Bài tổng quan
Phù Ngôn: Quỷ Cốc Tử dạy vua thuật nghe nhìn giữ ngôi
Một bức thư giả suýt hại chết trung thần, một chén rượu êm ái tước sạch binh quyền không tốn một giọt máu — thiên cuối cùng của Quỷ Cốc Tử gói cả nghệ thuật trị nước vào một chữ: lời nói phải khớp với việc làm như hai mảnh binh phù ghép lại. Hán Thiệu Đế mười bốn tuổi, Tống Thái Tổ, Khang Hy đều từng dùng đúng thuật ấy để giữ vững ngai vàng…
Mục lục · 8 phần
- 01Phù Ngôn: lời nói phải khớp với việc làm như hai mảnh binh phù
- 02Mượn mắt, mượn tai của cả thiên hạ mà nhìn, mà nghe
- 03Thưởng phải giữ chữ tín, phạt phải giữ lẽ công bằng
- 04Hán Thiệu Đế mười bốn tuổi vạch trần bức thư giả
- 05Chén rượu của Tống Thái Tổ nặng hơn cả lưỡi gươm
- 06Khang Hy: hợp lòng dân trước, mở rộng tai mắt sau
- 07Lý Thế Dân: coi lời can gián là liều thuốc đắng dã tật
- 08Danh phải xứng với thực, cửa hàng phải giữ đúng lời rao
Phù Ngôn: lời nói phải khớp với việc làm như hai mảnh binh phù
Thời xưa, khi triều đình cần điều một đạo quân, người ta bẻ đôi một thẻ tre khắc chữ làm tin, một nửa giữ trong cung, một nửa giao cho tướng ngoài biên ải; chỉ khi hai nửa ấy ghép khít vào nhau, mệnh lệnh mới được xem là thật. Quỷ Cốc Tử mượn đúng hình ảnh chiếc thẻ binh phù ấy để đặt tên cho thiên cuối cùng trong bộ sách: "Phù Ngôn" — lời nói phải ăn khớp với việc làm y như hai nửa binh phù ghép lại làm một, nói sao làm vậy thì lời nói mới có sức nặng. Nếu "Quyết" dạy cách dứt khoát chọn một hướng đi, thì "Phù Ngôn" quay ngược lại dạy người đứng đầu — cụ thể là bậc quân vương — cách giữ vững ngôi vị bằng chín phương diện: giữ ngôi, tra xét việc đời cho rõ ràng, biết nghe và tiếp nhận ý kiến, thưởng phạt nghiêm minh, dò hỏi tin tức bốn phương, quản lý quan lại dưới quyền, ứng phó tuỳ theo từng tình thế khác nhau, hiểu thấu mọi việc cho trọn vẹn, và cuối cùng là giữ cho danh xưng luôn đi liền với thực chất.
"An từ chính tĩnh, kỳ tị tiết vô bất nhục."
Muốn giữ vững quyền uy lâu dài, trước hết người đứng đầu phải biết giữ mình yên tĩnh, ngay thẳng, điềm đạm — yên tĩnh thì mới nhìn xa được, điềm đạm thì mới sáng suốt được, không để lộ tâm tư ra ngoài thì đối phương mới không đoán được đường đi nước bước của mình mà tìm cách khống chế ngược lại.
