Bài tổng quan
Bốn chữ lặng, dung, nhẫn, thôi và lẽ giữ mình khiêm nhường
Có bốn chữ ngắn đến nỗi một hơi thở cũng đọc xong, mà cổ nhân hứa rằng giữ được chúng thì nghìn tai muôn họa tiêu tan, chủ nợ và oan gia cũng hết. Nhưng họ cũng dặn rằng thuốc hay đắng miệng và lời thật ngang tai, nên người muốn nghe cho trọn thì phải học…
Thuốc hay đắng miệng, lời thật ngang tai
Cổ nhân coi thuốc và lời nói thật là hai thứ khó nuốt mà có ích nhất. Tiêu Hà nói gọn:
Lương dược khổ khẩu, lợi ư bệnh.
Trung ngôn nghịch nhĩ, lợi ư hành.
Thuốc hay thì đắng miệng mà mau lành bệnh, lời thật thì ngang tai mà lợi cho việc làm. Từ câu ấy, người xưa rút ra nhiều lời răn cho người muốn sửa mình. Một đoạn nói về cái phúc mà nhiều người đi tìm sai chỗ:
Tác phúc bất như tị tội, tị họa bất như tỉnh phi.
Vạn sự tùng khoan phúc tự hậu.
Thành nhân bất tự tại, tự tại bất thành nhân.
Làm phúc chẳng bằng tránh tội, tránh họa chẳng bằng bớt điều sai. Muôn việc theo lối khoan hòa thì phúc tự nhiên dày. Muốn nên người thì đừng nhàn tản, hễ nhàn tản thì không nên người. Tử Cống, học trò Khổng Tử, nêu ba điều thứ, tức ba chỗ người quân tử phải suy lòng mình mà xử:
Quân tử hữu tam thứ: Hữu quân bất năng sự, hữu nhân nhi cầu kỳ sử, phi thứ dã.
Hữu thân bất năng báo, hữu tử nhi cầu kỳ hiếu, phi thứ dã.
Hữu huynh bất năng kính, hữu đệ nhi cầu kỳ thính lệnh, phi thứ dã.
Vi sĩ giả minh thử tam thứ, tắc khả đoan thân hỹ.
Có vua mà không phụng sự được, lại đòi người dưới phải vâng sai thì không phải thứ. Có cha mẹ mà không đền đáp được, lại đòi con mình có hiếu thì không phải thứ. Có anh mà không kính, lại đòi em phải nghe lệnh thì không phải thứ. Kẻ sĩ hiểu rõ ba điều thứ ấy thì có thể đoan chính bản thân. Chữ thứ ở đây là một đức quan trọng của quân tử, nghĩa là việc gì mình không muốn thì đừng làm cho người, suy lòng mình mà biết lòng người.
Đừng cậy mình khôn, đừng khoe công
Cái tật khó chữa nhất của người có tài là tưởng tài ấy đủ để khỏi cần ai.
Lão Tử nêu bốn cái thói của kẻ tự cho mình hay:
Tự trí giả bất minh. Tự kiến giả bất chương.
Tự phạt giả vô công. Tự căng giả bất trường.
Cho mình khôn thì không sáng, chỉ thấy mình thì không rạng, khoe công thì không nên công, kiêu căng thì không bền. Một câu ngắn bàn về rượu và tiền, hai chỗ lộ thật tính người:
Tửu trung bất ngữ chân quân tử.
Tài thượng phân minh đại trượng phu.
Lúc say mà không nói càn thì mới là quân tử thật, chuyện tiền bạc mà rành mạch thì mới đáng mặt đại trượng phu. Lưu Hội thì chỉ ra thứ nên tích trữ:
Tích cốc bạch giả bất ưu cơ hàn.
Tích đạo đức giả bất úy tà hung.
Trữ thóc lụa thì khỏi lo đói rét, trữ đạo đức thì khỏi sợ kẻ tà hung. Văn Công nhắc việc xét người trước hết phải xét mình:
Dục lượng tha nhân tiên tu tự lượng.
Thương nhân chi ngữ hoàn thị tự thương.
Hàm huyết phún nhân tiên ô tự khẩu.
Muốn đo lường người khác thì phải đo lường mình trước, lời làm tổn thương người cũng là tự làm tổn thương mình, ngậm máu phun người thì miệng mình dơ trước. Lão Tử có ba câu đáng suy ngẫm:
Đại biện nhược nột, đại xảo nhược chuyết.
Trừng tâm thanh tịnh khả dĩ an thần.
Sàm khẩu đa ngôn tự vong kỳ thân.
