Bài tổng quan
Hoa văn cát tường, tranh chữ và chậu cảnh trang trí tiệm
Con dơi đọc gần chữ phúc, con cá đọc gần chữ dư, quả táo đọc gần chữ bình, nên nhà buôn xưa treo lên tường cả một vườn hoa lẫn một sở thú. Mỗi hình vẽ là một câu chúc ghép bằng tiếng đồng âm. Còn đôi sư tử đá trước cửa tòa nhà thương mại thì mang ý gì...
Làm đẹp cửa hàng thanh nhã để tràn sinh khí
Môi trường kinh doanh không chỉ cần thông thoáng, sáng sủa, ngăn nắp, sạch sẽ, mà còn cần chú trọng thẩm mỹ, trang nhã lịch sự, để cửa hàng tràn đầy sinh khí. Nhờ vậy khi khách tìm đến, ngoài thái độ phục vụ chu đáo nhiệt tình, họ còn cảm nhận được hơi thở cảnh vật tươi đẹp và giữ lại ấn tượng sâu sắc về cửa hàng.
Theo phong cách Trung Quốc, trang trí cửa hàng chủ yếu có ba cách: một là trang trí bằng những hoa văn mang ý nghĩa cát tường; hai là treo tranh chữ; ba là bày điêu khắc và chậu cảnh.
Trong nền văn hóa truyền thống mấy nghìn năm của Trung Quốc đã hình thành nhiều hoa văn họa tiết biểu thị sự cát tường. Chúng phản ánh sự theo đuổi và hướng về một cuộc sống hạnh phúc tươi đẹp của con người. Hình vẽ cát tường truyền thống phần lớn lấy hạnh phúc làm đề tài, và chia làm hai nhóm chính: cây cối và động vật.
Hoa cỏ cây cối mang ý cát tường
Mỗi loài cây được chọn không phải vì dáng đẹp mà vì cái tên và tính nết của nó đã mang sẵn một lời chúc.
Hoa hồng nở bốn mùa nên gọi là hoa bốn mùa hay hoa trường xuân, mang ý trường thọ. Hoa hồng cắm trong bình gọi là “bốn mùa bình an”.
Hoa cúc và đá. Tích cổ ở huyện Nam Dương kể rằng có một loài đại cúc, nước suối từ núi chảy xuống mang chất của loài cúc ấy, dân trong vùng uống nước suối đều sống lâu, nên gọi cúc ấy là hoa trường thọ. Bức tranh nhiều hoa cúc gọi là “tranh vạn thọ”. Đá biểu thị sự kiên cố vững chắc, có tên là “thọ thạch”; trong tranh có cúc và có đá thì nói là “thọ thượng gia thọ”, thọ chồng thêm thọ.
Cây bàn đào. Tương truyền bàn đào là loại quả tiên do Tây Vương Mẫu trồng, ba nghìn năm mới ra hoa, ba nghìn năm mới kết quả, nên lấy cây bàn đào tượng trưng cho trường thọ; cây đào và hoa đào bình thường cũng được xem có ý nghĩa ấy. Bàn đào phối với linh chi gọi là “tiên thọ”; phối với con dơi gọi là “phúc thọ”.
Cây tùng xanh tốt quanh năm, chịu được giá tuyết mùa đông, sống lâu, nên dân gian thường dùng để ví với trường thọ. Tùng phối với chim hạc được gọi là “tùng hạc hà linh”, “tùng hạc trường thọ”, “tùng hạc diên niên”, “hạc thọ tùng linh”.
Thủy tiên. Tên của nó có chữ “tiên”, nên trong nhiều hình và lời cát tường, thủy tiên thường dùng để chúc điều lành. Thủy tiên phối với thọ thạch gọi là “quần tiên hiến thọ”; với linh chi, trúc, đá thì gọi là “chi tiên chúc thọ”; với đá và trúc gọi là “tiên chúc trường sinh”.
