Bài tổng quan
Hai mươi lời can gián để đời: nước nâng thuyền, trai cò tranh nhau
Có những câu nói chỉ vài chữ mà đi qua hơn hai nghìn năm, vì mỗi câu được thốt ra đúng lúc một người dám nói thật với kẻ cầm quyền. Từ bà lão khóc bên mộ dưới chân núi Thái Sơn đến viên quan dám vạch tội người đứng đầu triều đình, ai cũng đã trả giá để câu ấy còn lại…
Mục lục · 20 phần
- 01Ngang ngược bất nghĩa, tự chuốc lấy cái chết
- 02Da không còn, lông bám vào đâu
- 03Không cùng họ, lòng ắt khác
- 04Không ở ngôi nào thì đừng bàn việc ngôi ấy
- 05Cai trị hà khắc còn dữ hơn cọp
- 06Chuyện trước không quên, là thầy của chuyện sau
- 07Nước nâng thuyền, nước cũng lật thuyền
- 08Trừ sài lang đang chắn đường, đừng hỏi chồn cáo
- 09Thành cũng Tiêu Hà, bại cũng Tiêu Hà
- 10Tan lâu ắt hợp, hợp lâu ắt tan
- 11Ở yên phải nghĩ tới nguy
- 12Mười năm sinh sôi, mười năm dạy dỗ
- 13Trị nước như nấu cá nhỏ
- 14Mất bò mới lo làm chuồng, đã muộn
- 15Trai cò đánh nhau, ngư ông hưởng lợi
- 16Thiên hạ là của thiên hạ, không của riêng ai
- 17Làm đường sạn đạo giữa ban ngày, ngầm vượt Trần Thương
- 18Một tấc đất là một tấc vàng
- 19Thương mười ngón không bằng đứt một ngón
- 20Cuộc chiến vô nghĩa của thời Xuân Thu
Ngang ngược bất nghĩa, tự chuốc lấy cái chết
Thời Xuân Thu, em trai của Trịnh Trang Công là Cộng Thúc Đoạn được thái hậu Vũ Khương thương yêu, nuôi dã tâm cướp ngôi. Vì Đoạn, Vũ Khương xin cho đất ở Kinh thành. Đoạn ra sức mở rộng thế lực, chuẩn bị nổi loạn. Đại thần khuyên Trang Công trừ đi, vua đáp rằng ngang ngược bất nghĩa thì tự chuốc lấy cái chết. Thế lực Đoạn càng lớn, lòng người càng phẫn nộ. Đêm trước ngày Đoạn định dấy binh, Trang Công đánh úp, dẹp yên và giữ được nước Trịnh.
Da không còn, lông bám vào đâu
Thời Tấn Huệ Công, quan hệ với nước Tần ngày một xấu. Tần gặp hạn mất mùa, dân đói phải sang Tấn xin vay lương. Đại thần nước Tấn can rằng da đã không còn thì lông bám vào đâu. Nhưng Tấn vẫn không giúp, quan hệ hai nước rạn nứt thêm. Câu nói được dùng để chỉ rằng khi nền tảng đã tan thì không cái gì giữ được trọn, và là lời nhắc cho người đời biết lo giữ lấy gốc của mình.
Không cùng họ, lòng ắt khác
Lỗ Thành Công sang thăm nước Tấn bị đối xử bạc, giận quá định cầu nước Sở giúp. Đại thần can rằng Sở không phải họ hàng ta, làm sao cùng một lòng một dạ với ta. Điển tích nhấn vào ý thức giữ gốc dân tộc của mình trước khi tìm kẻ ngoài làm chỗ dựa.
Không ở ngôi nào thì đừng bàn việc ngôi ấy
"Không ở chức vị ấy thì không bàn chính sự của chức vị ấy."
