái đẹp của dương cương âm nhu, có sự diệu kỳ của cương nhu giúp nhau. Dáng điệu của vũ đạo, ý cảnh của mỹ thuật, khí thế của điêu khắc, phong cách của thư pháp, thần vận của văn học đều là khí thế dương cương hòa hợp với vẻ ưu mỹ của âm nhu, đều thấm sâu tinh thần dương cương âm nhu của Chu Dịch. Văn hóa tượng hình chỉ khi thu được linh hồn của dương cương âm nhu mới vượt lên được sự ràng buộc của hình tượng và đạt tới sự thăng hoa ở trình độ ý tượng. Từ xưa đến nay hầu hết nghệ thuật tượng hình bất hủ đều giữ được vẻ đẹp cương kiện và sự thống nhất với chất âm nhu, như khí thế dương cương của tượng binh mã, hay vẻ đẹp âm nhu của bức họa múa trên vách ở Đôn Hoàng.

Về thư pháp, sức mạnh của triện văn, chất mềm mỏng sâu kín của thảo thư, sự dung hợp vuông tròn của kim văn đều là thể hiện của dương cương âm nhu. Tác phẩm nổi tiếng Lan đình tập tự của Vương Hy Chi thời Đông Tấn vận dụng bút pháp rồng bay phượng múa, là mẫu mực của lối viết cương nhu giúp nhau. Vũ đạo Trung Quốc ứng dụng phép dương cương âm nhu cũng là một thành tựu kiệt xuất: từ dáng điệu khí thế lớn lao của múa rồng, múa sư tử, múa kiếm cương kiện tráng mỹ, đến trang phục áo lông vũ nghê thường tha thướt và những bài múa lụa đầy vẻ cương nhu giúp nhau. Dương luật âm lữ của luật âm nhạc cổ điển cũng là cương lĩnh âm nhạc theo làn điệu cương nhu giúp nhau. Như bản nhạc tỳ bà cổ điển Thập diện mai phục thể hiện khí thế cường tráng của một đề tài lịch sử, bản Xuân giang hoa nguyệt dạ thể hiện âm nhu du dương, và bản Nhị tuyền ánh nguyệt vừa cương vừa nhu, đều là mẫu mực của nhạc khúc cổ điển cương nhu giúp nhau. Tóm lại, dương cương và âm nhu là hai mặt vừa thống nhất vừa đối lập, đối lập mà lại nương nhau thành nhau; trong cương có nhu, trong nhu có cương, tráng mỹ và ưu mỹ hòa làm một mới có cái đẹp hoàn hảo của nghệ thuật chân chính.

Hình tượng vuông tròn bao hàm nhau là chân lý của dịch tượng

Hình tượng vuông tròn bao nhau là quan niệm thiên văn học cổ trời tròn đất vuông, được dịch tượng thể hiện đầy đủ. Phương vị đồ sáu mươi bốn quẻ tiên thiên in trong Chu Dịch bản nghĩa là hình đồ hợp vuông tròn rất nổi tiếng: vòng tròn ngoài tượng trưng dương động là trời, hình vuông bên trong mang ý âm tĩnh là đất; nên vuông tròn bao nhau cũng là động tĩnh hài hòa, âm dương hợp nhất. Sự tương hợp vuông tròn ấy cũng tồn tại trong Hà Đồ Lạc Thư, như xem Hà vuông Lạc tròn: hai hình đều có dạng trong vuông có tròn, trong tròn có vuông. Thái cực đồ cũng cùng dạng hình tròn mà ý vuông.

Vòng vuông tròn của dịch tượng suốt bao thế kỷ ảnh hưởng sâu sắc đối với văn hóa tượng hình Trung Quốc, như trong kiến trúc cổ, nhờ đó kiến trúc truyền thống Trung Quốc mang phong cách dân tộc độc đáo. Trung Quốc có nhiều công trình kiến trúc cổ điển là kiệt tác về hình dáng vuông tròn bao nhau, như Di Hòa Viên, Bài Vân Điện, Thiên Đàn, Địa Đàn nổi tiếng ở Bắc Kinh; một tròn một vuông hô ứng nhau, là điển hình của phong cách Càn Khôn trời đất, trời tròn đất vuông trong kiến trúc. Về thư pháp cũng chịu ảnh hưởng của sự vuông tròn tương hợp, nổi bật nhất là minh văn trên đồ đồng thời Tây Chu như Mao Công đỉnh minh và Đại Khắc đỉnh minh, đều thuộc đại triện thể, theo kiểu vuông tròn tương hợp cổ phác hồn hậu, phản ánh quan niệm trời tròn đất vuông thời cổ.

