Bài tổng quan
Võ Tắc Thiên, Từ Hy và nền văn hóa Viêm Hoàng thuở chưa có chữ
Có người đàn bà mười bốn tuổi vào cung làm tài nhân, và mười lăm năm cầm ấn cả một triều đại. Có người khác nắm quyền bốn mươi tám năm giữa lúc đất nước bị xẻ từng mảng. Còn xa hơn nữa, trước khi ai đó biết ghi chép, đã có những bàn tay dệt vải và làm ra chiếc xe luôn chỉ về một hướng...
Võ Tắc Thiên: từ tài nhân mười bốn tuổi đến ngai vàng
Trong xã hội mà đàn bà không được đứng cạnh đàn ông ở triều đường, có một người bước thẳng lên ngai và ngồi đó mười lăm năm.
Từng bước trở thành hoàng hậu
Võ Tắc Thiên vào cung năm mười bốn tuổi, lúc đầu là tài nhân, sau được phong Chiêu nghi. Khi Đường Thái Tông lâm bệnh nặng, bà nhìn xa hơn những cung nhân khác và sớm tạo mối quan hệ riêng với thái tử Lý Trị. Nhờ đó, dù sau khi vua mất bà phải vào chùa làm ni cô, khi Lý Trị lên ngôi bà vẫn được đón về cung. Trở lại, bà lợi dụng mâu thuẫn giữa Vương hoàng hậu và Tiêu thục phi, lấy lòng hoàng hậu trước để diệt thục phi, rồi quay sang chĩa mũi vào chính hoàng hậu.
Ngôi hoàng hậu không phải nhan sắc là đủ, muốn phế cũng không dễ. Sách kể rằng khi hết cách bà đã tự tay bóp chết đứa con gái mới sinh để đổ tội cho hoàng hậu. Ngay cả hổ dữ cũng không ăn thịt con, mà bà còn ác hơn thế. Bà còn gặp may vì đại thần Trưởng Tôn Vô Kỵ, người theo phe hoàng hậu, vốn đang bị một phe khác tìm cách hạ, và việc ông ta bị lật đổ giúp bà rất nhiều.
Buông rèm nghe chính sự
Làm hoàng hậu xong, tham vọng của bà lớn dần. Bà can thiệp vào việc triều chính, nuôi một lực lượng thân tín đông đảo, loại người đối lập, thậm chí cùng vua bàn việc triều đình. Cao Tông nhận ra dã tâm ấy khi đã quá muộn, mạng lưới của bà quá vững để phá. Bà cho lập "Tính thị lục", đặt họ Võ đứng đầu để đề bạt người trong họ, dần dần nuốt quyền của vua. Thái tử Lý Hoằng, con ruột bà, bị bà hại chết, còn người kế vị là Lý Hiền cũng bị mẹ ép đến chỗ tự sát. Sau khi Cao Tông mất, không còn ai nối ngôi, bà công khai lên làm hoàng đế, nữ hoàng đầu tiên chính thức của Trung Quốc, rồi áp dụng những biện pháp cứng rắn nhất để dọn đường.
Đại Chu không giữ được, Đại Đường trở lại
Bà không chỉ muốn tự mình ngồi trên ngai mà còn muốn thiên hạ mãi mãi thuộc họ Võ. Nhưng họ Võ chỉ là ngoại thích, trong khi truyền thống phong kiến đòi chính tông, và thế lực cũ đã bám rễ quá sâu. Cuối cùng thừa tướng Trương Giản Chi và thái tử Lý Hiển, chính là con ruột bà, làm chính biến buộc bà giao ấn. Mười lăm năm bà xưng đế kết thúc, còn thực quyền của bà kéo dài khoảng năm mươi năm.
Cái để lại cho đời sau
Sách nhận xét bà vừa là nhà mưu lược vừa là kẻ mưu mô, nhưng chắc chắn là một nhà hoạt động chính trị kiệt xuất. Khi cầm quyền bà cải cách kinh tế và chính trị, ổn định xã hội, phát triển sản xuất. Bà làm những việc chưa ai dám: để người đàn bà làm hoàng đế, bỏ chế độ hậu phi bắt vua cũng phải theo một vợ một chồng, đề cao địa vị phụ nữ giữa xã hội trọng nam khinh nữ. Bà lập cơ quan "khốc lại" như bộ máy kiểm tra kỷ luật sớm nhất để giám sát quan, và phá lệ dùng người tài, như đưa Địch Nhân Kiệt lên thừa tướng, người sau trở thành lão thần trung lương của bà. Nhờ tỉ mỉ và chu đáo trong từng việc nhỏ, bà đưa đất nước vào thời ổn định phồn vinh, giữ được nền thịnh trị Trinh Quán và đặt nền cho thời Khai Nguyên rực rỡ.
