Bài tổng quan
Dáng sa quý và những dạng nước làm tan nhà nát cửa
Có những mảnh đất trông chẳng có gì, nhưng gò sa phía trước lại mang hình chiếc ấn, cái ngọc kỷ, chiếc mũ quan, và người xưa đọc ra cả một đời phú quý. Cũng có những dòng nước nhìn tưởng vô hại lại mang dáng giáo, dáng cung ngửa, dáng chân cong, và mỗi dáng hứa hẹn một kiểu tai họa. Từ chỗ nào ra chỗ nào mới đủ để biết...
Mục lục · 9 phần
- 01Khách sa quý cục: giữa sông nước mênh mông nổi lên một mảnh đất vuông
- 02Khách sa phú cục: kho hàng, cọc tiền và thùng đấu đong
- 03Sa quý ở phương nào, ứng với việc gì
- 04Tinh tú nằm xuống đất: khi sao không ở trên trời mà ở dưới chân
- 05Giữa đồng bằng rộng, không Quan Diệu cũng không đỉnh lạ
- 06Sa cát đứng trước, sa hung đứng bên: biết mà tránh
- 07Những dạng nước làm hao tài, tan người
- 08Ao hồ trước sau huyệt: xem hình, xem màu, xem vị
- 09Mười dạng thủy thành hung sát
Khách sa quý cục: giữa sông nước mênh mông nổi lên một mảnh đất vuông
Hãy hình dung một vùng sông nước bát ngát, ở giữa có một mảnh đất khá vuông vức, bằng phẳng, kết tụ lại và rộng chừng vài chục mẫu. Một phía có dải sa sơn hẹp và dài ôm lấy như bức tường thành. Phía trước mảnh đất, những gò sa nổi trên mặt nước mang hình chiếc ấn, hoặc hình quý nhân đang ngồi đọc sách; hai bên lại có những hình như cờ, như trống, như thị vệ đứng hầu.
Địa thế như vậy sẽ phát tài, phát phúc, quý hiển tột bậc mà bền lâu. Dù đó chỉ là do khách sa hợp lại mà thành, nó vẫn là tác phẩm kỳ diệu của tạo hóa, phúc lợi không đo đếm được. Điều cần làm là quan sát kỹ chỗ án sơn ứng hợp rồi mới định huyệt.
Khách sa phú cục: kho hàng, cọc tiền và thùng đấu đong
Có một nơi mà sa sơn bằng phẳng, vuông vức nằm giữa, phía sau có dải sa hẹp và dài ôm lấy, hai bên tả hữu nổi gò cao như hình kho tàng. Phía trước bày ra đủ thứ hình sa: có thứ giống những cọc tiền, có thứ giống kỷ án, có thứ như nhà kho, có thứ như thùng đong, có thứ như kẻ hầu người hạ. Tất cả đều là hình ảnh của phú quý.
Gặp đất như vậy cũng nên căn cứ hình thái cụ thể của án sơn mà xác lập huyệt vị và phương hướng; nhờ đó phúc và lộc đều trọn vẹn, lâu dài, gia tộc hưng vượng.
Sa quý ở phương nào, ứng với việc gì
Phương vị của sa sơn đã quan trọng, hình dạng của sa cũng là điểm then chốt không kém.
- Phương Tốn có đôi sa đều thanh tú thì ắt có đại quan quý hiển, hai anh em cùng thi đỗ trạng nguyên.
- Thiên Mã xuất phát từ Cấn, Ly thì quan vận hanh thông, con cháu thông minh dĩnh ngộ.
- Phương Khôn có hình như giá bút thì xuất hiện quan trấn thủ.
- Phương Canh có hình chỉnh tề thì sinh danh tướng chỉ huy quân binh.
- Phương Tân đẹp đẽ thì ắt có bậc đại thần lừng danh; phương Cấn nổi cao cũng vậy.
- Phương Nhâm, Quý như cái đài ngọc thì quan tước và phúc lộc sâu dày vô cùng.
- Phương Chấn nổi cao, đẹp đẽ thì ắt sinh bậc đại thần hiển hách.
- Án sơn phía trước có hình chiếc mũ thì vinh hoa quý hiển.
Tinh tú nằm xuống đất: khi sao không ở trên trời mà ở dưới chân
Sa sơn nhô cao, hình dáng rõ ràng thì chỉ nhìn một lần đã biết là hung hay cát. Nhưng còn có thế đất mà nước uốn lượn, địa hình cũng uốn theo nước, gọi là tinh tú đảo địa, nghĩa là ngôi sao nằm xuống mặt đất. Nó cũng tú mỹ như sa sơn dựng đứng.
Phàm quan sát địa hình, thấy nơi nào được nước uốn quanh thì xem chỗ Long mạch ứng hợp, kết tụ mà chọn làm huyệt trường; xem chỗ án sơn ứng hợp chỉnh tề mà định hướng đầu.
