Chuyển đến nội dung chính
Quay lại Khuyên Thiện

Bài tổng quan

Từ mặt trời, sao, đá, sinh nở tới hình hài con rồng

Đạo Học - Khuyên Thiện01/10/202615 phút đọc3 lượt đọc
Từ mặt trời, sao, đá, sinh nở tới hình hài con rồng

Có một người khổng lồ đuổi theo mặt trời, uống cạn cả một dòng sông mà vẫn khát, rồi gục xuống giữa đường. Cùng thời ấy, người ta quỳ trước tảng đá đã sinh ra một vị vua, và tự hỏi con rồng họ thờ rốt cuộc trông ra sao...


Sùng bái tự nhiên: mặt trời, mặt trăng, núi sông

Khi chưa biết mưa gió sấm chớp từ đâu đến, người xưa chỉ còn cách ngẩng đầu lên và kính phục.

Tác giả cho rằng sùng bái tự nhiên là hiện tượng sùng bái sớm nhất. Nguyên do là người xưa chưa có kiến thức về mưa gió, sấm chớp, ngày đêm, nên sinh lòng kính phục. Có thị tộc thờ mặt trời, có thị tộc thờ mặt trăng, có thị tộc thờ sấm chớp. Ngay từ buổi sơ khai, người Trung Quốc đã sùng bái mặt trời, mặt trăng, núi, sông. Dấu vết là các loại gốm màu khai quật ở vùng Đại Vấn Khẩu thuộc Sơn Đông, phản ánh thời văn hóa Ngưỡng Thiều hơn sáu nghìn năm trước, trên đó vẽ hình núi, sông, mặt trăng và mặt trời.

Những đồ cổ mới khai quật cho thấy, ít nhất vào thời xã hội thị tộc mẫu hệ đã có hiện tượng sùng bái tự nhiên. Con chim ba chân khắc trên gốm màu tìm thấy trong một ngôi miếu cổ chính là chim thuần ô, liên quan chặt chẽ với hình tượng mặt trời. Tác giả dẫn Hoài Nam tử, phần Tinh thần huấn, nói trên mặt trời có loài chim ấy sống. Con cóc thì tượng trưng cho mặt trăng, như Xuân thu diễn hoa đồ viết rằng thiềm thừ là tinh của mặt trăng. Trên bức tranh lụa ở mộ nhà Hán tại bãi Mã Vương, Trường Sa, có vẽ mặt trăng, trong đó có một con cóc và một con thỏ.

Chuyện Khoa Phụ đuổi mặt trời, chép trong Sơn hải kinh, theo ông thực ra là ghi lại hiện tượng sùng bái mặt trời của người cổ. Chuyện kể một người khổng lồ tên Khoa Phụ đuổi theo mặt trời, chạy thục mạng, khát đến mức uống cạn nước sông Vị, rồi định sang uống nước ở Đại Trạch nhưng chưa tới nơi thì chết giữa đường. Cây gậy của ông rơi xuống, về sau biến thành một rừng cây. Ông dẫn lại đoạn văn gốc trong phần Đại hoang bắc kinh.

Về mặt trăng, tác giả nhắc ý kiến của một số học giả cho rằng biểu tượng của Chu Văn Vương là rồng, và rồng ấy có nguồn gốc từ hình tượng rồng lửa, sau trở thành biểu tượng của dân tộc Trung Hoa. Theo cách hiểu này, đó là biểu tượng của một tộc người luôn sùng bái mặt trăng, hình con rồng chỉ là cái vỏ, còn thực chất là mặt trăng. Từ "Hoa" trong Hoa Hạ bắt nguồn từ "hoa" trong nguyệt hoa. Còn "Hạ" trong Hoa Hạ là tộc mặt trời, chữ hạ chỉ mặt trời chiếu về phương bắc.

Sao trên trời và những người sinh ra từ sao

Ban đêm, cả bầu trời hiện ra như một cuốn tranh sống động, và người xưa tin mình đọc được số mệnh trong đó.

