Bài tổng quan
Đồng bằng chôn đất, thảo nguyên hỏa táng, núi cao nhiều lối
Ở Tây Nam Trung Quốc, giữa đỉnh núi và đáy vực có nơi chênh nhau hơn hai nghìn rưỡi mét, núi này với núi kia tuy gần mà mỗi nơi chôn người một kiểu. Nhưng cách đó hàng nghìn cây số về phía Đông Bắc, người ta lại gieo quẻ chọn đất mộ y như vậy…
Nơi chôn người chết chịu ảnh hưởng của trời đất đến đâu
Môi trường tự nhiên là một trong những điều kiện quan trọng quyết định tục chôn cất. Thời càng nguyên thủy thì sức tác động của nó càng lớn; ở một số thời kỳ và hoàn cảnh đặc biệt, nó còn quyết định cả phương pháp, hình thức lẫn nghi lễ mai táng. Nhưng nhìn cả dòng lịch sử, tự nhiên chỉ giữ vai trò quan trọng chứ không mang tính quyết định.
Đồng bằng chôn đất, thảo nguyên hỏa táng, núi cao nhiều lối
Mở bản đồ ra, những kiểu mộ không rải đều như hạt vãi; chúng dồn lại theo thế đất.
Xét theo điều kiện tự nhiên và địa lý, các loại mộ phân bố có quy luật. Mộ ở vùng đồng bằng tương đối thống nhất, mộ ở vùng núi rừng cao và cao nguyên thì phức tạp hơn. Đồng bằng thường thịnh hành thổ táng, thảo nguyên lưu hành hỏa táng, còn miền núi và cao nguyên có nhiều cách: thổ táng, hỏa táng, thạch táng, phong táng, thủy táng, nhai táng, thiên táng.
Cách phân bố ấy không ngẫu nhiên. Đồng bằng giao thông thuận lợi, kinh tế và văn hóa dễ giao lưu, rất dễ dựng nên một chính quyền thống nhất. Hoàn cảnh ấy giúp văn hóa thống nhất, và tục chôn cũng đi theo hướng thống nhất. Đồng bằng Hoa Bắc và đồng bằng trung hạ lưu Trường Giang, từ sau Tần, Hán, chủ yếu phát triển dưới sự cai trị của một chính quyền thống nhất. Trong thời gian đó có mấy lần chia cắt tạm thời, nhưng chỉ là chia cắt quyền lực chính trị chứ không phải chia cắt văn hóa. Vì vậy tục chôn ở đây từ sau Tần, Hán về cơ bản thống nhất, thịnh hành thổ táng.
Tây Nam, nơi núi này khác núi kia
Giữa những vực sâu hai nghìn rưỡi mét, mỗi dòng người giữ lấy một cách tiễn người thân của riêng mình.
Điều kiện tự nhiên của vùng Tây Nam Trung Quốc phức tạp, tục chôn ở đây cũng phức tạp theo. Phía bắc là cao nguyên Thanh Tạng, "nóc nhà của thế giới", phía nam là cao nguyên Vân Quý; phía bắc còn có núi Tần Lĩnh, núi Mễ Thương, núi Đại Ba, phía đông có núi U Sơn và Tam Hiệp, phía đông nam có núi Đại Lâu, núi Vũ Lăng và dãy Nam Lĩnh. Địa thế ấy khiến việc đi lại khó khăn, cản trở giao lưu kinh tế, văn hóa với bên ngoài, tạo ra sự khép kín về văn hóa, ý thức dân tộc và ý thức địa phương rất sâu.
Miền núi non cao vực sâu, độ chênh giữa đỉnh núi và đáy vực dọc các sông như Kim Sa, Nộ Giang lên đến hơn 2.500 mét. Địa thế ấy dễ phòng thủ, khó bị tấn công, tiện cho việc chiếm giữ một vùng và xưng hùng. Vì thế các dân tộc Tây Nam không dễ kết thành một khối thống nhất như các dân tộc thảo nguyên phương Bắc, nên cũng không tạo ra mối đe dọa lớn cho nhà Hán. Ngược lại, nhà Hán cũng không thể xua họ đi nơi khác như đã làm với các dân tộc thảo nguyên.
Thêm nữa, khí hậu trên những vách cao này nuôi nên thảm thực vật phong phú. Đi từ chân núi lên đỉnh, người ta như đi từ vùng nhiệt đới lên vùng hàn đới. Điều kiện ấy thuận cho sản xuất: chân núi trồng trọt, trên núi chăn nuôi và săn bắt, người trên núi và người dưới núi trao đổi hàng hóa mà sống tự cung tự cấp. Đó cũng là nguyên nhân cơ bản giúp các dân tộc có phương thức sản xuất khác nhau cùng chung sống hòa bình. Những đặc điểm trên dẫn tới tính bảo thủ và ý thức về cái tôi dân tộc rất cao, thể hiện ở ngôn ngữ, ăn mặc, ẩm thực, nhà ở, giao thông và cả mai táng. Ở vùng núi cao, núi này với núi kia tuy gần nhau vẫn mỗi nơi một tục chôn.
Dải văn hóa hình bán nguyệt từ Đông Bắc đến Tây Nam
Hai vùng cách nhau hàng nghìn cây số, vậy mà người ta vẫn tìm thấy cùng một thói quen gieo quẻ trước khi chọn đất mộ.