Thạch lựu có rất nhiều hạt, biểu thị đông con nhiều cháu. Hình thạch lựu hé nở gọi là “lựu khai bách tử” hoặc “lựu khai tiếu khẩu”.
Hồ lô là loại dây leo rất dài, kết quả liên tục, nhiều hạt, tượng trưng cho hậu thế nối dài, con cháu đầy đàn. Hồ lô quấn quanh hoa lan tượng trưng cho tình hữu nghị; hồ lô phối với hoa hồng tượng trưng cho “vạn đại lưu phương”.
Mẫu đơn lộng lẫy nên được gọi là hoa vương, vua của các loài hoa, xem như “hoa phú quý”. Mẫu đơn phối với ngọc lan, hải đường gọi là “ngọc đường phú quý”; phối với phù dung là “vinh hoa phú quý”; kết hợp với hoa tứ quý là “bốn mùa phú quý”; phối với tùng là “trường mệnh phú quý”; kết hợp với hải đường là “mãn đường phú quý”. Cũng có khi dùng ngọc lan, hải đường, phù dung và hoa quế tạo thành hình cát tường “ngọc đường phú quý”.
Phù dung có hai chữ “dung hoa” đọc gần với “vinh hoa”, nên cũng là hoa cát tường tượng trưng cho phú quý. Phù dung thêm một con cò trắng gọi là “nhất lộ vinh hoa”. Hoa quế có chữ “quế” đồng âm với chữ “quý” trong phú quý, nên hay được mượn để ví với “vạn đại phú quý”.
Tùng, trúc, mai được gọi là “tuế hàn tam hữu”, ba người bạn mùa giá rét, không khuất phục trước hoàn cảnh gian khổ, chịu được rét mùa đông mà vẫn đứng vững; trong tranh cát tường ba loài này thường ví với khí tiết cao thượng. Tùng còn mang nghĩa trường thọ. Trong tiếng Hán, chữ “trúc” đọc gần chữ “chúc” trong chúc phúc, lại là hình quả pháo nổ, mà tiếng pháo được cho là xua được ma quỷ. Hoa mai ngoài khí tiết, phối với chim hỷ tước thì gọi là “hỷ thượng mi tiêu”, niềm vui hiện trên khóe mắt.
Cây hồng và linh chi. Chữ “thị” trong cây hồng đồng âm với chữ “sự” trong sự việc, còn hình dáng linh chi tượng trưng cho như ý; hai thứ đi cùng nhau có nghĩa “sự sự như ý”. Thêm hoa bách hợp thì gọi là “bách sự như ý”. Quả táo có chữ “bình” đồng âm với chữ “bình” trong bình an; kết hợp với linh chi gọi là “bình an như ý”.
Muông thú mang ý cát tường
Từ voi đến dơi, từ gà trống đến cá chép, con vật nào cũng chở theo một chữ có thể đọc thành lời chúc.
Voi khỏe mạnh, to lớn, tính tình ôn thuận, là con vật tượng trưng cho cát tường. Trong tranh có đứa trẻ tay cầm gậy như ý cưỡi trên lưng voi, biểu thị “cát tường như ý”.
Dê. Thời cổ chữ “dương” (dê) và chữ “tường” liên kết với nhau, “cát tường” nhiều khi viết thành “cát dương”. Thời cổ “dương” (dê) lại liên quan đến “dương” (mặt trời). Kinh Dịch cho tháng giêng là quẻ Thái, ba dương sinh từ dưới, lúc ấy đông qua xuân đến, âm tiêu dương trưởng, tượng trưng sự tốt lành. Vì thế người ta dùng lời chúc “tam dương khai thái” cho năm mới. Bức tranh ba con dê ngẩng đầu hướng về mặt trời là bức tranh mang ý cát tường.