Từ Hy thái hậu: người nắm quyền trong lúc đất nước suy sụp
Cùng là một người đàn bà nắm quyền, nhưng thời thế và cách dùng quyền đã đưa Từ Hy tới một kết cục khác hẳn.
Cuộc chính biến Nhiệt Hà
Từ Hy sinh ra trong một gia đình quan lại nhỏ, từ bé đã có hoài bão lạ thường, thích đọc sách cổ và hâm mộ những hoàng đế, quyền thần. Mười bảy tuổi bà nhập cung, nhờ sinh hoàng tử mà lên quý phi, và từ đó luôn nhìn về ngôi cao nhất. Năm 1860, khi liên quân Anh Pháp đánh vào, vua Hàm Phong bỏ trốn đến Nhiệt Hà, để em là Dịch Hân ở lại kinh thành nghị hòa. Vua mất ở đó, con nối ngôi mới sáu tuổi, Từ Hy thành hoàng thái hậu. Hàm Phong biết bà có dã tâm nên trước khi chết giao Túc Thuận cùng bảy đại thần làm "cố mệnh" để kìm bà. Bà nắm được mâu thuẫn giữa phe Dịch Hân ở kinh thành và phe Túc Thuận ở Nhiệt Hà, dùng thái giám An Đức Hải mang thư liên kết với Dịch Hân, cùng mua chuộc Vinh Lộc và Tăng Quốc Phiên. Khi linh cữu về kinh, Dịch Hân bắt gọn tám đại thần và Từ Hy đạt mục đích.
Dùng kẻ thù rồi bỏ kẻ thù
Sau khi cầm quyền, bà không vội trừ đối thủ như nhiều kẻ khác mà lợi dụng họ để củng cố mình, chờ đến lúc chín muồi mới ra tay. Đông thái hậu vốn chính trực, mềm yếu, không ham quyền, bà lừa lấy lòng tin, đốt bản di chiếu của vua Hàm Phong nói về việc xử tội bà, không lâu sau Từ An thái hậu chết một cách bí ẩn. Với Dịch Hân, bà đổ trách nhiệm ký hiệp ước Trung Pháp lên đầu ông rồi gạt đi. Bà trở thành người có bàn tay sắt, thực sự ngang hàng nữ hoàng.
Bóp nghẹt duy tân
Khi vua Quang Tự tự nắm chính, bà buộc phải rút khỏi màn rèm dưới sức ép dư luận nhưng vẫn nắm mọi việc lớn, ngầm cùng quan địa phương phế bỏ người ủng hộ vua. Sau hiệp ước Mã Quan nhục nhã, hơn một nghìn ba trăm cử nhân do Khang Hữu Vi dẫn đầu dâng thư đòi biến pháp, vua Quang Tự được Lương Khải Siêu, Khang Hữu Vi, Đàm Tự Đồng ủng hộ tiến hành duy tân. Bà lúc cứng lúc mềm, ngoài mặt đồng ý mà ngầm phá. Khi bà sắp ra tay, vua gửi hy vọng vào Viên Thế Khải nhưng người này bán đứng vua. Bà lại lên nắm quyền công khai, giết sáu người quân tử đứng đầu là Đàm Tự Đồng, giam lỏng Quang Tự và dập tắt cuộc duy tân.
Hai mặt ba dao và những hiệp ước bán nước
Năm 1900 liên quân tám nước đánh vào, bà không kháng chiến mà chạy về Tây An cùng Quang Tự, trước khi đi cho ném Trân Phi xuống giếng. Với Nghĩa Hòa Đoàn, bà lúc đầu giả vờ ủng hộ để lợi dụng, khi phong trào lan mạnh thì quay sang phối hợp với liên quân đàn áp. Năm 1901 để giữ ngôi bà ký hiệp ước Tân Sửu nhục nhã. Trước đó các hiệp ước Trung Pháp năm 1884 và Mã Quan năm 1895 đã khiến Trung Quốc mất phần lớn chủ quyền, phải bồi thường, cắt đất, để nước ngoài giữ hải quan, đẩy đất nước sang cục diện nửa phong kiến, nửa thực dân.