Gần đây các nhà nghiên cứu vận dụng phương pháp nhân loại học và đi đến một phát hiện đột phá: Trung Quốc cổ có một vành đai truyền bá văn hóa hình bán nguyệt đi từ Đông Bắc, Nội Mông, Thanh Hải, Cam Túc cho đến Tây Nam. Trong vành đai ấy, nội dung văn hóa từ Đông Bắc đến Tây Nam về cơ bản giống nhau, và tục chôn cùng đồ tùy táng ở hai đầu đất cũng thống nhất hoặc tương tự.
Tư liệu dân tộc học cũng cho thấy nhiều điểm giống nhau. Đến thời cận hiện đại, một số dân tộc ở Đông Bắc và Tây Nam vẫn còn tục chôn bằng vỏ cây và tục bốc mộ; họ đều có thói quen dùng quả trứng gieo quẻ để chọn đất đặt mộ, chọn loại quan tài và chọn loại vỏ cây bọc thi thể. Có dân tộc tin rằng người chết có ba linh hồn nên làm nghi thức tiễn hồn, và nhiều nghi thức ở hai vùng gần như giống nhau. Về khảo cổ, những ngôi mộ thời đầu ở núi Miết Phượng, Kiếm Xuyên, Vân Nam (thời Xuân Thu) có tục chặt chân tay rồi mới chôn, giống tục chôn của văn hóa Tề Gia, nơi thân và đầu thi hài phải tách nhau. Trong các mộ này thịnh hành tục chôn theo thê thiếp: trong mộ đàn ông đặt một, hai người phụ nữ nằm ngửa, co tay chân. Loại mộ này và rất nhiều mộ ở Điền Tây thường thấy cả xương lợn chôn cùng.
Từ Đông Bắc đến Tây Nam cách nhau cả nghìn kilômét, vì sao có thể tìm thấy tục chôn và di vật giống nhau đến thế? Điều kiện tự nhiên hai vùng khác nhau rất lớn, nhưng ở những yếu tố cơ bản lại giống nhau đến ngạc nhiên. Độ cao so với mặt biển của vùng văn hóa này đều nằm trong khoảng 1.000 đến 3.500 mét, địa hình từ Đông Bắc tới Tây Nam tăng độ cao rất nhanh; bức xạ mặt trời hằng năm khoảng 110 kcal/cm²; thời kỳ thực vật sinh trưởng trên 200 ngày; lượng mưa trung bình khoảng 400 đến 600 mm; thực vật chủ yếu là thảo nguyên và núi cao, về cơ bản thống nhất. Điều kiện tự nhiên giống nhau có vai trò quan trọng trong việc hình thành đặc trưng văn hóa giống nhau. Khi di cư, các dân tộc thường chọn nơi có điều kiện tự nhiên giống chốn cũ; văn hóa cũng chỉ lan được khi hai nơi tương tự nhau. Trong vùng lan truyền ấy, những nội dung văn hóa như mai táng cũng phải tương tự.
Gió lạnh, đất ẩm và cách người xưa giữ thân xác
Có nơi để gió thổi cho khô xác, có nơi đặt quan tài lên vách đá cho tránh nước.
Mai táng và hoàn cảnh địa lý còn liên quan rất mật thiết. Ở Đông Bắc và Nội Mông thịnh hành tục phong táng, gắn với đặc trưng gió mạnh của khí hậu nơi đây: dưới sức gió lạnh, thi thể nhanh khô và không mục rữa. Phương Nam Trung Quốc xưa lại phổ biến treo quan tài, trước hết vì nhiều vách núi, sườn dốc dựng đứng. Có khi mối quan hệ giữa mai táng và môi trường còn thể hiện theo kiểu khác: đất phương Nam ẩm thấp, thi thể nhanh thối rữa, nên phương thức chôn của nhiều dân tộc phương Nam đều xoay quanh chuyện phòng ẩm và phòng thối rữa.
Người nước Sở và dân tộc Ba Thục đổ một lớp thạch cao trắng thật dày trong huyệt mộ. Một số dân tộc khác chọn nơi cao ráo, thoáng mát, đặt quan tài gỗ lên sườn núi cao, ấy là quan tài treo và nhai mộ. Có dân tộc lại đợi thi thể rữa hết mới bốc mộ, đặt cốt vào chiếc tiểu sành để xương không mục nát. Ngay những dân tộc dùng quan tài gỗ chôn dưới đất cũng phổ biến đặt mộ trên sườn dốc núi để tránh ngập nước. Tất cả là sự thích ứng với môi trường địa lý ẩm thấp. Đất ở vùng Tây Xương, nam Tứ Xuyên ăn mòn thi thể rất nhanh, nên người ta sáng tạo ra mộ đá. Mộ quan tài đá ở Tây Nam, nhất là vùng thượng lưu sông Trường Giang, thu hút sự chú ý của giới nghiên cứu: vị trí mộ cách mực nước biển càng cao thì thời đại càng sớm, và cùng với sự phát triển của kinh tế, khoa học, nơi đặt mộ cũng dần dời xuống thấp.
Nguồn: Thái Luân Thi, Mộ Táng Phong Thủy Toàn Thư.
