Chuyển đến nội dung chính
Quay lại Khuyên Thiện

Bài tổng quan

Mình ngay không lệnh dân cũng theo, nhà cần kiệm già không túng

Đạo Học - Khuyên Thiện05/10/202613 phút đọc4 lượt đọc
Mình ngay không lệnh dân cũng theo, nhà cần kiệm già không túng

Người làm quan được dặn rằng bổng lộc của mình chính là máu mỡ của dân, còn người giữ nhà được dặn rằng nàng dâu là đầu mối thịnh suy của cả nhà. Hai lời dặn nghe như ở hai đầu một sợi dây, nhưng đều dẫn về một chữ nằm ngay trong lòng người. Chữ ấy là…


Người làm quan giữ lòng trước, giữ phép sau

Người xưa học đạo là để thực hiện chuỗi tu thân, tề gia, trị quốc, bình thiên hạ. Lúc chưa ra làm quan thì lo làm đẹp bản thân, lúc đã ra làm quan thì lo làm đẹp đời. Khổng Tử trả lời Quý Khang Tử rằng chính trị là làm mọi việc cho ngay thẳng, mình dẫn đầu ngay thẳng thì ai dám không thẳng. Ông còn ví người trị nước bằng đức như sao Bắc đẩu đứng yên một chỗ mà muôn sao đều chầu về. Vì thế người làm quan muốn trị dân thì trước hết phải sửa mình.

Trình Minh Đạo nói về người mới bước vào đường làm quan lần đầu:

Nhất mệnh chi sĩ, cẩu tồn tâm ư ái vật, ư nhân tất hữu tế.

Người mới được phong chức quan nhỏ nhất, nếu giữ trong lòng sự thương yêu muôn vật thì đối với người nhất định sẽ có chỗ cứu giúp.

Sách Huấn Mông dạy phép làm quan chỉ gồm ba việc:

Đương quan chi pháp duy hữu tam sự: viết thanh, viết thận, viết cần. Tri thử tam giả tắc tri sở dĩ trì thân hỹ.

Đương quan giả tất dĩ bạo nộ vi giới. Sự hữu bất khả, dương tường xử chi, tất vô bất đáng. Nhược tiên bạo nộ chỉ năng tự hại, khởi năng hại nhân.

Sự quân như sự thân, sự quan trưởng như sự huynh, dữ đồng liêu như gia nhân, đãi quần lại như nô bộc. Ái bá tính như thê tử, xử quan sự như gia sự.

Nhiên hậu năng hậu tận ngô chi tâm, như hữu hào mạt bất chí, giai ngô tâm hữu sở vị tận dã.

Phép làm quan chỉ có ba việc là thanh liêm, cẩn thận và siêng năng. Biết ba việc ấy là biết cách giữ thân. Người làm quan phải lấy giận dữ làm điều răn. Việc gì không thể được thì cứ giải quyết rạch ròi, tất không có gì là không thỏa đáng. Nếu giận dữ trước thì chỉ tự hại mình chứ không hại được ai. Thờ vua như thờ cha, kính quan trên như kính anh, đối với đồng liêu như người trong nhà, đối đãi cấp dưới như người giúp việc. Yêu dân như yêu vợ con, xử việc quan như việc nhà. Có thế mới là hết lòng mình. Dù có thiếu sót nhỏ cũng là do lòng mình chưa trọn vẹn.

Đường Thái Tông để lại một bài răn dành cho các quan, nhắc rằng bổng lộc của họ từ đâu mà có:

Thượng hữu huy chi, trung hữu thừa chi, hạ hữu phụ chi.

Tệ bạch ý chi, thương lẫm tự chi.

Nhĩ bổng nhĩ lộc, dân cao dân chi.

Hạ dân dị ngược, thượng thương nan khi.

Trên có vua sai, giữa có đồng liêu giúp, dưới có dân theo. Mặc có lụa là, ăn có vựa thóc. Bổng lộc của các ngươi chính là máu mỡ của dân. Dân đen dễ bị ngược đãi nhưng trời xanh thì khó mà dối.

Có người hỏi Trình Y Xuyên về chức Bạ, người phụ tá quan Lệnh: nếu việc Bạ muốn làm mà quan Lệnh không nghe thì làm sao?

Đương dĩ thành ý động chi. Kim lệnh dữ bạ bất hòa chỉ thị tranh tư ý. Lệnh thị ấp chi trưởng, nhược năng dĩ sự phụ chi đạo sự chi, quá tắc quy kỷ, thiện tắc duy khủng bất quy ư lệnh, tích thử thành ý, khởi hữu bất động đắc nhân.

