Bài tổng quan
Sách lụa Mã Vương và dịch tượng, tổ của vạn tượng
Hai nghìn năm người đời cãi nhau xem ai viết lời truyện của Dịch, rồi một ngôi mộ cổ ở Trường Sa mở ra và những dải lụa đã nói thay. Cũng từ ấy, người ta hiểu một vạch ngang trên quẻ có thể là tổ của cả vạn điều...
Kim Cảnh Phương đọc Chu Dịch bằng phép duy vật biện chứng
Điểm thứ hai trong các thành tựu của phái nghĩa lý thời hiện đại là việc Kim Cảnh Phương dùng nguyên lý của phép duy vật để đánh giá và tìm hiểu Chu Dịch, từ đó đưa ra những cách đánh giá mới về giá trị của sách. Phái dịch học mà Kim Cảnh Phương làm đại diện chính là phái nghĩa lý học phát triển từ sau những năm năm mươi. Họ lấy quan điểm duy vật biện chứng để giải thích các nguyên lý triết học của Chu Dịch, và đưa ra những đánh giá quan trọng về tư tưởng biện chứng của sách.
Kim Cảnh Phương đánh giá trình độ triết học của Chu Dịch là tiên tiến tới mức tư tưởng của học thuyết duy vật lịch sử và duy vật biện chứng của Marx, đạt đến mức độ xưa nay chưa gì so sánh nổi. Ông còn cho rằng Chu Dịch là bộ sách có độ khó khá cao, đến nỗi có câu nói rằng từ khi Chu Dịch ra đời đến nay đã trải mấy nghìn năm, người thực sự hiểu được nó chỉ có một, đó là Khổng Tử với phần truyện ông soạn. Theo Kim Cảnh Phương, chiêm phệ chỉ là một hình thức của Chu Dịch chứ không phải bản chất của sách; hạt nhân của Chu Dịch là tư tưởng triết học, và tư tưởng ấy chứa toàn bộ những nguyên lý cơ bản nhất của phép biện chứng. Các tác phẩm tiêu biểu của ông như Chu Dịch giảng tọa và Chu Dịch toàn giải đều đạt trình độ rất cao.
Việc Kim Cảnh Phương dùng quan điểm duy vật biện chứng và duy vật lịch sử để áp vào Dịch cho thấy, ngay trong thời đại của phái nghi cổ, đối với Chu Dịch đã có một dòng chảy khác với những luồng tư tưởng mới. Dòng ấy tuy không lớn, nhưng thể hiện một thái độ nghiêm túc trong phương pháp đánh giá văn hóa truyền thống. Ngoài ông còn có một số tác giả khác với tư tưởng tương đối hiện đại, cho thấy rõ trình độ nghiên cứu Chu Dịch hiện đại, như Chu Bá Côn với Dịch học triết học sử, Từ Chí Nhuệ với Chu Dịch đại truyện tân chú, Hoàng Thọ Kỳ cùng Trương Thiện Văn soạn Chu Dịch dịch chú, Trương Lập Văn với Chu Dịch tư tưởng nghiên cứu và Lưu Đại Quân với Chu Dịch khái luận.
Khổng Tử và Dịch truyện qua những hiện vật được khai quật
Hai nghìn năm người đời cãi nhau xem ai viết lời truyện của Dịch, rồi một ngôi mộ cổ ở Trường Sa mở ra và những dải lụa đã nói thay.
Điểm thứ ba là việc dựa vào các hiện vật được khai quật để khảo chứng lại mối quan hệ mật thiết giữa Khổng Tử và Dịch truyện. Từ xưa, người ta vẫn cho rằng Dịch truyện do Khổng Tử biên soạn. Sau khi Âu Dương Tu đời Tống, trong Dịch đồng tử vấn, tỏ ý nghi ngờ, vấn đề vẫn chưa được phân giải cụ thể; ông cũng thừa nhận Thoán và Tượng là tác phẩm của Khổng Tử và chỉ nghi ngờ hai phần Hệ từ và Văn ngôn. Nhưng đến những năm ba mươi, một số học giả chịu ảnh hưởng trào lưu nghi cổ đã hoàn toàn phủ nhận việc Khổng Tử biên soạn Dịch truyện, cho rằng ông chẳng liên quan gì đến sách ấy. So với Âu Dương Tu, họ đi quá xa trong nhận định.