Một vùng nước giao hội, quanh co vòng vèo thì địa hình có chỗ rộng chỗ hẹp, chỗ lớn chỗ nhỏ, chỗ ngang chỗ dọc, chỗ vuông chỗ tròn. Thoạt nhìn tưởng chẳng biết chọn đâu. Nhưng quan sát kỹ thế nào cũng thấy nơi kết tụ. Đó cũng là tinh tú nằm dưới đất, loại đất quý hiếm mà chỉ bậc thầy phong thủy có tài mới nhận ra.
Giữa đồng bằng rộng, không Quan Diệu cũng không đỉnh lạ
Nếu một vùng bình dương rộng lớn không có Quan, Diệu, cũng không có kỳ phong, thì xét Long mạch: thuần phác, đoan chính, thần ở vị trí cát lợi thì chọn; pha tạp, nham nhở, nghiêng lệch thì bỏ. Long huyệt có thần ở vị trí cát lợi cũng mang nhiều hình dạng khác nhau: có cái như tiền của, tài vật dâng lên; có cái như kho hàng bày đủ của quý; có cái như ngọc kỷ, kim ấn; có cái hình bán nguyệt; có cái hình mũ cánh chuồn, thiên mã, chuông. Các hình dạng ấy như hình sao, nên phải căn cứ hướng đầu cụ thể mà chọn. Chẳng hạn hình tài quan phụ tử, hình kim thủy nhật nguyệt, hình tam kỳ, hình tứ thần bát tướng đều cát lợi và có thể chọn.
Một vị trí có thể chưa hoàn mỹ, nhưng sẽ được các tinh tú như Lộc Mã, quý nhân, thôi quan, sinh khí đến phò trợ. Vì thế khi đất rộng mà không có mốc núi nào để dựa, điều đáng soi kỹ nhất là độ thuần phác của Long mạch và vị trí của thần cư.
Các sao trên mặt đất ứng với những phương vị như sau: Thiên Quý ở Bính chủ tước lộc của thiên hạ; Thái Ất ở Tốn chủ phúc trạch của thiên hạ; sao Thọ ở Đinh chủ phúc thọ; Chấn là Lôi Môn chủ uy quyền thiên hạ; Canh là sao Uy, chủ uy quyền bản phương và vạn vật; Tốn, Tân, Cấn là chốn văn chương; Hợi là đế tòa của sao Tử Vi. Những chỗ ấy được coi là cực kỳ tôn quý.
Sa cát đứng trước, sa hung đứng bên: biết mà tránh
Có hai lớp để đọc: vị của sa cho biết nó đứng ở đâu, hình của sa cho biết nó mang dáng gì. Khi sa cát, vị cát đứng ở phía trước huyệt, còn sa hung, vị hung đứng ở bên cạnh huyệt, thế đất ấy giúp con người chọn cát tránh hung. Hình dạng sa thanh tú, thuần phác, ôm quanh thì lợi; sa nham nhở, pha tạp, nghiêng lệch, thô kệch ép sát huyệt thì hung sát. Còn phải xét phương vị của sa để phán đoán.
Trưởng phòng ứng ở giữa, trung phòng ở bên phải, tiểu phòng ở bên trái. Với người sinh năm Tý, Ngọ, Mão, Dậu:
- sa hình xác nằm thì chủ chết vì dịch bệnh;
- sa hình dao đồ tể thì chủ bị trộm cướp, đao tặc phá hại;
- sa hình cái gỗ nhỏ méo mó thì chủ bị mù lòa hoặc sảy thai;
- sa đẹp đẽ, rõ ràng, thuần phác thì sinh bảo vật.
Dù sa sơn chủ cát, gặp năm có phương vị xấu cũng phải tránh khi dựng huyệt, và càng phải thận trọng.
Những dạng nước làm hao tài, tan người
Nước ở trước huyệt có thế nào thì người trong nhà gặp họa nấy. Người xưa kể ra một loạt dạng nước không tốt, mỗi dạng ứng với một kiểu tai nạn riêng, từ tiền bạc, bệnh tật cho tới chuyện tình nghĩa và gia phong. Gom lại, có thể chia thành bốn nhóm như sau.
Nước làm tản tài, tan người
- Nội sa trước huyệt quay ra phía ngoài là phản cung thủy: tiền của tiêu tán, người nhà ly tán, có người chết.
- Nước trước huyệt thẳng như mũi tên, như giáo: nguy hại không kém.
- Phản khiêu thủy là nước vô dụng; chiết túc thủy chủ bệnh tật, thương tật.
- Chùy não thủy chủ tang gia ba, tai họa liên miên.
- Xạ hiệp thủy chủ phụ nữ có bệnh kín, thiếu niên chết yểu.
- Đới tiễn thủy chủ sinh ra có ác tật, chết sớm.
- Bao thương thủy chủ phạm pháp luật, bị đi lính xa.
Muốn tránh hung sát thì phải tìm hướng cát lợi.
Nước gây loạn gia phong
- Phía trước huyệt có bao đầu thủy: dâm tà phóng đãng, gian trá âm hiểm.
- Phía sau huyệt có lâm tảo thủy: sảy thai.
- Phách cước thủy: trai gái gian tà, phóng đãng.
- Lãn nhược thủy: đàn ông lười biếng.