Ở Trung Quốc cổ đại, sùng bái sao là hiện tượng phổ biến. Tác giả mô tả hàng nghìn vì sao lấp lánh phát ra ánh sáng huyền bí trên bầu trời đêm, giữa các vì sao có dải ngân hà, các chòm sao hiện lên như những bức tranh động vật, sao chổi tỏa sáng, sao băng vụt hiện vụt tắt, khiến người ta khó phân biệt. Vì thế việc sùng bái tự nhiên xuất hiện là điều dễ hiểu. Nhiều hình trên trời do các vì sao tụ lại, theo ông là cội nguồn của việc xem tướng số qua các vì sao. Các nhà tử vi xưa đã đối chiếu ngày sinh của người với mười hai cung sao phân bố trên đường hoàng đạo để đoán số mệnh cả đời, và thuật xem sao không chỉ phổ biến trong dân gian mà còn được dùng trong việc binh.

Ông cũng nhắc rằng một số thị tộc liên hệ giữa loài vật họ nuôi với hình ảnh của một chòm sao, và chòm sao ấy là vật mà cả thị tộc thờ cúng. Đây là một trong những nguồn gốc của hiện tượng sùng bái động vật. Sao trên trời còn được người xưa dùng để giải thích ngày sinh của các bậc vĩ nhân. Chẳng hạn, vua Vũ ra đời do cảm ứng với sao. Ông dẫn phần Chính nghĩa trích từ Đế vương kỷ, chép việc vợ Cổn là Tu Kỷ thấy sao băng chạy ngang sao Quán Ngang, trong mộng cảm ứng, lại nuốt hạt ý dĩ thần châu, ngực nở ra mà sinh Vũ. Quan hệ giữa các bậc vĩ nhân và sao vẫn lưu truyền đến ngày nay. Theo ông, mục đích chính của nó là biểu thị lòng ngưỡng mộ, sùng bái và để kỷ niệm các vĩ nhân.

Đất đá, núi non và những người sinh ra từ đá

Từ trời cao, câu chuyện hạ xuống mặt đất, nơi một tảng đá cũng có thể là mẹ của một vị vua.

Núi sông, đất đá cũng là nội dung của sùng bái tự nhiên. Tác giả nói tộc Hạ lấy đá làm biểu tượng để thờ cúng, và họ cho rằng Khải được sinh ra từ đá. Sách cổ chép sự tích này khá nhiều. Mẹ của Khải là con gái họ Đồ Sơn, trên đường đi lên núi cao thì hóa thành đá, rồi Khải ra đời. Hán thư, phần Vũ đế kỷ, trích từ Hoài Nam tử, và Hoài Nam tử, phần Tư vụ huấn, đều ghi chuyện Vũ sinh ra từ đá. Sơn hải kinh, phần Trung sơn kinh, nhắc núi Thái Thất, trên núi có nhiều đá đẹp, và Quách Phác chú rằng mẹ Khải hóa thành đá sinh ra Khải ở núi này.

Tác giả cho rằng hiện tượng sùng bái biểu tượng của người Trung Quốc cổ để lại dấu ấn đậm trong văn học. Tây du ký có chuyện Tôn Ngộ Không nhảy ra từ đá. Hồng lâu mộng, tên gốc là Thạch đầu ký, cũng kể về duyên giữa đất đá và con người.

Sùng bái sinh nở: khi sự sống là điều thiêng liêng nhất

Trong một thế giới mà trẻ con chết nhiều hơn sống, chuyện sinh một đứa trẻ trở thành điều khiến cả thị tộc phải quỳ xuống.