Âm dương bao hợp là tinh túy của dịch tượng

Âm dương bao hợp nói lên ý nghĩa âm dương hợp đức trong Dịch, là tinh túy cốt lõi của dịch tượng. Thái cực đồ là tượng trưng của âm dương bao hợp, là hình đồ cô đọng cao độ nguyên lý âm dương của dịch lý, với triết lý sâu xa chứa bên trong. Thái cực đồ có gốc từ đồ khuông quách thủy hỏa của âm dương bao hợp Khảm Ly, là tiêu chí có hình tượng rõ nhất của dạng âm ôm dương, là hình ảnh thu nhỏ của âm dương nương gốc nhau, bồi bổ nhau và tiêu trưởng chuyển hóa cho nhau; mấy nghìn năm nay nguyên lý thái cực âm dương kết hợp đã ảnh hưởng sâu sắc đến văn hóa tượng hình Trung Quốc. Có một cảnh đẹp không tả hết là các khu vườn cảnh nhân tạo ở Tô Châu, gần sông dựa núi, được gọi là vườn cảnh Giang Nam đứng đầu thiên hạ, một kiệt tác thể hiện âm dương ôm ấp hòa hợp. Phong thủy truyền thống Trung Quốc rất coi trọng âm dương ôm hòa nhau, cho rằng như vậy núi ôm sông là nơi đất linh người kiệt.

Động tĩnh nương nhau là hạt nhân của dịch tượng

Động tĩnh nương nhau, tức động tĩnh gồm nhau như Dịch đã nói, là hạt nhân của dịch tượng: trong động có tĩnh, trong tĩnh có động, động mà sinh dương, tĩnh mà sinh âm, hàm ẩn mối quan hệ đối lập thống nhất giữa động và tĩnh. Nguyên lý này thấm sâu rộng trong văn hóa tượng hình, như các bộ môn mỹ thuật, hội họa, vũ đạo và khí công võ thuật. Tranh vẽ động vật và tranh thủy mặc Trung Quốc phần lớn đều có ý cảnh động tĩnh nương nhau, như bức Cửu phương cao đồ của Từ Bi Hồng: khi vẽ Cửu phương Cao gặp tuấn mã, nhấn thêm thần thái con ngựa đang nhảy lên như muốn phi, lúc cuồng hỉ, lúc đứng nghiêm, bức tranh đã thể hiện cả người lẫn ngựa đều truyền thần, đạt mức lấy tĩnh tả động, nên thành tác phẩm nổi tiếng truyền đời của Từ Bi Hồng. Trong nghệ thuật vũ đạo, phong cách động tĩnh nương nhau càng quan trọng, và nhiều tiết mục nổi danh hầu hết là kiệt tác về động tĩnh nương nhau, như vũ kịch Nghê thường vũ y vũ, với động tác tĩnh của tập thể vũ nữ và dáng động khi nàng Dương Quý Phi được nâng lên cao, xoay tít người, ngẩng đầu trước sân khấu giữa không gian yên tĩnh, khiến người xem như thấy tiên nữ giáng trần. Những động tác trong tĩnh ngoài động của khí công, lấy tĩnh nâng động, cũng là sự thể hiện trạng thái động tĩnh nương nhau cương nhu giúp nhau.

Hư thực hiện ẩn là đặc sắc của dịch tượng

Dù là hào âm dương của bát quái, điểm trắng đen của Hà Đồ Lạc Thư hay hình cá âm dương của thái cực đồ, tất cả đều có ẩn nghĩa sâu xa tượng trưng cho trạng thái hư và thực. Trạng thái hư thực hiện ẩn trong Hệ từ phản ánh quan điểm không gian thời gian không có giới hạn, vô biên, sâu xa không lường hết của Chu Dịch. Hư thực hiện ẩn là thể thống nhất của một đôi mâu thuẫn; trong văn hóa tượng hình nó tạo ảnh hưởng tiềm ẩn bên trong sự vật: hư thực trong văn học là thủ pháp, hư hư thực thực là chiến lược dùng trong binh pháp, lấy hư thay thực là thủ pháp trong hội họa. Bức Quắc quốc phu nhân du xuân đồ của Trương Huyên đời Đường lấy hư thay thực để dẫn người xem suy nghĩ sâu xa; bức Hàn Hy Tái dạ yến đồ của Cố Hoằng Trung dùng màu sắc đậm nhạt hư thực xen kẽ khiến ý cảnh đạt trình độ truyền thần.