Ông đáp: nên dùng lòng chân thành mà cảm động người ta. Quan Lệnh và Bạ bất hòa chỉ vì tranh ý riêng. Lệnh là người đứng đầu một ấp, nếu Bạ biết dùng đạo thờ cha mà thờ Lệnh, lỗi thì nhận về mình, điều tốt thì chỉ sợ không quy về Lệnh. Dồn lòng thành như thế, há không làm động lòng người sao.

Cư quan giả phàm dị sắc nhân giai bất nghi dữ chi tương tiếp, vu, chúc, ni, ổn, chi loại, vưu nghi bãi tuyệt, yếu dĩ thanh tâm tỉnh sự vi bản.

Cũng Trình Y Xuyên dặn: người làm quan không nên tiếp xúc với những hạng người khác lối, như đồng cốt, thầy cúng, ni cô, bà vãi lại càng nên dứt hẳn, cốt lấy tấm lòng trong sạch, giảm bớt công việc làm gốc.

Lưu An Lễ hỏi về cách đối xử với dân, và hỏi chức ngự sử nên làm thế nào. Trình Minh Đạo đáp từng câu:

Sử dân các đắc thâu kỳ tình.

Chính kỷ dĩ cách vật.

Làm cho dân ai nấy đều thật lòng với mình. Giữ mình ngay thẳng để vạn vật đều được ngay thẳng theo.

Dạy trước khi phạt, cất người ngay và mình ngay thì dân tự theo

Ba cách làm tổn thương dân, ba cách làm dân phục, và một điều kiện khiến lệnh không cần nhắc.

Bất giáo nhi sát vị chi ngược. Bất giới thị thành vị chi bạo. Mạn lệnh trí kỳ vị chi tặc.

Không dạy dân mà giết khi họ sai trái là ngược. Không răn cấm mà chỉ nhìn kết quả để kết tội là bạo. Ra lệnh chậm mà bắt làm xong sớm là giặc.

Cử trực, thố chư uổng, tắc dân phục.

Cử uổng, thố chư trực, tắc dân bất phục.

Cất nhắc người ngay, bỏ kẻ cong queo thì dân phục. Cất nhắc kẻ cong queo, bỏ người ngay thì dân không phục.

Kỳ thân chính bất lệnh nhi hành,

Kỳ thân bất chính tuy lệnh bất tùng.

Thân mình ngay thẳng thì không cần ra lệnh dân cũng làm. Thân mình không ngay thẳng thì dù ra lệnh dân cũng không theo.

Ngôn trung tín, hành đốc kính, tuy man mạch chi bang hành hỹ. Ngôn bất trung tín, hành bất đốc kính, tuy châu lý hành hồ tai?

Lời trung tín, việc làm hậu kính thì dù ở xứ man rợ cũng làm việc được. Lời không trung tín, việc làm không hậu kính thì dù ở châu làng của mình cũng làm sao đi được.

Vị tôn giả, đức bất khả bạc, quan đại giả, chính bất khả khi.

Tử Cống nói: địa vị cao thì đức không được mỏng, quan lớn thì việc chính không được khinh nhờn.

Bốn điều hợp đạo, năm đức làm nên lòng nhân

Đức khiêm cung ở với mình, lòng kính ở với trên, ơn ở với dân, và lẽ phải ở với việc sai khiến.

Tử vị Tử Sản hữu quân tử chi đạo tứ yên: Kỳ hành kỷ dã cung. Kỳ sự thượng dã kính. Kỳ dưỡng dân dã huệ. Kỳ sử dân dã nghĩa.

Khổng Tử khen Tử Sản có bốn điều hợp đạo người quân tử: giữ mình thì khiêm cung, thờ bề trên thì kính cẩn, nuôi dân thì ban ơn, sai dân thì theo lẽ phải.

Tử Trương hỏi Khổng Tử thế nào là nhân. Ông đáp bằng năm điều:

Cung, khoan, tín, mẫn, huệ. Cung tắc bất vũ. Khoan tắc đắc chúng. Tín tắc nhân nhiệm yên. Mẫn tắc hữu công. Huệ tắc túc dĩ sử nhân.

Cung kính, khoan dung, giữ tín, siêng năng, ban ơn. Cung kính thì không bị nhục, khoan dung thì được lòng dân, giữ tín thì người tin cậy giao việc, siêng năng thì có công, ban ơn thì đủ sức sai khiến người.