Đây là lời nhắc của Khổng Tử: người đã rời chức thì đừng chen vào việc triều chính, trên không với tay, dưới không nói chuyện quyền. Lịch sử cho thấy ai đã thoái vị mà cố nhúng tay vào triều chính thì chỉ là bù nhìn, còn vận nước hưng hay vong thì ai cũng thấy. Người đương chức phải có thực chức thực quyền, đúng như Luận ngữ nói: vua ra vua, tôi ra tôi, cha ra cha, con ra con. Nếu vua không ra vua, tôi không ra tôi thì loạn là điều khó tránh. Còn kẻ quyền thần đương chức luôn tiềm ẩn nguy cơ lấn quyền, như Vương Mãng thời Tây Hán, Lý Lâm Phủ và Dương Quốc Trung thời Đường.
Cai trị hà khắc còn dữ hơn cọp
Khổng Tử dẫn học trò đi du thuyết các nước, một hôm đi qua núi Thái Sơn gặp một bà lão đang khóc bên mộ. Bà kể con trai bị cọp ăn thịt, trước đó chồng bà cũng bị cọp ăn ngay chỗ này. Ông hỏi vì sao bà không dời đi, bà đáp nơi đây không có quan tham hà khắc. Khổng Tử than rằng cai trị hà khắc còn dữ hơn cọp. Về sau Liễu Tông Nguyên dẫn chuyện này trong bài "Bổ xà giả thuyết", biến nó thành tấm gương soi cho kẻ cầm quyền tàn bạo.
Chuyện trước không quên, là thầy của chuyện sau
"Việc trước không quên, ấy là thầy của việc sau."
Trương Mạnh Đàm nói câu ấy với Triệu Tương Tử: người đời sau luôn lấy người đời trước làm bài học. Đại thần Giả Nghị thời Tây Hán cũng dâng sớ can Hán Văn Đế rằng xe trước đổ thì xe sau phải biết tránh. Vì sao ba đời Hạ, Thương, Chu trường tồn mà nhà Tần ngắn ngủi, cứ lần theo vết bánh xe họ đã đi thì rõ. Đó được xem là một trong những lời can hay nhất trong lịch sử.
Nước nâng thuyền, nước cũng lật thuyền
"Vua là thuyền, dân là nước. Nước chở thuyền, nước cũng lật thuyền."
Lời này vốn từ Tuân Tử, dùng cách nói nhân cách hóa: nước là trăm họ, thuyền là quốc vương. Đời Đường, bộ Trinh Quán chính yếu cũng chép lời dạy các hoàng tử rằng thuyền ví như vua, nước ví như dân, người chở thuyền là dân mà người lật thuyền cũng là dân. Ai được lòng dân thì thắng, ai mất lòng dân thì diệt vong.
Trừ sài lang đang chắn đường, đừng hỏi chồn cáo
Năm 142, Hán Thuận Đế sai sứ giả đi các nơi dò xét xem có quan tham hay không. Ngự sử Trương Cương nhận lệnh nhưng không đi đâu, chỉ dâng sớ vạch tội anh em Lương Dực, những người đứng đầu triều đình, lộng quyền, nhận hối lộ. Ông cho rằng nếu không trừ quan tham trên chóp mà chỉ diệt đám tay chân ở dưới thì được gì. Tuy Trương Cương bị cách chức, tiếng ông vang khắp kinh thành. Điển tích này ca người trung dũng dám vuốt râu hổ.
Thành cũng Tiêu Hà, bại cũng Tiêu Hà
Lúc Lưu Bang mới dựng nghiệp, Tiêu Hà hết lòng tiến cử Hàn Tín, nói tốt cho Hàn Tín ngày đêm. Khi nghiệp đã thành, Hàn Tín công cao hơn chủ, chính Tiêu Hà lại mật báo cho Lữ Hậu để giết Hàn Tín. Tấn bi kịch trở thành điển tích nói rằng thành bại của một người có khi nằm trong tay người khác sắp đặt, lòng người khó lường, nên thành hay bại rốt cuộc vẫn là ở bản thân mình.