Đời sống riêng của bà xa xỉ, dùng quân phí hải quân xây Di Hòa Viên. Trước khi mất, bà vội lập Phổ Nghi, khi ấy mới ba tuổi, làm người kế vị, rồi Quang Tự đột ngột qua đời. Ngày hôm sau chính bà cũng mất. Sách coi bà là ví dụ tiêu biểu của tham vọng quyền lực điên cuồng, nắm quyền bốn mươi tám năm mà đại diện cho một thế lực thối nát, và xếp mưu lược của bà vào hàng cặn bã của lịch sử mưu lược Trung Quốc.
Điều để suy ngẫm về những người đàn bà trong cung
Ở nơi mà số phận một người có thể đổi trong một đêm, không lạ khi có người tìm đường đi lên bằng mọi giá.
Chế độ hậu phi là sản phẩm của xã hội phong kiến. Ba cung sáu viện bảy mươi hai phi cho thấy một thứ thang bậc nghiêm ngặt. Phần lớn thiếu nữ vào cung sống cô quạnh, tuổi xuân chôn vùi, có người đến già chưa một lần được gặp vua, có người chết theo vua hoặc bị cạo đầu làm ni cô. Ngay cả hoàng hậu, quý phi cũng mong manh, có thể thất sủng bất cứ lúc nào hoặc bị hy sinh trong các cuộc chính biến. Chính cái số phận ấy khiến một số người quyết tìm đường thoát bằng cách nắm lấy địa vị tối cao.
Sách rút ra năm đặc điểm. Phần đông họ xuất thân quý tộc, đọc sách hiểu lễ, và mang trong mình quyền dục không thua đàn ông, như La thị hay Võ Mỵ vui vẻ vào cung khi cung nữ khác khóc lóc. Họ có lợi thế bàn chuyện chính trị bên gối. Khi lên ngôi vị cao họ nắm được sớm nhất mâu thuẫn trong cung và liên minh với ngoại thích. Khí chất của phụ nữ khiến mưu lược họ kín kẽ như chiếc áo trời không đường may. Và vì phải giành quyền giữa xã hội nam quyền, nhiều người buộc phải làm những chuyện bất nhân, như Võ Tắc Thiên tự tay bóp chết con gái mới sinh hay hại con trai ruột.
Những nhân vật như Lữ Hậu, Võ Hậu, Từ Hy đều để lại ảnh hưởng nhất định, có người gây ra tổn thất và nỗi nhục lớn như Từ Hy. Người viết cho rằng việc hậu phi can thiệp triều chính luôn mang mầm họa, có thể chôn vùi cả quốc gia. Tìm hiểu họ, vì thế, cũng là cách để học những tấm gương trí tuệ và rút ra bài học cho bản thân.
Viêm Hoàng: nền văn hóa rực rỡ khi chưa có chữ viết
Từ những nữ hoàng của cung điện, câu chuyện lùi lại bốn nghìn đến sáu nghìn năm, tới thời chưa ai biết viết mà người ta đã dệt vải, đúc đồng và làm ra xe chỉ nam.
Một trong bốn nền văn hóa lớn của thế giới cổ
Văn hóa Viêm Hoàng nằm ở đầu dòng chảy văn hóa Hoa Hạ, kéo dài từ thời Phục Hy đến trước nhà Hạ, gồm các thời Phục Hy, Thần Nông, Hoàng Đế, Nghiêu, Thuấn, Vũ, khi xã hội còn là công xã nguyên thủy theo dòng cha. Nó tương ứng với những nền văn hóa khảo cổ như Ngưỡng Thiều, Mã Gia Diêu, Long Sơn, Tề Gia, và thuộc thời kỳ đồ đá mới, chưa có chữ viết. Tác giả xếp nó ngang hàng với văn hóa Ai Cập, Ấn Độ và Hy Lạp, và cho rằng hạ thấp nó là rơi vào chủ nghĩa hư vô dân tộc. Trong giai đoạn này, thị tộc tiến tới liên minh bộ lạc, bắt đầu trao đổi hàng hóa, xuất hiện chế độ tư hữu và sự phân hóa giai cấp.