Người nói giỏi nhất lại như nói lắp, người khéo nhất lại như vụng. Lắng lòng cho trong sạch thì giữ được thần yên, còn hay nói gièm nói nhiều thì tự làm mất thân mình.
Giữ đạo giữa nghèo khó và những điều nhỏ
Ai cũng nói giữ đạo, nhưng giữ đạo khi nghèo khó và khi chẳng ai nhìn mới là phép thử thật.
Lương nông bất vị thủy hạn bất canh,
Lương cổ bất vị chiết duyệt bất thị.
Sĩ quân tử bất vị bần cùng đãi hồ đạo thể.
Tuân Tử nói người làm ruộng giỏi không vì nước lụt hay hạn hán mà bỏ cày cấy, người buôn giỏi không vì bị giảm giá mà thôi họp chợ, và kẻ sĩ quân tử không vì nghèo khổ mà lơ là đạo học. Mạnh Tử thêm một câu về cái giá của việc chăm chú nuôi cái nhỏ:
Ẩm thực chi nhân tắc nhân tiện chi hỹ, vị kỳ dưỡng tiểu dĩ thất đại dã.
Người chỉ biết ăn uống thì bị người khinh, vì nuôi cái nhỏ mà mất cái lớn. Một câu cổ ngữ gọn gàng nữa:
Phàm hí vô ích, duy cần hữu công.
Chơi nhảm thì vô ích, chỉ có siêng năng mới nên công. Thái Công dặn một điều tinh tế về việc giữ mình khỏi bị nghi ngờ:
Qua điền bất nạp lý, lý hạ bất chỉnh quan.
Đi qua ruộng dưa thì đừng cúi xuống sửa giày, đứng dưới gốc mận thì đừng đưa tay chỉnh mũ, kẻo bị ngờ là hái trộm. Mạnh Tử thì dạy người ta tìm nguyên nhân nơi mình khi việc không thành:
Ái nhân bất thân, phản kỳ nhân.
Trị nhân bất trị, phản kỳ trí.
Lễ nhân bất đáp, phản kỳ kính.
Yêu người mà người không thân thì phải xét lại lòng nhân của mình, trị người mà người không theo thì xét lại trí của mình, lấy lễ đối người mà người không đáp lại thì xét lại lòng kính của mình. Cảnh Hạnh Lục gom thành một chuỗi những điều nên tránh và nên giữ:
Tự mãn giả bại. Tự căng giả ngu. Tự tặc giả nhẫn.
Nhân phi hiền mạc giao. Vật phi nghĩa bất thủ. Phẫn phi thiện mạc cử. Sự phi thị mạc thuyết.
Cẩn tắc vô ưu, nhẫn tắc vô nhục. Tĩnh tắc thường an, kiệm tắc thường túc.
Tự mãn thì hỏng, tự khoe thì ngu, tự hại mình là tàn nhẫn. Không phải người hiền thì đừng kết bạn, của không phải nghĩa thì đừng lấy, giận không vì lẽ phải thì đừng nổi, việc không đúng thì đừng nói. Cẩn thận thì khỏi lo, nhẫn nhịn thì khỏi nhục, lặng lẽ thì thường yên, tiết kiệm thì thường đủ. Khúc Lễ, tên một thiên trong Lễ Ký, nêu bốn điều đừng để thái quá:
Ngạo bất khả trưởng, dục bất khả túng.
Chí bất khả mãn, lạc bất khả cực.
Thói ngạo đừng nuôi cho lớn, lòng dục đừng buông thả, chí đừng cho là đã đủ, niềm vui đừng cho tột cùng. Cảnh Hạnh Lục còn nói rõ chuyện nhàn và nhọc:
Tâm khả dật, hình bất khả bất lao.
Đạo khả lạc, thân bất khả bất ưu.
Hình bất lao tắc chí nọa dị tế.
Thân bất ưu tắc hoang dâm bất định.
Cố dật sinh ư lao nhi thường thái, lạc sinh ư ưu nhi vô yếm, dật lạc giả lao kỳ khả vong hồ?
Lòng có thể thư thả nhưng thân thể không thể không nhọc, đạo có thể vui nhưng thân không thể không lo. Thân không nhọc thì chí lười dễ bị che lấp, thân không lo thì dễ sa vào hoang dâm buông tuồng. Cho nên thư thả sinh từ vất vả mới thường yên ổn, vui sinh từ lo toan mới không chán, người đang thảnh thơi vui vẻ sao có thể quên lúc nhọc nhằn?
Giữ lòng thẳng, giữ miệng kín
Cửa nhà chỉ mở cho khách hợp tâm, và tâm ngay thì khách đến cũng ngay.