Khổng Tử còn nêu năm điều của người quân tử, mỗi điều có một giới hạn không được vượt:

Quân tử huệ nhi bất phí. Lao nhi bất oán. Dục nhi bất tham. Thái nhi bất kiêu. Uy nhi bất mãnh.

Người quân tử ban ơn mà không hao phí. Bảo dân làm lụng mà dân không oán. Có mong muốn mà không tham. Thư thái mà không kiêu. Uy nghiêm mà không dữ.

Can vua là cung, ngăn điều quấy là kính, và trung thần không sợ chết

Đứng trước một vị vua, có người chọn nịnh nọt cho yên thân, có người chọn nói thẳng dù biết sẽ mất đầu.

Trách nan ư quân, vị chi cung. Trần thiện, bế tà vị chi kính. Ngô quân bất năng, vị chi tặc.

Mạnh Tử nói: đòi hỏi vua làm những việc khó thì gọi là cung. Trình bày điều lành, chặn điều tà cho vua thì gọi là kính. Nghĩ rằng vua mình không làm nổi, ấy gọi là giặc.

Nghinh phủ việt nhi cảm gián, cử đỉnh hoạch nhi tận ngôn, thử chi vị trung thần. Trung thần bất phạ tử, phạ tử bất trung thần.

Bão Phác Tử nói: đón búa rìu mà dám can gián, níu vạc chảo mà nói hết lời, như thế gọi là trung thần. Trung thần không sợ chết, sợ chết thì không phải là trung thần.

Giữ nhà từ chuyện nhỏ: phép tắc, cần kiệm và dạy dỗ

Nhà là đơn vị của nước, nước thịnh hay suy cũng từ nhà mà ra. Người xưa coi trọng nền tảng gia đình đến nỗi có hẳn những sách dạy việc trị nhà, và việc gì cũng thiết thực: kế hoạch chi tiêu, cần kiệm, đối xử với người làm, lo chuyện cưới gả đời sau.

Phàm chư ty ấu, sự vô đại tiểu. Vô đắc chuyên hành, tất tư bẩm ư gia trưởng.

Cần kiệm thường phong, chí lão bất cùng. Đãi khách bất đắc bất phong. Trị gia bất đắc bất kiệm.

Hữu tiền thường bị vô tiền nhật. An lạc tu phòng hoạn nạn thời.

Kiện nô vô lễ, kiêu nhi bất hiếu. Giáo phụ sơ lai, giáo tử anh hài.

Những người thuộc bậc dưới và nhỏ tuổi trong nhà, việc lớn việc nhỏ đều không được tự ý làm, phải thưa trình với gia trưởng. Cần kiệm thì thường đủ đầy, đến già cũng không túng. Đãi khách thì không thể không tươm tất, nhưng trị nhà thì không thể không tằn tiện. Có tiền hãy nhớ phòng ngày không tiền. Lúc yên vui hãy nhớ phòng khi hoạn nạn. Đầy tớ giỏi thì thường vô lễ, con cái kiêu thì thường bất hiếu. Dạy vợ từ lúc mới về, dạy con từ lúc còn thơ.

Si nhân úy phụ, hiền nữ kính phu. Phàm sử nô bộc, tiên vấn cơ hàn.

Thì thì phòng hỏa phát. Dạ dạ phòng tặc lai. Tử hiếu song thân lạc. Gia hòa vạn sự thành.

Thái Công nói: kẻ ngu sợ vợ, người con gái ngoan kính chồng. Khi sai người làm, trước hết phải hỏi họ đói rét thế nào. Lúc nào cũng phòng lửa bốc, đêm nào cũng phòng trộm tới. Con có hiếu thì cha mẹ vui, nhà hòa thuận thì muôn việc đều nên.

Quan triêu tịch chi tảo án, khả dĩ thức nhân gia chi hưng thế.

Cảnh Hạnh Lục dạy: xem một nhà thức khuya hay ngủ sớm, dậy sớm hay dậy trễ thì biết nhà ấy hưng hay suy.

Chuyện cưới gả, vì nàng dâu là đầu mối thịnh suy của nhà

Có nhà cưới dâu mà nhắm vào của hồi môn, và có nhà trông thấy trước cả một tương lai.