- Hại cước thủy: người nhà mang tật bệnh.
- Hà thủy song phi ra ngoài: đàn ông chơi bời không biết quay về; song phi vào trong: trai gái loạn luân.
Nước chia nhánh phạm vợ, phạm con
Có những trường hợp nước không chảy thẳng mà tách nhánh. Nước trước huyệt chảy ngang qua, phía nam phát ra một nhánh chảy thẳng ra ngoài thì gọi là quyển liêm; phạm vào nó thì phải lấy vợ kế. Nếu phát ra hai nhánh cũng chảy thẳng ra ngoài thì gọi là thôi xa (đẩy xe); phạm vào nó thì phải rời quê kiếm sống nơi xa. Nước xung phá thiên tâm thì tuyệt tự; nước xung phá thành cước thì con trai bỏ nhà đi biệt.
Nước hình chữ, hình vật
- Nước trước huyệt hình chữ bát hướng ra ngoài: con cháu phản nghịch, anh em hại nhau.
- Nước phía sau huyệt chảy chếch ra ngoài: con cháu dâm loạn, lang thang vô định.
- Nước như cánh cung ngửa, như viên ngói ngửa: dâm đãng, mất thanh danh, tiêu điền sản.
- Nước xối thẳng vào sườn huyệt (xung tâm xạ hiệp): tai họa, bệnh tật dồn dập.
- Nước thô cứng như đôi sừng thú: con cái tính ngang ngạnh, hung tợn, tàn bạo.
- Nước hình chữ đinh: quẫn bách, thiếu đạo đức.
- Huyệt làm ở nơi phản cung thủy: mỗi lần gặp năm xung lại tiêu tan tài lộc.
- Nước như dây thừng bị ném văng đi: phụ nữ hư hỏng, tai tiếng.
- Nước như hai tay giơ ra: đi ăn mày. Nước như cái chân cong queo: sinh kẻ dâm tà, trộm cướp.
- Nước ly hương chảy ra trước huyệt: bỏ nhà đi xa; tả hại thủy chảy ngang bên huyệt: tâm tính hung ác; nước hình đao kiếm nhọn hoắt: phải đề phòng tiểu nhân ám hại; nước như đuôi én: tiền tài tiêu tán không giữ được.
Nếu may gặp được thầy phong thủy giỏi thì có cách cải biến địa hình, biến hung thành cát: hoặc dời sa thạch để chặn dòng nước, hoặc nắn dòng nước thẳng thành đường uốn vòng vèo.
Ao hồ trước sau huyệt: xem hình, xem màu, xem vị
Nước đứng yên trong ao cũng có cát hung chứ không chỉ riêng nước chảy. Trước huyệt, sau huyệt đều có ao nước thì phải xem kỹ hình thái và phương vị để đoán cát hung. Ao cát lợi thì nên giữ lấy mà dùng; ao hung hiểm thì phải trấn áp hoặc lấp bỏ.
Ao ngay trước huyệt, ngay sau huyệt, hoặc ao ở bên trái dài, ở bên phải thu hẹp, đều là hung sát. Còn phải xem màu sắc và vị của nước: nước trong vị ngọt là cát; nước đục, màu vàng hay đen là hung.
Đối với cả âm trạch lẫn dương trạch có ao ở trước, sau, hai bên, phải xem kỹ hình dạng để phân cát hung. Ao có hình ngay ngắn, vuông vức như chiếc ấn, hoặc uốn cong như trăng lưỡi liềm, hoặc như khóa vàng, ngọc kỷ, đai ngọc, đều cát tường. Ao méo mó, xấu xí, mùi hôi thối, màu khó nhìn, lại ở các hướng Thìn, Tuất, Sửu, Mùi, thì hung hiểm khôn lường; gặp ao như thế phải trấn áp, hoặc lấp đất cải tạo, dẫn nước sạch vào, may ra mới tránh được họa.
Mười dạng thủy thành hung sát
Người xưa còn tóm các dạng thế nước hung thành hai nhóm, mỗi nhóm năm dạng. Nhóm thứ nhất gồm: cung phản, cung tả phản, cung hữu phản, quá đầu, khứ thủy. Nhóm thứ hai gồm: giao kiếm, tháp kiếm, đà thương, xạ hiệp, thủy khứ. Ngoài ra còn các dạng như huyền trực, xuyên tâm, đăng não, hại cước, hại hiệp, đều thuộc loại hung. Nhìn lại, các dạng ấy đều do đường đi của nước tạo nên: nước chảy thẳng vào huyệt, nước quay lưng bỏ đi, nước cắt ngang trước mặt, nước tách nhánh, nước đâm vào sườn hoặc xuyên qua tim huyệt. Cùng một vùng đất, người biết đọc sa và nước sẽ chọn được chỗ phát phúc; người không biết rất dễ đặt huyệt vào nơi hao tài tổn người, mà nguyên nhân chỉ nằm ở một dòng nước lệch hướng hay một gò sa sai chỗ.
Nguồn: Lưu Bá Ôn, Địa Lý Toàn Thư, tập 2.