Mượn mắt, mượn tai của cả thiên hạ mà nhìn, mà nghe
Sách viết: mắt quý ở chỗ sáng, tai quý ở chỗ thính, tâm quý ở chỗ khôn ngoan. Nếu biết dùng con mắt của cả thiên hạ mà nhìn thì không gì là không thấy, dùng tai của cả thiên hạ mà nghe thì không gì là không biết, dùng cái tâm của cả thiên hạ mà suy nghĩ thì không gì là không hiểu thấu — ba điều ấy hội đủ thì trong ngoài đều sáng tỏ, không kẻ gian tà nào còn có thể che mắt bịt tai người cầm quyền được nữa. Cũng chính vì lẽ đó mà sách khuyên người đứng đầu phải rộng mở cửa đón nhận lời góp ý, nhưng đón nhận không có nghĩa là cả tin: lời can gián đúng sai lẫn lộn, từ chối nghe thì tự bịt mắt bịt tai mình, nhưng nghe mà không biết phân định phải trái thì cũng dễ bị kẻ xấu lợi dụng. Tinh thần "nhìn cho tường, nghe cho rõ, nghĩ cho thấu" ấy gần với điều mà chín điều suy nghĩ của người quân tử từng nhắc tới — nhìn thì nghĩ cho sáng tỏ, nghe thì nghĩ cho thông suốt, chứ không chỉ dừng ở việc nhìn thấy, nghe thấy theo bản năng.
Thưởng phải giữ chữ tín, phạt phải giữ lẽ công bằng
Một nguyên tắc khác được thiên Phù Ngôn nhấn đi nhấn lại: dùng thưởng thì quý ở chỗ giữ đúng lời hứa, dùng hình phạt thì quý ở chỗ công bằng ngay thẳng. Nếu nói thưởng mà không thưởng, nói phạt mà lại nương tay, uy tín của người cầm quyền coi như mất hết. Câu chuyện về Tư Mã Nhương Thư thời Xuân Thu là một minh chứng rõ ràng. Ông xuất thân nghèo hèn, được vua Tề cất nhắc lên làm tướng, tự biết binh sĩ chưa phục mình nên xin vua cử thêm một đại thần được sủng ái là Trang Giả làm giám quân để tăng uy tín. Trước ngày xuất quân, hai người hẹn gặp nhau đúng giờ ngọ ở cổng doanh trại. Nhương Thư tới từ sớm, dựng đồng hồ cát để tính giờ, còn Trang Giả cậy mình được vua yêu, mải mê tiệc tùng tiễn biệt bạn bè nên tới trễ. Nhương Thư không đợi, ra lệnh đổ hết cát trong đồng hồ, cho quân tập hợp đọc quân luật. Khi Trang Giả tới nơi lúc trời gần tối, Nhương Thư hỏi quân chính ty theo luật thì tội đến trễ giờ xử thế nào, được đáp "chém đầu", liền cho chém Trang Giả ngay tại quân môn để răn cả ba quân, dù sứ giả của vua cầu xin tha mạng cũng chưa kịp về tới nơi. Từ đó quân sĩ ai nấy đều khiếp sợ mà tuân lệnh răm rắp, quân Yên, Tấn nghe uy danh cũng tự động rút lui không dám đối đầu. Thưởng phạt không thiên vị, không nể nang địa vị, dù có phải trả giá bằng một người từng được vua sủng ái, cũng chính là điều mà Khổng Tử từng bàn tới khi nói về việc lấy ngay thẳng mà đáp lại oán hờn thay vì tuỳ tiện lấy ân đức che lấp cho cái sai.