Những hiện vật được nhắc là đồ gốm màu và dụng cụ đá ở Bán Pha, Tây An, thuộc văn hóa Ngưỡng Thiều, sánh ngang gốm màu Ai Cập cùng thời. Ở văn hóa Đại Ôn Khẩu đã có khung dệt. Truyện kể thời Hoàng Đế đánh Xi Vưu có xe chỉ nam, còn Lạc thư Hà đồ cũng thuộc giai đoạn này. Đến thời Nghiêu, Thuấn, Vũ, từ khoảng năm 2333 đến 2176 trước Công nguyên, các đồ đồng đen thuộc văn hóa Nhị Lý Đầu và những con dao ngọc đã xếp vào hàng đầu của nền văn minh nhân loại.
Viêm Đế, Hoàng Đế và trận Trác Lộc
Truyền thuyết kể Viêm Đế và Hoàng Đế là hai anh em cùng cha khác mẹ, mỗi người giữ một nửa lưu vực Hoàng Hà. Viêm Đế họ Khương, lấy lửa làm đức, vì đó là thời sùng bái Mặt Trời và lửa là tinh hoa của Mặt Trời, cũng là biểu tượng của lối làm nương đốt rẫy. Theo sách, Viêm Đế chính là Thần Nông, người khai sáng nghề nông và hái cỏ thuốc. Truyện Thần Nông nếm trăm loại cỏ đánh dấu bước mở đầu của nông nghiệp lẫn y dược Trung Hoa, và điều đặc biệt của thời đại này là hai lĩnh vực đó được coi trọng ngang nhau.
Hoàng Đế, tên Hiên Viên, là vị vua hùng tài đại lược đầu tiên. Ông từng giao chiến với Viêm Đế ở Bản Tuyền rồi liên minh, sau đó đánh bại thủ lĩnh Xi Vưu ở bãi Trác Lộc. Sách kể Xi Vưu làm sương mù dày ba ngày khiến quân lạc hướng, Hoàng Đế bèn sai chế xe chỉ nam để nhận ra bốn phương rồi truy đuổi. Tác giả cho rằng dù là truyền thuyết, cuộc chiến ấy phản ánh việc thống nhất Trung Nguyên phải trải qua chiến tranh ác liệt. Thời Hoàng Đế được xem là thời văn minh đầu tiên với nghề trồng dâu nuôi tằm, chữ viết, thuyền xe, âm nhạc, y học, lịch toán và thiên văn cùng tiến. Kinh Dịch cũng ghi việc đẽo gỗ làm thuyền, thuần hóa trâu ngựa, dựng cung thất thay cho hang, đổi cách chôn cất và thay dây thắt nút bằng sách vở.
Khí chất tôi luyện bên dòng sông vàng
Tác giả cho rằng khí chất của dân tộc Viêm Hoàng được rèn bởi chính vùng đất họ sống. Đó là những dải đất vàng thiếu màu mỡ, lại thêm dòng Hoàng Hà thỉnh thoảng dâng nước cuốn sạch nhà cửa và hoa màu. Dù ngoan cường đến đâu, con người cũng khó có thể cứ hết lần này đến lần khác dựng lại từ đầu, nhưng chính điều kiện gian khổ ấy đã mài dũa ý chí sống bền bỉ. Vì vậy những truyện như Nữ Oa vá trời, Hậu Nghệ bắn mặt trời hay Đại Vũ trị thủy dù là thần thoại vẫn cho thấy rõ tinh thần vươn lên không chịu khuất phục. Câu nói trong Chu Dịch rằng trời vận hành mạnh mẽ nên người quân tử tự cường không nghỉ được tác giả xem là lời tổng kết đẹp nhất cho phong thái ấy, cũng là tấm gương cho con cháu nhiều đời sau.
Đứng giữa những nữ hoàng nắm quyền bằng thủ đoạn và một nền văn hóa lập thân bằng cày bừa, thuốc thảo và những con thuyền đẽo từ gỗ, người đọc dễ thấy hai hình ảnh trái ngược của quyền lực: một bên là thứ quyền lực xoay quanh ngai vàng, một bên là sức mạnh của những con người cùng nhau thắng thiên nhiên để mà tồn tại.
Nguồn: Kinh điển văn hóa 5000 năm Trung Hoa - Tập 1 (Dương Lực), thuật lại có lược bớt.