Theo tác giả, thời cổ điều kiện sống hết sức thiếu thốn, tỷ lệ tử vong cao, tuổi thọ ngắn. Ông dẫn các nhà khảo cổ học nói rằng người cổ đại sống lâu nhất cũng không quá ba mươi tuổi, đa số chết từ khi còn nhỏ hoặc quanh tuổi vị thành niên. Một mặt họ không hiểu gì về chuyện sinh nở, mặt khác luôn mong thị tộc đông đúc, con đàn cháu đống, nên sự sùng bái việc sinh nở cũng ra đời. Vì không hiểu nên người ta kể nhiều chuyện thần thoại về nguồn gốc của tổ tiên. Hoa Tư dẫm lên vết chân của vĩ nhân mà sinh Phục Hy. Nữ Đăng có quan hệ với Thần Long mà sinh Viêm Đế. Phụ Bảo thấy sao Bắc đẩu soi sáng thì sinh Hoàng Đế. Khánh Đô cảm ứng với rồng đỏ mà sinh Nghiêu. Ác Đăng gặp cầu vồng mà sinh Thuấn. Tu Kỷ nuốt hạt ý dĩ mà sinh Đại Vũ. Theo ông, đó đều là mối quan hệ tình cảm giữa nữ tổ tiên với những vật được sùng bái, tôn thờ.

Cảm ứng là một nội dung của sùng bái sinh nở. Sử ký, phần Chu bản kỷ, chép tổ tiên nhà Chu là Hậu Tắc, do mẹ là Khương Nguyên dẫm lên vết chân người khổng lồ khi ra ngoài đồng, lòng bỗng vui mừng, rồi thân mình động như người có thai.

Chu Hậu Tắc, danh Khí. Kỳ mẫu Hữu Thai thị nữ, viết Khương Nguyên. Khương Nguyên xuất dã, kiến cự nhân tích, tâm hân nhiên thuyết, dục tiễn chi, tiễn chi nhi thân động như dựng giả.

Ông cho rằng đặc điểm của sùng bái sinh nở là người xưa quá ngưỡng mộ nên thần hóa cả bộ phận sinh dục, thậm chí coi đó như một vị thần để tế lễ. Vì thế, dù là sùng bái sinh nở thời cổ hay trong tôn giáo đời sau, hiện tượng này vẫn có vị trí quan trọng và trang nghiêm, không phải là sự dâm loạn. Ông kể về một ngôi đền Phật có hình biểu tượng sinh thực ngay trên bức tượng Phật ở giữa, thờ cúng trang nghiêm, có bức tượng còn là hình giao hợp, và cung Ung Hòa ở Bắc Kinh cũng có hình tượng ấy. Đó đều là dấu tích của sùng bái hiện tượng sinh nở.

Sự sùng bái này có từ rất sớm. Theo khảo cứu của Hoa Thị nước Triệu, hình cá trên gốm màu là biểu tượng của cơ quan sinh dục nữ, và đồ gốm màu có hình cá là vật tế lễ cầu cho họ tộc ngày càng đông đúc. Hình ếch trên gốm cũng tượng trưng cho cơ quan sinh dục nữ, và những nét hoa văn trên đồ gốm màu cũng vậy. Những hiện tượng này đánh dấu sự phát triển sớm của văn hóa sùng bái biểu tượng, thậm chí có từ thời văn hóa Ngưỡng Thiều cách nay hơn năm nghìn năm.

Tác giả dẫn nghiên cứu giáp cốt văn của Quách Mạt Nhược, rằng chữ "tỷ" là chữ tượng hình của cơ quan sinh dục nữ, chữ "tổ" là chữ tượng hình của cơ quan sinh dục nam, cho thấy từ thời Trung Quốc cổ đại đã có tín ngưỡng ấy. Thậm chí phần lớn học giả cho rằng bát quái bắt nguồn từ dòng tín ngưỡng sùng bái cơ quan sinh sản. Theo cách giải thích ấy, hào dương liền nét là biểu tượng của nam, hào âm đứt nét là biểu tượng của nữ, và bát quái là bức vẽ về quá trình giao hòa giữa nam và nữ.