Những hình ảnh ẩn hiện hư thực trong nghệ thuật vườn cảnh càng được dùng kỳ diệu, như vườn cảnh Dương Châu với đường lượn khúc mà thông thoáng, lúc hé mở lúc đóng kín, như dẫn người xem vào tiên cảnh; hay rừng Sư Tử ở Tô Châu với núi non bộ ẩn ẩn hiện hiện như mê cung. Thủ pháp hiện ẩn hư thực dùng trong văn học càng huyền diệu, như Đào hoa nguyên ký của nhà thơ lớn Đào Uyên Minh thời Tấn, chọn thủ pháp mô phỏng hư vô để biểu hiện sự chán ghét của tác giả đối với xã hội thực tại và hướng tới xã hội lý tưởng, đem lại cho người đọc cảm giác như thực như hư. Bài Ly tao của Khuất Nguyên thời Chiến Quốc lấy nét khúc triết hư thực để kết hợp chủ nghĩa hiện thực với chủ nghĩa lãng mạn, phản ánh sự công kích xã hội đen tối đương thời và sự theo đuổi một xã hội lý tưởng. Liêu trai chí dị của Bồ Tùng Linh là kiệt tác lấy hư tả thực, dùng mộng ảo, âm giới, tiên cảnh để vạch trần mặt đen tối của xã hội phong kiến, biểu dương những hình tượng nhân vật trong cuộc sống thực. Tóm lại, phong cách miêu tả âm dương, động tĩnh, cương nhu, vuông tròn giao hòa của dịch học đã đặt nền móng cho nghệ thuật hình tượng Trung Quốc, ảnh hưởng lớn đến sự hình thành đặc sắc nghệ thuật cổ đại Trung Quốc.

Văn hóa tượng hình, từ xem tượng lấy ý đến hình thần hợp nhất

Bức vẽ giống hệt mà không có hồn chỉ là cái xác; người xưa muốn vẽ cái hồn, mà cái hồn thì phải ẩn trong hình.

Về sự gợi mở của văn hóa tượng hình, điểm đầu tiên là xem tượng lấy ý trong Chu Dịch chính là linh hồn của ý tượng. Tượng hình thực ra không phải là hình tượng giản đơn mà là sự thăng hoa của hình tượng. Tinh túy của văn hóa tượng hình chủ yếu là xem tượng lấy ý, nên đó là một cuộc cách mạng đối với văn hóa phù hiệu. Đặc sắc của văn hóa tượng hình Trung Quốc là ý tượng rút ra từ bên trong hình tượng, đó là linh hồn sống của văn hóa hình tượng và cũng là khái niệm tượng hình ở tầng cao nhất. Dù là văn tự, mỹ thuật, hội họa, vũ đạo hay võ thuật, muốn đạt phát triển đột phá thì có thể đạt tới mức phi hình tượng; đó không phải là hỗn hợp hình tượng với ý tượng mà tựa như hình mà không phải hình, là sự dung hợp vừa là tượng vừa là ý. Nghĩa là bộ môn nghệ thuật nào nếu chỉ theo đuổi tượng hình đơn thuần thì không thể đạt cảnh giới truyền thần. Vì vậy giới hạn chân thật của văn hóa tượng hình là giống thần mà không phải hình tượng. Điệu vũ Tước chi linh của nhà vũ đạo Dương Lệ Bình là một điển hình của văn hóa tượng hình trong nghệ thuật vũ đạo.

Điểm thứ hai: văn hóa tượng hình là sự thăng hoa của văn hóa phù hiệu. Nó là sự phủ định của phủ định đối với văn hóa phù hiệu, kể cả văn hóa đồ tượng. Sự phát triển của văn hóa tượng hình thoát ra khỏi cánh cửa chắn của văn hóa phù hiệu, thu lấy linh hồn nằm trong văn hóa phù hiệu, nên là sự kế thừa và phát triển của văn hóa phù hiệu. Phép xem tượng lấy ý của Chu Dịch đã thúc đẩy tích cực sự phát triển văn hóa tượng hình cổ đại Trung Quốc.