Rồng và phượng. Rồng là loài vật thần kỳ trong truyền thuyết cổ Trung Quốc: thân dài, có vảy, có sừng, có chân, đi được, bay được, bơi được, hô mây gọi mưa. Rồng là bảo vật thần bí, không dễ hiện thân; khi rồng xuất hiện là điềm thiên hạ thái bình, được coi là con vật mang may mắn nhất. Phượng thời cổ là tượng trưng của điềm lành; dân gian truyền rằng nơi phượng hoàng không đậu thì không có bảo ngọc, nên phượng hoàng thành con vật cát tường trong tranh dân gian. Rồng tượng trưng cho dương, phượng cho âm; rồng phượng kết hợp là biểu tượng cuộc hôn nhân lý tưởng nhất thiên hạ.
Khỉ. Chữ “hầu” (khỉ) đồng âm với “hầu” trong công hầu, nên được mượn để ví với việc phong hầu. Ví dụ tranh vẽ một con khỉ trèo lên cây phong có treo một con dấu là bức cát tường “phong hầu treo ấn”. Hai con khỉ ngồi trên cây tùng, hoặc một con khỉ cưỡi trên lưng con khác, ngụ ý “bối bối phong hầu”.
Kỳ lân. Kỳ lân, rồng, phượng và rùa hợp lại gọi là “tứ linh”. Theo truyền thuyết, sao Mộc sinh ra kỳ lân, là điềm lành. Dân gian còn coi kỳ lân là linh thú đưa quý tử đến, nên có bức tranh cát tường “kỳ lân tống tử”.
Hạc được coi là loài đứng đầu loài lông vũ, gọi là “nhất phẩm điểu”, địa vị chỉ đứng sau phượng hoàng. Truyền thuyết kể hạc sống thọ vô lượng, giống rùa được coi là vua của sự trường thọ, nên dân gian thường lấy hình “hạc thọ”; vẽ các vị tiên chắp tay chúc thọ trên lưng hạc gọi là “quần tiên hiến thọ”; vẽ hạc đứng chầu bên đá núi gọi là “nhất phẩm đương triều”.
Chim cút không đổi bạn đời, luôn đi có đôi, tạo hình ảnh không bao giờ chia lìa, được xem là biểu tượng của sự tốt đẹp hòa hợp trong tình cảm vợ chồng. Tiếng đọc của chim cút gần với chữ “an”, nên chim cút còn tượng trưng cho bình an. Tranh vẽ hai con chim cút đứng bên hoa cúc, có hai chiếc lá rụng bay lượn trên không, mượn âm đọc của “chim cút”, “cúc”, “lá rụng” để biểu thị “an cư lạc nghiệp”. Vẽ chín con chim cút cùng một khóm hoa cúc gọi là “cửu thế an cư”.
Uyên ương. Người xưa gọi uyên ương là phỉ điểu, con trống bên trái con mái bên phải, hình ảnh không thể chia lìa: bay thì cùng nhịp cánh, bơi thì cùng đùa giỡn, đậu thì liền cánh giao cổ mà ngủ; nếu một con chết thì con kia cả đời không kết đôi với con khác. Uyên ương tượng trưng cho hôn nhân và tình yêu lý tưởng. Tranh vẽ uyên ương với hoa sen gọi là “uyên ương quý tử”; với hoa trường xuân gọi là “uyên ương trường an”, “uyên ương trường lạc”; đôi uyên ương bơi trong hồ sen gọi là “uyên ương hí hà”, “uyên ương hỷ hà”.
Hỷ tước (chim khách): truyền thuyết kể chim hỷ tước báo được tin vui, nên được dùng rộng rãi để báo việc mừng. Vẽ mười hai con chim hỷ tước biểu thị mười hai nguyện vọng tốt đẹp; vẽ một đôi biểu thị song hỷ; vẽ một quan nhân cưỡi ngựa với rất nhiều chim hỷ tước xung quanh biểu thị “song hỷ lâm môn”; vẽ chim hỷ tước với trúc, mai biểu thị chúc mừng vợ chồng tân hôn.