Ngày nay, từ khi các bộ sách lụa về Dịch truyện được tìm thấy trong những ngôi mộ cổ đời Hán, các tư liệu ấy đã xác nhận lại những ghi chép trong Sử ký và Hán thư, và nhận định rằng Dịch truyện do Khổng Tử biên soạn là nhận định đáng tin. Hàn Trọng Dân lần đầu nêu rõ mối quan hệ giữa các bộ sách lụa Chu Dịch với Dịch truyện của Khổng Tử. Lý Học Cần căn cứ vào đó, trong bài về thiên Yếu của Chu Dịch, đưa ra một câu nói mà ông cho là của Khổng Tử: người đời sau nghi ngờ Khâu này, có lẽ là ở chỗ Dịch. Câu ấy khẳng định Dịch truyện do Khổng Tử viết.
Những công trình như Khổng Tử và Chu Dịch, Dịch truyện và Tử Tư Tử, Bạch thư Chu Dịch với một hệ Dịch truyện của Tuân Tử, hay bài khảo về câu năm mươi tuổi học Dịch, đều cho một kết quả là Dịch truyện có quan hệ rất mật thiết với Khổng Tử. Nhà dịch học họ Lý còn phát hiện sách Lễ ký ghi việc tác phẩm Công Tôn Ni Tử dẫn lời trong Hệ từ. Điều đó chứng minh Hệ từ xuất hiện trước thời Công Tôn Ni Tử, người thuộc thế hệ học trò đời sau của Khổng Tử, cách thời Thất thập tử không xa. Vì vậy Dịch truyện ra đời vào niên đại không cách Khổng Tử bao xa. Ngoài ra Lễ ký cũng ghi rằng trong lời văn của thế hệ con cháu Khổng Tử, ở Tử Tư Tử, có mang nội dung của Dịch truyện, một bằng chứng nữa cho thấy Khổng Tử và các đệ tử có quan hệ chặt chẽ với Dịch truyện. Những ý này được tác giả trích từ sách Chu Dịch nghiên cứu sử của Liêu Minh Xuân, xuất bản ở Hồ Nam năm 1991.
Khổng Tử nhìn tượng số và nghĩa lý
Tác giả bàn riêng về cách nhìn của Khổng Tử đối với mối quan hệ giữa tượng số và nghĩa lý. Khổng Tử tuy không tin vào chiêm phệ nhưng không bài xích tượng số. Ông nhấn mạnh rằng ta xem cái đức nghĩa của nó mà nghe theo, nhưng đồng thời khẳng định rằng ta với các nhà bói toán cùng đường mà về hai hướng khác nhau. Quan niệm cùng đường mà về các hướng riêng, và quan niệm thiên hạ cùng về một chỗ mà đi trên những ngả đường khác nhau, thực ra là một. Như vậy nghĩa lý dịch và bốc phệ cùng xuất phát từ một nguồn nhưng chia làm hai nhánh, và điều đó cho thấy Khổng Tử đã chú ý tới mối quan hệ giữa bốc phệ và nghĩa lý dịch học.
Bốc phệ là khởi nguồn của tượng số, tượng số là cơ sở của nghĩa lý. Theo tác giả, mối quan hệ giữa tượng số và nghĩa lý là mối quan hệ thống nhất của hai mặt đối lập. Mấy nghìn năm qua chúng vẫn đấu tranh với nhau, nhưng lại dựa vào nhau và bổ trợ cho nhau, và chính điều đó cho dịch học có cơ sở, có điều kiện để phát triển.
Nguồn gốc bát quái và những bộ sách lụa Chu Dịch
Trên một mảnh đồng thau và trên những mảnh xương thú, có những dãy con số nằm lặng lẽ, và chúng chính là tổ tiên của các vạch quẻ.