Hán Thiệu Đế mười bốn tuổi vạch trần bức thư giả
Không tin lời sàm tấu, không nghe lời phỉ báng cũng là một cách giữ vững sự sáng suốt mà thiên Phù Ngôn đề cao. Hán Vũ Đế trước khi mất đã gửi gắm ấu chúa Hán Thiệu Đế cho bốn đại thần phụ chính, trong đó Hoắc Quang nắm quyền lớn nhất. Vì tính ngay thẳng, không biết giữ thể diện cho ai, Hoắc Quang bị một nhóm đại thần đố kỵ cấu kết với Yên vương Lưu Đán âm mưu hãm hại. Nhân lúc Hoắc Quang xin nghỉ phép, nhóm này giả một bức thư mạo danh Lưu Đán, tố cáo Hoắc Quang tự ý điều thêm quân, có ý làm phản, rồi cho người đưa thẳng tới tay Hán Thiệu Đế. Sáng hôm sau Hoắc Quang vào chầu, nghe chuyện liền bỏ mũ quỳ xuống chờ tội. Hán Thiệu Đế khi ấy mới mười bốn tuổi lại điềm tĩnh bảo ông đội mũ lên, nói thẳng đã biết bức thư là giả: việc điều quân mới xảy ra chưa đầy mười ngày, Yên vương ở tận phương bắc xa xôi làm sao biết nhanh đến vậy mà tố cáo kịp thời; hơn nữa nếu thật có ý làm phản thì cũng chẳng cần dựa vào vài viên quan võ nhỏ nhoi. Nói xong liền hạ lệnh truy bắt kẻ đưa thư, quả nhiên người này đã bỏ trốn từ trước, càng chứng tỏ trong chuyện có điều mờ ám. Từ vụ việc ấy, Hán Thiệu Đế càng thêm tin dùng Hoắc Quang, còn nhóm người vu cáo sau này mưu đồ giết luôn cả Hoắc Quang lẫn phế truất nhà vua cũng sớm bị phát giác, toàn bộ bị trừng trị. Một vị vua nhỏ tuổi mà biết dùng cái đầu tỉnh táo để soi xét đúng sai, không để lời gièm pha làm lung lay lòng tin đã đặt đúng chỗ, đó chính là cách "dùng tâm của thiên hạ mà suy nghĩ" được nói tới ngay từ đầu thiên sách.
Chén rượu của Tống Thái Tổ nặng hơn cả lưỡi gươm
Giữ vững ngôi vị đôi khi không cần tới bạo lực. Tống Thái Tổ Triệu Khuông Dẫn sau khi khoác hoàng bào lên ngôi vẫn canh cánh nỗi lo về đám công thần nắm trong tay binh quyền cấm quân — chính ông cũng từng nhờ binh quyền mà đoạt ngôi nên hiểu rõ mối hoạ này hơn ai hết. Theo lời khuyên của mưu sĩ Triệu Phổ, một đêm đầu tháng bảy, ông mở tiệc mời các tướng lĩnh thân tín tới uống rượu, đợi lúc mọi người đã ngà say liền cho lui hết người hầu, than thở rằng làm thiên tử thật gian nan, đêm nào cũng mất ngủ. Đám tướng ngạc nhiên hỏi lý do, ông thẳng thắn đáp: ngôi vị hoàng đế ai mà chẳng muốn ngồi, nếu một ngày nào đó thuộc hạ của các khanh cũng khoác hoàng bào lên người các khanh như từng khoác lên người ta, thì các khanh có cưỡng lại được không? Cả đám tướng lĩnh nghe xong toát mồ hôi lạnh, đồng loạt quỳ xin một con đường sống. Tống Thái Tổ liền khuyên họ nên tự nguyện giao lại binh quyền, đổi lấy ruộng vườn, nhà cửa, tiền của để an hưởng tuổi già bên con cháu. Hôm sau, tất cả đều dâng biểu xin cáo bệnh, xin trả lại binh quyền, ông vui vẻ chuẩn tấu và còn hậu thưởng thêm cho mỗi người. Sự kiện này về sau được sử sách gọi là "chén rượu giải binh quyền" — không giết một ai, không đổ một giọt máu, mà vẫn giải quyết được mối hoạ ngàn cân treo trên đầu vương triều mới lập. Lấy cái mềm mỏng mà thắng cái cứng rắn, giữ trọn vẹn cả ngôi vị lẫn tình nghĩa với những người từng vào sinh ra tử cùng mình, đó là cách vận dụng đến mức tinh vi của đạo "an từ chính tĩnh" mà thiên Phù Ngôn đã nói ngay từ câu mở đầu.