Thần tự là tinh túy của văn hóa tượng hình

Điểm thứ ba: thần tự là tinh túy của văn hóa tượng hình. Thần tự là giống như thần, chỉ sự truyền thần, đúng như Hệ từ của Chu Dịch viết:

Cùng thần tri hóa, đức chi thịnh dã.

Thần tự là cách nói đối với hình tự, giống như hình. Từ thần tự có nguồn gốc xa xưa: học người xưa như vẽ truyền thần, có người được cái hình, có người được cái thần; được cái thần thì gọi là thần tự, dẫu hình không giống hẳn mà vẫn tự nhiên giống. Thần tự phát triển thành thứ siêu việt đối với hình tự, như câu nói vị còn nằm ngoài vị chua vị mặn. Thời Tấn, Vương Bật đề ra đắc ý vong tượng trong Chu Dịch lược lệ, phần minh tượng, đã đưa tầng thứ nghệ thuật tượng hình lên cao nhất, nhấn mạnh ý cảnh chân chính là hoàn toàn thoát khỏi ranh giới của tượng, là sự thể hiện của thần tự.

Hình tự là đặc trưng của văn hóa tượng hình

Hình tự là đặc trưng quan trọng, là hạt nhân của văn hóa tượng hình. Gọi là hình tự là chỉ việc khắc họa hình tượng sự vật đạt đến sự phù hợp cao độ, đạt đến mức liên hệ giống nhau thật kỳ diệu. Nhan thị gia huấn, thiên Văn chương, viết rằng thơ của Hà Tốn thật tinh xảo, lời nhiều chỗ hình tựa đẹp mà ý hay. Hình trong hình tự là hình trong ý, hình của ý sâu xa, hơn nữa là hình tượng ở tầng cao, không phải hình tượng bộc lộ hết không còn gì, mà là thủ pháp muốn lộ mà không lộ, trong lộ có tàng ẩn; dù hội họa hay văn học nghệ thuật hầu như đều không có ngoại lệ.

Hình và thần hợp nhất là hạt nhân của văn hóa tượng hình

Hình tự và thần tự là hai phương diện của một sự vật, hai thứ ấy là sự thống nhất của đối lập. Hình tự có giá trị đối với việc khắc họa diện mạo bên ngoài, còn thần tự được coi trọng vì biểu thị nội hàm. Đặc trưng của văn hóa tượng hình là hình thần đầy đủ mà giá trị ở thần tự, đúng như Tô Thức nói rằng bàn về tranh mà chỉ lấy hình tựa thì cái thấy ngang với trẻ nhỏ, làm thơ mà cứ phải theo đúng đề thơ thì chắc chắn chẳng phải người hiểu thơ. Ý cảnh cao nhất của hình tự uyển chuyển như hoa sen nhô lên mặt nước, như Lý Bạch ca ngợi thơ của Thái thú họ Vi, viết rằng xem bài ông làm ở Kinh Sơn, cảnh sông bọc quanh cũng phải đổi sắc; nước trong nở ra hoa sen, thiên nhiên bỏ hết sự tô điểm. Có sự dung hợp của thần tự và hình tự mới sinh ra vị, vị tức ý vị, là sức cảm nhận của nghệ thuật; vị càng dài thì sức cảm nhận càng lớn. Tóm lại, hình thần hợp nhất là hạt nhân của văn hóa tượng hình, điểm quan trọng ở đây là nhấn mạnh sự thống nhất giữa nội dung và hình thức, sự dung hợp giữa tư tưởng và nghệ thuật.

Tổng quát lại, Chu Dịch có ảnh hưởng lớn lao đối với sự phát triển của văn hóa hình tượng. Văn hóa dịch hình của Chu Dịch đã ảnh hưởng sâu sắc đến tư duy hình tượng, nghệ thuật tượng hình và văn tự tượng hình của Trung Quốc, và cũng từ đó có tác dụng quan trọng đối với việc hình thành đặc sắc của văn hóa truyền thống Trung Quốc.

Nguồn: Kinh điển văn hóa 5000 năm Trung Hoa - Tập 1 (Dương Lực), thuật lại có lược bớt.

Kiều Oanh Trần

Tác giả

Kiều Oanh Trần

Nghiên cứu Mệnh lý - Tử vi - Tâm lý học

Theo dõi trên Facebook

Chia sẻ bài viết

FacebookXLinkedInZalo
Quay lại Khuyên Thiện