Tan lâu ắt hợp, hợp lâu ắt tan
Từ xưa tới nay, cực thịnh thì suy, cực suy lại thịnh, hợp lâu thì tan, tan lâu thì hợp. Tây Chu là thời thịnh trị dài nhất, sau cực thịnh thì chuyển sang loạn Xuân Thu, Chiến Quốc. Tây Hán là thời thịnh dài thứ hai, sau đó là ba nước Ngụy, Thục, Ngô phân tranh. Đường là thời thịnh dài thứ ba, sau cực thịnh thì trong vòng một trăm năm đổi năm triều đại, chia thành mười nước. Đây là nhịp thở tất yếu của xã hội.
Ở yên phải nghĩ tới nguy
"Ở yên thì nghĩ tới nguy; nghĩ thì có phòng bị; có phòng bị thì không có họa."
Nước Tấn trải gian khổ, đến Tấn Điệu Công mới khôi phục được bá nghiệp. Trong tiệc mừng công, Điệu Công đem ca nhi, nhạc cụ ban cho Ngụy Giáng là người có công lớn nhất. Ngụy Giáng không những không mừng, còn nhân dịp ấy can vua phải nhớ lo xa khi đang yên ổn. Ý này nguyên từ Kinh Dịch: yên mà không quên lúc nguy.
Mười năm sinh sôi, mười năm dạy dỗ
Hai nước Ngô và Việt mang mối thù truyền kiếp. Vua Ngô là Phù Sai báo thù cha, đánh nước Việt đại bại, Việt vương Câu Tiễn chạy về cố thủ Cối Kê rồi bất đắc dĩ phải sai người xin hòa. Ngũ Tử Tư can vua Ngô đừng nhận lời. Vua Ngô không nghe. Ngũ Tử Tư than rằng mười năm sinh sôi, mười năm dạy dỗ, hai mươi năm sau cung điện nước Ngô sẽ thành ao đầm. Đúng hai mươi năm sau, Câu Tiễn đánh bại nước Ngô, rửa được nhục mất nước.
Trị nước như nấu cá nhỏ
"Trị nước lớn như nấu cá nhỏ."
Lão Tử nói nấu cá nhỏ thì đừng lật đảo, lật nhiều thì cá nát. Nghĩa là để dân yên, đừng quấy nhiễu dân. Ai làm trái quy luật ấy thì khó tránh vong thân. Nhà Tần sau chiến tranh liên miên lẽ ra nên cho dân nghỉ, lo dựng lại đất nước. Nhưng vua Tần mặc nước nghèo dân đói, vẫn tuyển quân mở rộng bờ cõi, huy động dân công dựng Vạn Lý Trường Thành, nhất là bỏ khoản tiền khổng lồ xây cung A Phòng, khiến dân khổ chồng chất, cuối cùng nổ ra cuộc khởi nghĩa của Trần Thắng và Ngô Quảng. Nhà Tần phải qua mấy đời dốc sức mới thống nhất được, vậy mà chỉ tồn tại khoảng mười năm. Nhà Hán đứng được lâu vì sau chiến tranh biết cho dân nghỉ, không quấy nhiễu dân.
Mất bò mới lo làm chuồng, đã muộn
Sở Tương Vương mê tửu sắc, bỏ bê triều chính, không nghe lời can của đại thần Trang Tân, cuối cùng bị nước Tần phá, phải sống lưu vong. Lúc ấy vua mới nhớ tới Trang Tân. Trang Tân nói: thấy thỏ mới gọi chó săn thì chưa muộn, mất dê mới sửa chuồng cũng chưa quá trễ. Ông nhắc rằng Thang, Vũ chỉ có trăm dặm đất mà diệt được Kiệt, Trụ, huống gì nước Sở rộng mấy nghìn dặm. Ý chuyện là khi đã lâm vào cảnh khó, phải biết rút bài học mà tìm cách cứu vãn thì có thể chuyển nguy thành an.