Khang Hy: hợp lòng dân trước, mở rộng tai mắt sau
Việc trị vì thiên hạ, xét cho cùng vẫn là việc của lòng người, số ít không thể áp đảo được số đông. Đầu đời Khang Hy, giới quý tộc Mãn Châu vẫn duy trì hàng loạt luật lệ hà khắc phân biệt đối xử với người Hán, trong đó có luật nô bộc bỏ trốn: người trốn khỏi nhà chủ nếu tái phạm nhiều lần có thể bị xử tử, cả nhà hàng xóm chứa chấp cũng bị liên đới trừng phạt. Nhận ra luật lệ này chỉ khoét sâu thêm mâu thuẫn Mãn Hán, Khang Hy từng bước sửa đổi cho nhẹ bớt, đồng thời chủ động học chữ nghĩa, kinh điển Nho gia, đích thân tới Khúc Phụ tế lễ Khổng Tử, khôi phục việc dùng lối văn khoa cử cũ mà giới sĩ phu người Hán vẫn quen thuộc. Những việc làm ấy dần dà thu phục được lòng tin của tầng lớp trí thức Hán tộc, biến một triều đại vốn bị xem là ngoại bang thành một vương triều được đông đảo thần dân chấp nhận.
Song song với việc hợp lòng dân, Khang Hy còn đặc biệt coi trọng việc mở rộng tai mắt để nắm tình hình bên dưới. Ông lập riêng đội ngũ ngôn quan có nhiệm vụ dâng tấu bẩm báo mọi việc liên quan tới đời sống dân sinh, tác phong quan lại địa phương, đồng thời tự mình đi tuần khắp nơi, hễ qua đâu cũng hỏi han dân chúng để đối chiếu lại những gì tấu chương báo lên. Ông từng thẳng thắn trách các đại học sĩ rằng bổng lộc triều đình nuôi họ không phải chỉ để lo việc giấy tờ, sao suốt một thời gian dài không thấy ai dâng lên một bản tấu nào đáng chú ý. Nhờ vừa dùng con mắt của thiên hạ để nhìn, tai của thiên hạ để nghe, vừa chịu khó tự mình đi tận nơi kiểm chứng, Khang Hy giữ được thời gian trị vì dài nhất trong lịch sử các vương triều Trung Hoa mà lòng dân vẫn yên ổn.
Lý Thế Dân: coi lời can gián là liều thuốc đắng dã tật
Một vị vua sáng suốt không chỉ biết mở rộng tai mắt ra bên ngoài, mà còn phải biết lắng nghe cả những lời trái ý ngay trong triều đình. Cha vợ của Lý Huân Thục Vương là Dương Dự có hành vi tranh giành nô tì ở địa phương, bị quan lang trung Tiết Nhân Phương bắt giữ để tra hỏi. Con trai Dương Dự tức giận tâu lên rằng quan ngũ phẩm trở lên nếu không phạm tội phản nghịch thì không được tự ý bắt giữ. Đường Thái Tông Lý Thế Dân nghe vậy nổi giận, cho là Tiết Nhân Phương cố ý gây khó dễ với người thân thích của hoàng thất, ra lệnh đánh một trăm gậy. Nguy Trưng lập tức can gián: dù là hoàng thân quốc thích cũng không nên vì thế mà đứng ngoài phép nước, Tiết Nhân Phương chỉ làm đúng chức trách, nếu trừng phạt ông ta nặng nề vì lý do này thì chẳng khác nào khuyến khích ngoại thích lộng hành, về sau khó lòng sửa lại được. Lý Thế Dân trầm ngâm một lúc rồi thừa nhận là mình chưa nghĩ thấu đáo, giảm hình phạt xuống còn hai mươi gậy rồi sau đó xá miễn hẳn.
Điều đáng quý hơn cả là chính Lý Thế Dân, trong một lần trò chuyện riêng với Nguy Trưng, đã thẳng thắn tự nhận: ba năm đầu sau khi lên ngôi, nghe lời can gián thẳng thắn ông đều vui vẻ tiếp nhận thật lòng, nhưng một vài năm gần đây tuy ngoài mặt vẫn miễn cưỡng nghe theo, trong lòng đôi lúc lại không thoải mái, nét mặt cũng lộ vẻ không vui. Một vị vua tự nhận ra khuyết điểm của chính mình mà không cần ai vạch ra trước là điều hiếm có; cũng chính nhờ thái độ ấy mà những lời can gián của Nguy Trưng, dù nghịch tai tới đâu, vẫn được xem như một liều thuốc bổ chứ không phải một sự xúc phạm, giúp thời kỳ trị vì của ông về sau được sử sách gọi là "đời trị Trinh Quán".