Tâm vô siểm khúc khả dữ tích lịch đồng cư.
Nhĩ bất văn nhân chi phi. Mục bất thị nhân chi đoản. Khẩu bất ngôn nhân chi quá. Thứ cơ quân tử.
Môn nội hữu quân tử, môn ngoại quân tử chí.
Môn nội hữu tiểu nhân, môn ngoại tiểu nhân chí.
Lòng không nịnh hót quanh co thì có thể ở chung với sấm sét. Tai không nghe điều trái của người, mắt không nhìn chỗ kém của người, miệng không nói lỗi của người, thì hầu như là quân tử. Trong nhà có quân tử thì ngoài cửa quân tử tìm đến, trong nhà có tiểu nhân thì ngoài cửa tiểu nhân tìm đến. Thái Công có một câu rất ngắn:
Nhất hạnh hữu thất, bách hạnh câu khuynh.
Một nết hư thì trăm nết đều đổ. Tuân Tử nêu hai điều ngắn và cô độc nhất đời người:
Đoản mạc đoản ư cẩu đắc, cô mạc cô ư tự thị.
Không gì ngắn ngủi bằng của được một cách dễ dãi, không gì cô độc bằng kẻ chỉ cậy vào mình. Cẩu đắc chỉ những thứ có được mà chẳng mất công khó nhọc. Lão Tử thì dùng hình ảnh tấm gương:
Giám minh giả trần ai bất năng ô. Thần thanh giả thị dục bất năng giao.
Gương sáng thì bụi bặm không làm bẩn được, thần trong thì lòng ham muốn không dính vào được. Kinh Thư, bộ sách chép những điển, mô, huấn, cáo và thư mệnh của vua tôi dạy bảo khuyên răn nhau từ đời Nghiêu Thuấn cho đến đời Đông Chu, là bộ sử có giá trị của Trung Quốc, còn gọi là Thượng Thư, và là một trong năm bộ kinh điển quan trọng của Nho giáo, có câu:
Bất căng tế hạnh, chung lụy đại đức.
Không cẩn thận từ những nết nhỏ thì rốt cuộc làm hại đức lớn. Khổng Tử so sánh quân tử với tiểu nhân ở chỗ khoan hòa và kiêu căng:
Quân tử thái nhi bất kiêu. Tiểu nhân kiêu nhi bất thái.
Quân tử khoan hòa mà không kiêu, tiểu nhân kiêu mà không khoan hòa. Tuân Tử bàn tiếp về lúc người tài ra tay:
Thông minh thánh trí bất dĩ cùng nhân. Cương nghị dũng cảm bất dĩ thương nhân.
Bất tri tắc vấn, bất năng tắc học. Tuy năng tất nhượng, nhiên hậu vi đức.
Thông minh sáng suốt thì đừng dùng để dồn ép người, cứng rắn dũng cảm thì đừng dùng để làm hại người. Không biết thì hỏi, không làm được thì học, dù làm được vẫn nhường, rồi sau đó mới là đức. Thái Bá Giai chỉ vào chỗ hai đầu mối của người nói:
Hỉ nộ tại tâm, ngôn xuất ư khẩu, bất khả bất thận dã.
Mừng giận ở trong lòng, lời nói ra nơi miệng, không thể không dè dặt. Nhan Thị Gia Huấn thì dặn một điều nhỏ mà tinh tế:
Tá nhân điển tịch, giai tu ái hộ, nhược hữu khuyết hại, tựu vị bổ trị, thử diệc sĩ phu bách hạnh chi nhất dã.
Mượn sách của người thì phải giữ gìn cẩn thận, nếu có rách khuyết thì nên sửa giúp, đó cũng là một trong trăm nết của kẻ sĩ.
Bốn chữ lặng, dung, nhẫn, thôi
Có những chữ ngắn đến nỗi một hơi thở cũng đọc xong, nhưng cả đời chỉ làm được một nửa.
Tử Hư Nguyên Quân kể một chuỗi nguyên nhân sinh ra họa phúc:
Phúc sinh ư thanh kiệm, đức sinh ư ti thoái.
Đạo sinh ư an tĩnh, mệnh sinh ư hòa sướng.
Hoạn sinh ư đa dục, họa sinh ư đa tham.
Quá sinh ư khinh mạn, tội sinh ư bất nhân.
Phúc sinh từ sự thanh đạm tiết kiệm, đức sinh từ sự khiêm nhường lùi bước, đạo sinh từ sự yên tĩnh, mệnh sinh từ sự ôn hòa thư thái. Lo âu sinh từ lắm ham muốn, tai họa sinh từ lắm tham, lỗi lầm sinh từ lòng coi thường, tội sinh từ chỗ bất nhân. Ông tiếp những lời răn:
Giới nhãn mạc thị tha phi. Giới khẩu mạc đàm tha đoản. Giới tâm mạc tứ tham sân. Giới thân mạc tùy ác bạn.