Điểm thứ tư là thành tựu quan trọng trong việc khảo chứng nguồn gốc bát quái. Vào những năm bảy mươi, Trương Chính Lãng đưa ra luận văn mang tính thời đại về phép phệ cổ đại và việc Văn Vương diễn Chu Dịch, trình bày tại hội thảo học thuật chữ cổ ở Đại học Cát Lâm năm 1978. Trong bài ông nêu mối quan hệ giữa bát quái với các ký hiệu chữ số khắc trên đồ đồng thau. Năm 1980 ông công bố bài thử giải thích các quẻ Dịch khắc trong minh văn các đồ đồng đầu thời Chu, đăng trên tạp chí Khảo cổ học, kỳ bốn. Đây cũng là báo cáo tại hội nghị về thời đại vĩ đại của đồ đồng thau Trung Quốc tổ chức ở New York, nước Mỹ.
Báo cáo ấy được các thành viên hội nghị chú ý nhiều, với kết quả khảo chứng của Trương Chính Lãng từ các thẻ tre cũ về Chu Dịch trong ngôi mộ đời Hán ở gò Song Cổ Đôi, huyện Phụ Dương, tỉnh An Huy, các chữ lạ trên xương thú khai quật ở Chu Nguyên, Kỳ Sơn, Thiểm Tây, và các văn tự khắc trên đồ gốm, đồ đồng. Tất cả cho một kết luận là bát quái bắt nguồn từ phép phệ cổ đại, một cống hiến rất lớn cho việc nghiên cứu Chu Dịch. Về sau Từ Tích Đài, Quản Nhiếp Sơ, Trương Á Sơ, Lưu Vũ và những người khác lần lượt đưa ra các khảo chứng ủng hộ quan điểm ấy, tạo bước đột phá trong việc tìm hiểu nguồn gốc bát quái.
Những bộ sách lụa Chu Dịch
Điểm thứ năm là những nghiên cứu mang tính đột phá về các bộ sách lụa Chu Dịch. Sách lụa tìm thấy trong ngôi mộ cổ đời Hán ở gò Mã Vương, Trường Sa, gồm chủ yếu sáu mươi bốn quẻ, thiên Hệ từ và thiên Yếu của Dịch truyện. Đó là những cuốn sách về Chu Dịch đã thất lạc từ đời Hán, trong đó thứ tự sắp xếp các quẻ có nhiều điểm khác ngày nay. Các nghiên cứu về sách lụa cho thấy hai điều.
Thứ nhất là mối quan hệ mật thiết giữa Khổng Tử và Dịch truyện. Lý Học Cần dựa vào thiên Yếu chứng thực rằng Dịch truyện có quan hệ mật thiết với Khổng Tử và học trò. Trong thiên Yếu, ông cho rằng câu người đời sau nghi ngờ Khâu này, có lẽ là ở chỗ Dịch, có thể là lời của Khổng Tử tự khiêm mà nói trong Dịch truyện. Điều này được ông bàn trong bài nhìn Khổng Tử và Dịch từ các sách lụa Dịch truyện, đăng ở Trung Nguyên văn vật năm 1989, kỳ bốn.
Thứ hai, qua việc khảo chứng quyển Chu Dịch viết trên lụa được khai quật, người ta chứng minh được rằng bản thành văn của Dịch truyện chậm nhất cũng có trước thời Chiến Quốc. Trong sách Văn vật năm 1984, tác giả Chu Hào Lượng phát biểu giới thiệu sách lụa Chu Dịch, nêu ý kiến về thiên Hệ từ cuối thời Chiến Quốc, góp phần khảo chứng niên đại viết thành sách của Dịch truyện. Việc tìm được Chu Dịch qua khảo cổ, chứng minh mạnh mẽ niên đại thành thư của Dịch truyện, đã đi đến kết luận khẳng định mối quan hệ mật thiết giữa Dịch truyện với phái Nho gia và Khổng Tử, chấm dứt nhận định sai lầm của phái nghi cổ cho rằng Dịch truyện ra đời muộn.
Tổng hợp lại, tác giả nói, những triết lý và mô thức tư duy về ý nghĩa lý luận của Chu Dịch, cùng sự cấu thành tượng số của nó, đã tạo nên tác dụng bất hủ đối với hình thức và sự phát triển của tư duy, trí tuệ triết học Trung Quốc.
Dịch tượng, tổ của muôn hình vạn trạng
Có người ngẩng lên thấy bầu trời, có người cúi xuống thấy đất, và rồi cả hai cùng cầm một vạch ngang để nói điều mình thấy.
