Chuyển đến nội dung chính
Quay lại Khuyên Thiện

Bài tổng quan

Lễ nhạc, đức nhạc và năm âm ứng ngũ hành

Đạo Học - Khuyên Thiện04/10/20267 phút đọc4 lượt đọc
Lễ nhạc, đức nhạc và năm âm ứng ngũ hành

Tiếng nhạc nghe vui tai chưa chắc đã tốt, và tiếng nhạc nghe buồn chưa chắc đã xấu. Người xưa gắn nhạc với lễ, với đức, rồi gắn năm âm với vua, tôi, dân, việc, vật. Vì sao họ tin rằng chỉ cần năm âm loạn, một nước có thể mất...


Lễ ở ngoài, nhạc ở trong

Khổng Tử và Nho gia vốn coi lễ nhạc là một cặp không rời. Từ thời Chu Công, nhạc đã gắn chặt với lễ. Khổng Tử hỏi: nói lễ, nói lễ, lẽ nào chỉ là ngọc lụa? Nói nhạc, nói nhạc, lẽ nào chỉ là chuông trống? Ông cũng hỏi: người không có nhân thì lễ làm gì, người không có nhân thì nhạc làm gì? Ý ông là nghĩa lớn của lễ nhạc không nằm ở đồ vật, và người thiếu lễ thì nhạc cũng mất tính nhân đức. Lễ là lẽ trời đặt ra, nhạc là tiết tấu, hai thứ giúp nhau cho xã hội.

Nho gia trọng lễ nhạc và trọng cả vai trò dẫn đầu của lễ nhạc trong việc chính. Nhạc ký bàn thêm lên trên nền của người đi trước, theo hai hướng.

Hướng thứ nhất là cho lễ nhạc một vai trò chính trị mới: nhạc không đứng ngoài chính sự mà phục vụ xã hội, phục vụ dân. Nó nói "xét nhạc để biết chính sự, thì đạo trị đã đủ", và "lễ tiết chế lòng dân, nhạc hòa tính dân". Đó là dấu ấn của Nho gia, kiên trì quan điểm nhạc đi vào đời, không xuất thế.

Hướng thứ hai là coi lễ và nhạc ngang nhau, như trời với đất. Nhạc ký nói: "Nhạc do trung xuất, lễ tại ngoại tác", nhạc bắt đầu từ bên trong, lễ làm ra ở bên ngoài; nhạc là cái động ở trong, lễ là cái động ở ngoài. Đó là quan hệ chủ và khách giữa lễ và nhạc: nhạc đi ra từ lòng, gắn với cảm nhận bên trong; lễ do hoàn cảnh bên ngoài định, không đổi theo tình. Hai thứ chia việc trong xã hội, nhạc hóa lòng người từ bên trong, còn lễ buộc người ta từ dáng vẻ bên ngoài.

Nhạc là bông hoa của đức

Một khúc nhạc không chỉ dùng để nghe cho vui, nó còn là cái thước đo cách sống của người đang nghe.

Nhạc ký rất nhấn mạnh tác động của nhạc đến phẩm hạnh con người, và cho rằng nhạc với luân lý tương thông: "Nhạc giả, thông ư luân lý giả dã". Nhạc không chỉ để giải trí, mà quan trọng hơn là đặt khuôn phép cho hành vi: nhạc để tượng trưng cho đức, lễ để chặn thói dâm. Nhạc ký nói đức là gốc của tính người, nhạc là bông hoa của đức: tình sáng mà nghĩa dựng, nhạc xong mà đức được tôn.

Từ đó có thể thấy ảnh hưởng của "di phong dịch tục" Nho gia: phong tục đổi khác thì phải đổi bằng nhạc. Nhờ chỗ này mà nhạc Trung Hoa gắn chặt với đạo đức người.

Hưng suy của một nước nằm trong tiếng nhạc

Nho gia nhấn mạnh ảnh hưởng của nhạc với xã hội, nhìn nhạc là chuyện tham gia việc nước, tác động đến hưng thịnh hay suy vong. Nhạc ký tán thành quan điểm ấy. Nó nói đời trị thì nhạc yên vui và chính sự hòa; đời loạn thì nhạc oán giận, chính sự trái; nước mất thì nhạc buồn thương, dân khốn cùng. Nó còn tả khi năm âm loạn thì từng tầng hỏng theo: âm cung loạn thì hoang tàn, vua kiêu; âm thương loạn thì nghiêng lệch, quan hỏng; âm giốc loạn thì lo âu, dân oán; âm chủy loạn thì buồn thương, việc nhọc; âm vũ loạn thì nguy hiểm, của cải thiếu. Năm thứ đều loạn, lấn nhau, gọi là mạn, thì nước sắp diệt vong, không còn bao lâu.

Lễ tiết dân tâm, nhạc hòa dân thanh, chính dĩ hành chi, hình dĩ phòng chi; lễ nhạc hình chính tứ đạt nhi bất bội, tắc vương đạo bị hĩ.