Gà trống. Dân gian ví gà trống với chuyện “công danh”. Vẽ một con gà trống vươn cổ gáy, bên cạnh vài cành mẫu đơn biểu thị phú quý, gọi là “công danh phú quý”. Vẽ một gà trống và năm gà con gọi là “ngũ tử đăng khoa”. Vì tiếng “gà trống” đọc gần với chữ “cát”, nên trên các phố buôn bán người ta hay lấy gà trống làm đề tài, gọi là “khai thị đại cát”, “đại cát đại lợi”, để chúc người buôn bán khai trương đại cát.
Con dơi là loài thú có vú biết bay lượn; vì âm đọc giống chữ “phúc” nên dơi thành con vật tượng trưng cho vận khí tốt và hạnh phúc. Họa tiết hay bức vẽ có hai con dơi biểu thị vận tốt nhân đôi; năm con dơi biểu thị “thiên tứ ngũ phúc”, tức trường thọ, sung túc, mạnh khỏe, lương thiện, ra đi tại nhà; vẽ một chữ thọ kiểu chữ triện ở giữa, bốn con dơi xung quanh, một con dang cánh ngay giữa chữ thọ, biểu thị “ngũ phúc chúc thọ”; vẽ một hoặc hai đồng tử bắt dơi cho vào bình hoa lớn biểu thị “ngũ phúc bình an”. Dân gian còn cho dơi đỏ là điềm đặc biệt tốt; nhìn thấy dơi đỏ báo hiệu điềm lành cả đời, “hồng phúc vô lượng”.
Cá. Vì âm đọc của “cá” giống chữ “dư” trong dư thừa, nên người ta hay lấy cá ví với cuộc sống sung túc dư dả. Trong tranh cát tường thường gặp đứa trẻ cưỡi cá hoặc ôm con cá chép to gọi là “song ngư cát khánh”; cá với hoa sen gọi là “phú quý hữu dư”; hai con cá nhảy gọi là “niên niên hữu dư”; chín con cá gọi là “trường cửu phú dụ”. Lại vì “cá chép” đọc gần chữ “lợi”, nên tranh cá chép gọi là “cát lợi hữu dư”. Cá vàng kết hợp với hoa hải đường gọi là “kim ngọc mãn đường”.
Ở Trung Quốc, tranh vẽ cát tường lưu truyền trong dân gian rất phong phú. Đồ trang trí trong cửa hàng như thảm trải nền, gạch hoa, gạch lát, sàn cao su, giấy dán tường, nếu được trang trí bằng vài hình họa tiết cát tường hợp tâm lý văn hóa của người Trung Quốc thì dễ được khách chấp nhận, và cũng làm người kinh doanh thêm gửi gắm lòng tin. Trang trí bằng hình vẽ, họa tiết cát tường đạt hai tác dụng: truyền bá văn hóa dân tộc và làm đẹp cửa hàng. Các nhà phong thủy cũng thường dùng cách này để tăng thêm phong thủy cho cửa hàng.
Tranh chữ, sư tử đá và chậu cảnh
Một đôi tranh treo cân xứng, một đôi tượng đứng hai bên, một chậu xanh bên cửa: ba cách đưa văn hóa vào sảnh buôn bán.
Treo tranh chữ ở sảnh chính của cửa hàng cũng là một truyền thống văn hóa Trung Quốc. Thư pháp và quốc họa Trung Quốc có thể gọi là bậc nhất thế giới, giá trị nghệ thuật và giá trị thưởng thức rất cao. Treo một đôi tranh chữ ở chỗ thích hợp trong cửa hàng, nhất là tranh chữ của các danh họa và nhà thư pháp nổi tiếng trong nước, sẽ làm cửa hàng sinh động rực rỡ, vừa tuyên truyền không khí văn hóa cao quý thanh nhã của cửa hàng, vừa tăng danh tiếng cho cửa hàng.
Với người Trung Quốc, cân bằng là một nguyên tắc quan trọng phải theo trong thiết kế mỹ cảm nghệ thuật. Vì vậy trong cửa hàng, hễ treo quốc họa hay thư pháp thì hai bức phải đối ứng, tốt nhất độ dài và độ rộng bằng nhau, thậm chí màu sắc và kiểu dáng cũng thống nhất, hợp với quan niệm cân bằng trong ý thức thẩm mỹ. Nguyên tắc cân bằng ấy cũng áp dụng khi bày chậu cảnh và điêu khắc trong cửa hàng.