Trai cò đánh nhau, ngư ông hưởng lợi
Triệu Huệ Văn Vương định đem quân đánh Yên. Tô Đại kể chuyện con cò mổ vào thịt con trai, trai khép vỏ kẹp chặt mỏ cò, không bên nào chịu buông, ông lão chài đi qua bắt gọn cả hai. Triệu mà đánh Yên thì hai nước đều kiệt sức, nước Tần sẽ nuốt cả hai. Triệu vương nghe theo, bỏ ý đánh Yên. Hai hổ đánh nhau ắt có thương vong, đừng để kẻ khác hưởng lợi.
Thiên hạ là của thiên hạ, không của riêng ai
"Thiên hạ không phải thiên hạ của một người, mà là thiên hạ của thiên hạ."
Câu này trong Lữ thị Xuân Thu nghĩa là thiên hạ không thuộc riêng một ông vua hay một cá nhân nào. Người trị nước bằng đạo lý không giữ đạo ấy cho riêng mình mà cho cái chung. Sự yên nguy của thiên hạ cũng ở nơi toàn dân, không phải gánh nặng của riêng ai. Thực tế lịch sử thường ngược lại, yên nguy chỉ nằm trong tay một người, vì vậy lời cảnh tỉnh ấy càng đáng nhớ.
Làm đường sạn đạo giữa ban ngày, ngầm vượt Trần Thương
Lưu Bang chuẩn bị đánh lên phía bắc đất Thục để đối đầu với Hạng Vũ. Khi đánh Ung vương Chương Hàm, ông dùng mưu của Hàn Tín: ban ngày cho quân phô trương sửa sạn đạo để lừa địch, còn thực chất bí mật vượt Trần Thương đánh úp. Chương Hàm đại bại, Hán vương chiếm đất Ung, phía đông tới tận Hàm Dương. Điển tích dặn người ta đừng để cái giả của đối phương mê hoặc.
Một tấc đất là một tấc vàng
Năm 1122, người Kim đánh bại nước Liêu và đòi Liêu cắt đất. Đại thần Tả Xí Cung viện lẽ một tấc đất là một tấc vàng để hết sức can vua Liêu đừng cắt. Từ đó, còn mất của lãnh thổ trở thành biểu tượng cho hưng vong của quốc gia. Cắt đất nghĩa là bán nước, bị đời sau nguyền rủa, còn người có công giữ đất thì sử xanh ghi tên.
Thương mười ngón không bằng đứt một ngón
Binh gia xưa dạy rằng ngón tay bị thương sẽ lành, nhưng ngón bị chặt đứt thì không mọc lại. Ý là chỉ khi đánh trúng chỗ hiểm của đối phương thì mới thật sự diệt được nó, đánh trăm nhát nhẹ không bằng một nhát chí mạng.
Cuộc chiến vô nghĩa của thời Xuân Thu
Từ khi U Vương đốt lửa đùa chư hầu, thiên tử nhà Chu không còn sai khiến được các nước, bảy nước lần lượt tranh nhau xưng bá, ai cũng muốn nắm thiên tử để ra lệnh chư hầu. Tề Hoàn Công họp tám nước, chỉ có bốn nước đến, vậy mà xưng bá Trung Nguyên, bốn nước vắng mặt là Lỗ, Vệ, Tào, Trịnh không chịu nộp lễ, Tề giận đem quân đi đánh. Sở ở phía nam ngày một mạnh, Sở Trang Vương mơ chiếm Trung Nguyên. Tấn Văn Công mười chín năm lưu vong trở về nước, đánh bại Sở, đắc chí xưng bá. Rồi Tần Mục Công ở phía tây cũng muốn vào Trung Nguyên, cuộc chiến Tần Tấn khốc liệt, Tần thắng, bắt các nước nhỏ triều cống. Các nước lớn thay nhau xưng bá, đẩy nước nhỏ vào cảnh cống nạp, chiến tranh kéo dài khiến dân lầm than, nên người đời gọi đó là những cuộc chiến vô nghĩa.
Nguồn: Dương Lực, Kinh điển văn hóa 5000 năm Trung Hoa - Tập 3, thuật lại có lược bớt.