Danh phải xứng với thực, cửa hàng phải giữ đúng lời rao
Thiên Phù Ngôn nêu một nguyên tắc tưởng chừng đơn giản nhưng lại là gốc rễ của mọi uy tín lâu dài: danh xưng phải nương theo đúng thực chất, thực chất lại nương theo đạo lý, đạo lý nương theo đạo đức — danh và thực gắn bó, sinh thành lẫn nhau thì mới bền vững; còn nếu danh đi trước, thực chạy theo sau không kịp, sớm muộn cũng lộ ra chỗ hổng. Nguyên tắc "danh xứng với thực" này gần gũi với điều Khổng Tử từng dạy học trò Tử Lộ khi bàn tới việc chính danh — danh không chính thì lời nói không thuận, lời nói không thuận thì việc không thành.
Chuỗi cửa hàng đồ ăn nhanh McDonald của Mỹ giữ vững khẩu hiệu chất lượng tốt, phục vụ thân thiện, vệ sinh sạch sẽ, hàng thật giá thật ngay từ ngày mới thành lập cho tới khi đã có hàng nghìn cửa hàng khắp thế giới, khoai tây chiên hơi cháy một chút cũng lập tức bị loại bỏ không thương tiếc. Một hiệu thuốc gia truyền trăm năm của Trung Quốc từng cứu sống một nạn nhân động đất mắc kẹt suốt ba mươi chín ngày chỉ bằng một viên thuốc quý, dù nguyên liệu ngày càng khan hiếm, sản lượng mỗi năm chỉ vỏn vẹn vài chục nghìn viên, vẫn nhất quyết không pha loãng nguyên liệu để chạy theo số lượng, thà bán ít còn hơn đánh mất chữ tín đã gây dựng cả trăm năm. Ở một khía cạnh hài hước hơn, có một câu chuyện dân gian phương Tây kể về ba hiệu may nằm cạnh nhau trên một con phố: hiệu đầu tiên treo biển "thợ may giỏi nhất thành phố", hiệu thứ hai không chịu thua liền treo biển "thợ may giỏi nhất cả nước", ai cũng đoán hiệu thứ ba sẽ ghi "thợ may giỏi nhất thế giới", nhưng người chủ khôn ngoan ấy lại chỉ treo một tấm biển giản dị "thợ may giỏi nhất con phố này" — và chính sự khiêm tốn, sát với sự thật ấy lại khiến khách hàng tin tưởng nhất. Một câu chuyện tương tự kể về hai quán rượu sát vách nhau, một quán quảng cáo "rượu tuyệt đối không pha nước", quán kia lại thành thật thừa nhận "rượu có pha một phần nước, ai không thích xin báo trước", kết quả quán thành thật hoá ra lại đông khách hơn hẳn, vì người ta đã quá quen với những lời quảng cáo khoa trương sáo rỗng, chỉ còn tin vào sự thẳng thắn.
Từ chiếc thẻ binh phù ghép đôi thời cổ cho tới tấm biển hiệu giản dị trên một con phố, cùng chung một đạo lý: lời nói, danh xưng, lời hứa chỉ thật sự có giá trị khi nó khớp đúng với những gì đang thật sự diễn ra phía sau.
Nguồn: Quỷ Cốc Tử - Mưu Lược Toàn Thư (Công ty Văn hóa Minh Lâm xuất bản, 2010), phần Phù Ngôn, cùng nguồn sử liệu Sử Ký, Hán Thư, Tống Sử, Thanh Sử Cảo, Đường Thư về Tư Mã Nhương Thư, Hán Thiệu Đế, Triệu Khuông Dẫn, Khang Hy, Lý Thế Dân.