Vô ích chi ngôn mạc vọng thuyết. Bất can kỷ sự mạc vọng vi.
Răn mắt đừng nhìn chỗ sai của người, răn miệng đừng bàn chỗ kém của người, răn lòng đừng thả cho tham giận, răn thân đừng theo bạn xấu. Lời vô ích đừng nói bừa, việc không dính đến mình đừng làm bậy. Rồi đến bốn chữ nổi tiếng nhất, mỗi chữ lặp ba lần:
Mặc, mặc, mặc. Vô hạn thần tiên tùng thử đắc.
Nhiêu, nhiêu, nhiêu. Thiên tai vạn họa tề nhất tiêu.
Nhẫn, nhẫn, nhẫn. Trái chủ oan gia tòng thử tận.
Hưu, hưu, hưu. Cái thế công danh bất tự do.
Lặng, lặng, lặng, bao nhiêu thần tiên cũng từ đó mà thành. Tha, tha, tha, nghìn tai muôn họa cùng một lúc tiêu tan. Nhịn, nhịn, nhịn, chủ nợ và oan gia từ đó hết. Thôi, thôi, thôi, công danh trùm đời cũng chỉ trói người chứ không tự do. Ông thêm vào các việc nên làm:
Tôn quân vương, hiếu phụ mẫu. Kính tôn trưởng, phụng hữu đức. Biệt hiền ngu, thứ vô thức.
Vật thuận lai nhi vật cự. Vật ký vãng nhi vật truy. Thân vị ngộ vi vật vọng. Sự dĩ quá nhi vật tư.
Tôn vua, hiếu cha mẹ, kính bề trên, vâng theo người có đức, phân biệt hiền ngu, tha thứ kẻ không hiểu biết. Vật thuận đến thì đừng từ chối, vật đã đi thì đừng đuổi theo, thân chưa gặp thời thì đừng mong, việc đã qua thì đừng nghĩ nữa.
Cũng trong Giới Dụ Tâm Văn của Tử Hư Nguyên Quân có đoạn dặn cho cả đời:
Thông minh đa ám muội. Toán kế thất tiện nghi. Tổn thân chung tự thất. Ỷ thế họa tương tùy.
Giới chi tại tâm, thủ chi tại chí. Vi bất tiết nhi vong gia. Nhân bất liêm nhi thất vị.
Khuyến quân tự cảnh ư bình sinh. Khả thán, khả cảnh, nhi khả úy.
Thượng lâm chi dĩ thiên thần. Hạ sát chi dĩ địa kỳ. Minh hữu vương pháp tương kế. Ám hữu quỷ thần tương tùy.
Duy chí khả thủ. Tâm bất khả khi. Giới chi, giới chi.
Thông minh nhiều thì thường mờ ám, tính toán nhiều thì mất chỗ thuận lợi, hại người thì cuối cùng tự mất, cậy thế thì họa theo sau. Răn ở lòng, giữ ở chí. Không tiết kiệm thì tan nhà, không thanh liêm thì mất chức. Khuyên người hãy tự cảnh tỉnh suốt một đời, đáng than, đáng răn và đáng sợ. Trên có thiên thần soi xét, dưới có thần đất dõi theo, ngoài sáng có phép vua nối nhau, trong tối có quỷ thần theo sau. Chỉ có chí là giữ được, lòng thì không thể dối, hãy răn lấy, hãy răn lấy.
Khổng Tử khép lại bằng bốn câu hỏi, mỗi câu cho một cách đứng giữa đời:
Thân cư phú quý nhi năng hạ nhân giả, hà nhân nhi bất dữ phú quý?
Thân cư nhân thượng nhi năng ái kính giả, hà nhân nhi cảm bất ái kính?
Thân cư quyền chức nhi năng nghiêm túc giả, hà nhân nhi cảm bất úy cụ?
Phát ngôn đáng lý, động chỉ hợp quy, hà nhân nhi cảm vi mệnh?
Giàu sang mà biết nhún mình thì ai chẳng mong cho mình giàu sang mãi? Làm bề trên mà biết yêu kính người thì ai dám không yêu kính lại? Có quyền chức mà giữ phép nghiêm thì ai dám không nể sợ? Nói năng đúng lẽ, cử chỉ hợp phép thì ai dám trái lệnh mình?
Nguồn: Minh Tâm Bảo Giám, Nguyễn Quốc Đoan chú dịch.