Trong dân gian, sư tử đá tượng trưng cho sức mạnh và quyền lực, thường dùng trang trí cung điện, chùa chiền, miếu thờ, cửa ngõ, bến sông, cây cầu, như một con vật linh thiêng trừ tà. Nay dùng sư tử đá trước các công trình kiến trúc đã thành tiêu chí văn hóa đặc trưng của Trung Quốc. Vì thế trước tòa nhà trung tâm thương mại có thể xét việc đặt một đôi sư tử đá. Theo cách nói của phong thủy, đó là để trấn tà cho tòa nhà. Thực ra, nhìn từ cảnh quan học, tòa nhà thương mại và đôi sư tử đá oai hùng làm nổi bật lẫn nhau, càng làm rõ vẻ ổn định, vững vàng, hùng tráng, khiến người ta cảm nhận được sự vững chãi đáng tin của tòa nhà.
Dĩ nhiên trước cửa tòa nhà thương mại bày điêu khắc cũng không nhất thiết giới hạn ở sư tử đá truyền thống. Có thể dùng loại hình động vật khác, điêu khắc nhân vật, thậm chí điêu khắc hình khối hình học trừu tượng mang màu sắc ý thức hiện đại; nhưng cần theo nguyên tắc là tạo hình và phong cách nhất định phải hài hòa đồng điệu với tòa nhà, làm nổi bật hiệu quả nghệ thuật cho tòa nhà.
Dù là chợ hay cửa hàng, đều là nơi mọi người đến mua hàng, người đến người đi không thể không mang theo bụi đất và khí nóng. Theo phong thủy, bụi đất và khí nóng là một loại sát khí và dương khí; nhiều quá nghĩa là sát khí và dương khí quá nặng, phải dùng âm khí và sinh khí để điều chỉnh, nhằm đạt cân bằng âm dương. Nói thế nào đi nữa thì khách đi lại mang bụi đất và khí nóng vào cửa hàng sẽ làm ô nhiễm không khí, làm bẩn hàng hóa, đồ trang trí, quầy hàng, thậm chí cả khách và người kinh doanh, nên cần xử lý có hiệu quả.
Để xử lý bụi đất, khí nóng có hiệu quả mà đồ dùng để xử lý chúng lại vẫn làm đẹp cho cửa hàng, tốt nhất là dùng chậu cây cảnh xanh tươi và những chậu hoa truyền thống. Thực vật xanh tươi và hoa đẹp đem lại cảm giác sinh khí tràn đầy, trang nhã tươi đẹp. Vì thế ở những nơi khách cần và thường đến như cửa ra vào, cầu thang, bên cạnh ghế nghỉ, bày vài chậu cây cảnh rậm rạp xanh tươi hoặc vài chậu hoa đang hé nở thì được hai tác dụng: vừa loại bỏ bụi đất, khí nóng, tăng cảm giác tươi mới trong cửa hàng, vừa tô điểm cho cửa hàng.
Chậu cảnh làm được việc làm trong lành không khí, tiêu trừ khí nóng và tô điểm trang trí là nhờ sự xanh tươi của cây hoa biểu hiện một sức sống dào dạt. Vì thế sau khi đưa chậu cây vào cửa hàng phải giữ được nét đặc sắc ấy: cố gắng bảo vệ, thường xuyên tưới nước bón phân, dọn cành khô lá héo để chậu luôn xanh. Nếu thấy cây hoa có cành khô thì phải kịp thời loại bỏ, nếu không sẽ mang lại cảm giác suy bại.
Tóm lại, mục đích của việc trang trí cửa hàng là tạo cho khách một môi trường mua sắm tươi mới thanh nhã, từ đó thúc đẩy tiêu thụ hàng hóa.
Nguồn: Thiệu Vĩ Hoa, Phong Thủy Toàn Thư.