Tư Mã Ôn Công dặn kỹ chuyện chọn dâu, chọn rể:

Phàm nghị hôn nhân tiên dương sát kỳ tế dữ phụ chi tính hạnh cập gia pháp hà như? Vật cẩu mộ kỳ phú quý.

Tế cẩu hiền hỹ, kim tuy bần tiện, an tri dị thời bất phú quý hồ? Cẩu vi bất tiếu, kim tuy phú thịnh, an tri dĩ thời bất bần tiện hồ?

Phụ giả gia chi sở do thịnh suy dã. Cẩu mộ nhất thời chi phú quý nhi thú chi, bỉ hiệp kỳ phú quý, tiển hữu bất khinh kỳ phu nhi ngạo kỳ cữu cô, dưỡng thành kiêu cố chi tính, dị nhật vị hoạn, dung hữu cực hồ?

Giả sử nhân phụ tài dĩ trí phú, y phụ thế dĩ thủ quý, cẩu hữu trượng phu chi chí khí giả, năng vô quý hồ.

Khi bàn chuyện hôn nhân, trước hết phải xét kỹ tính nết và gia pháp của người rể, người dâu, đừng ham giàu sang. Chàng rể hiền, nay tuy nghèo hèn, sao biết mai sau không giàu sang. Chàng rể không ra gì, nay tuy giàu có, sao biết mai sau không nghèo hèn. Nàng dâu là đầu mối thịnh suy của một nhà. Nếu nhất thời ham giàu sang mà cưới, gặp người cậy giàu thì hiếm khi không khinh chồng, lên mặt với cha mẹ chồng, nuôi thành tính kiêu ngạo, về sau tai họa há có chừng. Giả sử nhờ của cải vợ mà giàu, nhờ thế vợ mà sang thì người có chí khí trượng phu há không thẹn.

Giá nữ tất tu thắng ngô gia giả, thắng ngô gia tắc nữ chi sự nhân tất khâm, tất giới.

Thú phụ tất tu bất nhược ngô gia giả, bất nhược ngô gia tắc phụ chi sự cữu cô tất chấp phụ đạo.

Nam đại bất hôn như liệt mã vô cương. Nữ đại bất giá như tư diêm phạm thủ.

Hồ An Định nói: gả con gái thì phải gả cho nhà hơn nhà mình, hơn thì con gái thờ người ta sẽ kính nể, thận trọng. Cưới dâu thì phải cưới người không bằng nhà mình, không bằng thì nàng dâu thờ cha mẹ chồng sẽ giữ trọn đạo dâu. Con trai lớn không cưới vợ như ngựa dữ không dây cương. Con gái lớn không gả chồng như người buôn muối lậu.

Hôn nhân nhi luận tài, di lỗ chi đạo dã.

Văn Trung Tử nói: cưới gả mà chỉ bàn chuyện tiền tài, đó là thói của phường man dã.

Tư Mã Ôn Công còn dặn gia trưởng giữ lễ pháp, chia việc và chia của cho đều:

Phàm vị gia trưởng tất cần thủ lễ pháp. Dĩ ngự quần đệ tử cập gia chúng, tất phân chi dĩ chức, thụ chi dĩ sự, nhi trách kỳ công.

Chế tài dụng chi tiết, lượng nhập di vĩ xuất. Xứng gia chi hữu vô dĩ cấp thượng hạ chi y thực cập cát hung chi phí, giai hữu phẩm tiết, nhi mạc bất quân nhất.

Tài tỉnh nhũng phí, cấm chỉ xa hoa. Thường tu sảo tồn doanh dư dĩ bị bất ngu.

Làm gia trưởng phải cẩn trọng giữ lễ pháp. Để cai quản con em và người trong nhà, phải chia nhiệm vụ, giao công việc rồi đòi hỏi thành quả. Dùng tiền thì dè sẻn, đo thu để mà chi. Xét nhà có của hay không mà cấp áo cơm cho người trên kẻ dưới, cùng chi phí cho việc vui việc buồn đều có mức độ, ai cũng được như nhau. Cắt bớt phung phí, cấm xa hoa. Thường để dư chút ít phòng khi bất trắc.

Nguồn: Minh Tâm Bảo Giám, Nguyễn Quốc Đoan chú dịch.

Kiều Oanh Trần

Tác giả

Kiều Oanh Trần

Nghiên cứu Mệnh lý - Tử vi - Tâm lý học

Theo dõi trên Facebook

Chia sẻ bài viết

FacebookXLinkedInZalo
Quay lại Khuyên Thiện