Bàn về nguyên lý dịch tượng và sự ảnh hưởng của nó, tác giả mở đầu rằng dịch, tượng, số, chiêm là bốn pho lý luận lớn của dịch học. Tượng, theo Hệ từ, là cái thấy được:
Kiến nãi vị chi tượng.
Dịch tượng là tổ của vạn tượng, bát quái là dịch tượng có sớm nhất, và Chu Dịch là một phần của đại tượng. Dịch tượng bao gồm hào tượng, quái tượng, bát quái, tám quẻ, sáu mươi bốn quẻ, thái cực, Hà Đồ, Lạc Thư; nó là tổ của văn hóa phù hiệu. Giá trị to lớn của dịch tượng là sự khởi đầu của dịch từ, là bước đi tiên phong của tư duy hình tượng Trung Quốc. Chu Dịch xem hình lấy ý chính là dấu hiệu của tư duy hình tượng ấy.
Dịch tượng lại là nguồn gốc của vạn tượng. Sự phát triển của hình tượng số học biểu lộ sự trỗi dậy của tư duy trừu tượng Trung Quốc. Dịch tượng là cơ sở của văn hóa tượng hình Trung Quốc, có ảnh hưởng sâu sắc đến tư duy hình tượng, nghệ thuật hình tượng và chữ tượng hình. Ba hệ thống lớn của dịch đồ là bát quái, thái cực, Hà Đồ Lạc Thư là tinh túy của dịch tượng, thấm trong sự vật một triết lý cao sâu, ảnh hưởng lớn đến sự hình thành của văn hóa hình tượng Trung Hoa. Dịch, tượng, số, chiêm là bốn nguyên lý cơ bản của Chu Dịch, là tinh túy của dịch học. Dịch tượng là nguyên lý cơ bản của dịch học, là bộ phận trọng yếu của dịch lý, đúng như Hệ từ nói, Dịch chính là tượng vậy.
Dịch tượng là văn hóa phù hiệu có sớm nhất của Trung Quốc
Về lý luận cơ bản của dịch tượng, trước hết, dịch tượng có thể gọi là tổ của vạn tượng. Hệ từ nói cái thấy được gọi là tượng, cái có hình gọi là khí cụ. Dịch tượng thể hiện trước tiên qua bát quái, như Chu Dịch nói, tám quẻ bày thành hàng thì tượng ở trong đó. Văn hóa tượng có sớm nhất thời cổ đại Trung Quốc là văn hóa phù hiệu, và bát quái là văn hóa phù hiệu có sớm nhất. Trong đó những nét ngang liền của hào dương và nét đứt của hào âm được gọi là tổ của vạn tượng. Vì bát quái và sáu mươi bốn quẻ đều cấu thành từ hào dương hào âm, nên chúng thành cơ sở của lần tổng kết đầu tiên đối với văn hóa phù hiệu cổ đại Trung Quốc.
Chu Dịch có thể xem là một bộ đại tượng, mỗi quẻ là một bộ tiểu tượng, và mỗi tượng đều có thể nói là biểu tượng của một thông tin đặc biệt về thời gian và không gian. Các loại dịch đồ có quan hệ mật thiết với quái tượng là sự thăng hoa của dịch tượng, như những đồ hình muôn vẻ hòa nhập với thái cực đồ, Hà Đồ, Lạc Thư, hòa thái cực với Hà Lạc, làm phong phú hình thức biểu đạt của dịch lý, góp phần quan trọng cho sự phát triển của dịch học. Vì vậy dịch tượng được gọi là tổ của vạn tượng, như Chu Dịch nói:
Dịch hữu thái cực, thị sinh lưỡng nghi, lưỡng nghi sinh tứ tượng, tứ tượng sinh bát quái.
Những điều ấy nói lên đầy đủ mối quan hệ mật thiết giữa ba thứ là dịch, quái, đồ và tượng. Tóm lại, dịch đồ bắt nguồn từ quái tượng, dịch đồ là bước thăng hoa của quái tượng và là sự phát triển quan trọng đối với dịch tượng.
Nguồn: Kinh điển văn hóa 5000 năm Trung Hoa - Tập 1 (Dương Lực), thuật lại có lược bớt.