Làm chính trị mà không trái với chuẩn của lễ, nhạc, hình, chính thì thiên hạ mới yên. Nhạc là gương soi đời sống tinh thần của một nước, một dân; tiếng nhạc tốt khích lệ rất mạnh, tiếng nhạc loạn làm dân tộc mê muội, mất tri giác. Vì vậy sửa nhạc là một biện pháp không thể thiếu của việc trị nước.

Giá trị của một tập mỹ học nhạc đầu tiên

Mỹ học nhạc là phần cốt của nghệ thuật nhạc, nó khái quát các quy luật vừa có nét chung, vừa mang nét riêng của từng dân tộc. Nhạc Trung Hoa có gốc xa, và tiêu chuẩn thẩm mỹ truyền thống của nó sớm được Nhạc ký gom lại một cách hệ thống. Giá trị ấy có thể gói trong ba điều.

Một là, lấy lễ và đức làm chuẩn tối cao. Nhạc ký sinh ra dưới ảnh hưởng của lời "lễ vân nhạc vân" của Khổng Tử, thuyết "cùng vui với dân" của Mạnh Tử và Nhạc luận của Tuân Tử. Đó là tập luận nhạc của Nho gia, lấy nhân và lễ làm trung tâm. Dù phần nào phục vụ tầng lớp cầm quyền thời phong kiến, quan niệm lấy lễ và đức làm chuẩn thẩm mỹ đã ảnh hưởng nhạc cổ Trung Hoa hơn hai nghìn năm. Câu "Nhạc không thể giả dối" nói nhạc phải chân thực mới bền. Nhạc phải lấy đức làm thiện: "Nhạc xong mà đức được tôn, người quân tử nhờ đó mà yêu điều thiện". Và hòa là thước: không lệch, không cao siêu; nhạc hòa mới là nhạc hay, nên có câu "âm dương hợp nhau thì đạo nhạc về đủ".

Hai là, lấy tình để tả cái đẹp làm giới hạn cao nhất. Sức hút của nhạc nằm ở tình, gồm cả tình của người sáng tác và cảm xúc của người nghe. Câu "tình động ở trong nên hiện ra ở thanh" cho thấy tâm có động mới sinh ra âm. Chỉ nhạc biết biểu cảm mới đạt tầm nghệ thuật cao nhất; nhạc thiếu tình thì mất hay. Chữ "tình vận" ở đây là lấy tình để tả ý, và cái đẹp ở tầm cao còn phải chân thật mới chạm được người nghe. Rất nhiều khúc cổ là bản hay, giàu tình: Cao sơn lưu thủy bừng bừng khí thế, Dương xuân bạch tuyết uyển chuyển, Quan sơn nguyệt tuyệt mỹ, Mai hoa tam lộng khoan khoái, Nghê thường vũ y khúc làm xúc động lòng người, Nguyệt nhi cao bày tỏ nỗi buồn, Xích bích hoài cổ bi tráng hiên ngang, Mãn giang hồng du dương thư thái.

Ba là, lấy âm dương ngũ hành của Kinh Dịch làm nguyên lý trung tâm. Kinh Dịch nhấn mạnh điều hòa âm dương, kết hợp cương nhu, lấy thái cực âm dương làm nguyên lý hài hòa của vạn vật. Nhạc ký đưa lẽ ấy vào nhạc, và thành nguyên lý trung tâm của mỹ học nhạc truyền thống. Trời là dương, đất là âm; nguyên lý trung tâm của bản nhạc cũng phải hòa như trời với đất. Câu "âm dương cọ nhau, trời đất vỗ nhau" kết lại bằng ý: nhạc là cái hòa của trời đất; còn "trời đất hợp nhau, âm dương gặp nhau" nối với đạo nhạc quay về chỗ đó. Chữ hòa ấy là cái hòa của sinh khí. Năm âm cũng được nhìn như ngũ hành, có liên hệ nhau, năm âm không loạn thì giai điệu hài hòa:

Cung vi quân, thương vi thần, giốc vi dân, chủy vi sự, vũ vi vật. Ngũ giả bất loạn, tắc vô trạm trệ chi âm hĩ.

Cung là vua, thương là bề tôi, giốc là dân, chủy là việc, vũ là vật. Năm thứ không loạn thì không có âm đình trệ. Tìm hiểu kỹ chỗ này giúp thấy vì sao năm âm và mười hai luật không chỉ là chuyện kỹ thuật, và vì sao nhạc cổ Trung Hoa tồn tại như một sự hòa hợp rộng lớn. Từ đó nhìn xuôi dòng, những điệu hát từ nhiều vùng chảy vào nhạc Trung Nguyên cũng được thu nạp theo đúng lẽ hòa đó.

Nguồn: Dương Lực, Kinh điển văn hóa 5000 năm Trung Hoa - Tập 4, thuật lại có lược bớt.

Kiều Oanh Trần

Tác giả

Kiều Oanh Trần

Nghiên cứu Mệnh lý - Tử vi - Tâm lý học

Theo dõi trên Facebook

Chia sẻ bài viết

FacebookXLinkedInZalo
Quay lại Khuyên Thiện