Ông còn viết rằng việc sùng bái cơ quan sinh dục nam xuất hiện đánh dấu quá trình chuyển từ xã hội mẫu hệ sang xã hội phụ hệ. Ví dụ là nắp một đồ gốm có hình đầu chim, được nặn bằng gốm màu, tìm thấy ở ngách của một ngôi miếu cổ. Chim ba đầu tượng trưng cho cơ quan sinh dục nam, còn cá được cho là tượng trưng cho cơ quan sinh dục nữ. Quách Mạt Nhược cho rằng chuyện chim đen sinh ra nhà Thương cũng có nghĩa như vậy. Hoa Thị nước Triệu thì cho rằng câu trong Lão Tử về cửa huyền tẫn, gốc rễ của trời đất, thực chất khắc họa tín ngưỡng sùng bái cơ quan sinh sản.

Những quốc gia sùng bái cơ quan sinh sản không ít, ví dụ điển hình là Ấn Độ, nơi có tượng thần với biểu tượng sinh thực tỏa sáng, và một số dân tộc thiểu số cứ đến ngày nhất định lại tổ chức lễ tế trang trọng. Nhìn một cách khách quan, theo tác giả, sùng bái cơ quan sinh sản có vai trò rất lớn trong việc duy trì nòi giống và phát triển dân số, đồng thời thúc đẩy ngành phụ khoa và nam khoa trong y học, và có ảnh hưởng nhất định đến văn học nghệ thuật như thần thoại, điêu khắc và hội họa.

Vì sao người xưa thờ loài vật

Từ trời cao và lòng đất, câu chuyện quay về những sinh vật sống cạnh con người mỗi ngày.

Trong tín ngưỡng biểu tượng cổ, tác giả cho rằng sùng bái động vật là phổ biến nhất và có ảnh hưởng sâu nhất. Phần lớn biểu tượng gắn chặt với sản xuất, săn bắt và đời sống của từng vùng, từng thị tộc, nên mới có sự phân biệt giữa động vật sống dưới nước, chim chóc, thú rừng, gia súc và gia cầm theo điều kiện tự nhiên và hoàn cảnh địa lý. Vùng ven sông thường lấy cá làm biểu tượng, vùng rừng núi lấy chim và thú, còn vùng thảo nguyên thì thường là ngựa và dê.

Ông kể ra nhiều lý do khiến con người thời ấy thờ động vật. Có khi vì thức ăn chính của họ là động vật nên họ khấn cầu sao cho săn bắt, đánh cá được đầy đủ. Có khi vì sợ hãi sự hung tợn của chúng nên phải thờ kính để cầu bình an, như sùng bái hổ, gấu, rắn. Có khi vì đó là công cụ sản xuất chủ yếu, như ngựa, hoặc vì đó là những con vật có ích, như rồng, rùa, ếch nhái. Có loài còn dự báo được thời tiết mưa gió nên được thờ. Tóm lại, những động vật được sùng bái là những loài gắn bó mật thiết với đời sống và sản xuất của con người. Mỗi triều đại, thị tộc, bộ lạc thờ loài khác nhau, nhưng nhìn chung có một khuynh hướng chung nhất định.

Về xã hội nguyên thủy, ông dẫn hoa văn trên đồ gốm màu tìm thấy ở thôn Bán Pha, Thiểm Tây, thuộc văn hóa Ngưỡng Thiều sáu nghìn năm trước, cho thấy đã có sùng bái biểu tượng cá. Ngoài ra rồng, phượng, rùa, rắn cũng là bốn biểu tượng lớn của Trung Quốc cổ, và bốn biểu tượng này đặc biệt có tính tượng trưng.

Con rồng: từ vết tích trên gốm đến nghi vấn về hình hài

Nếu rồng thật sự từng có mặt, nó trông như thế nào, và người xưa đã nhìn thấy nó ở đâu?

Tác giả nói rồng tượng trưng cho dân tộc Trung Hoa, rồng và phượng là biểu tượng chủ yếu được sùng bái ở Trung Quốc. Biểu tượng rồng có nguồn gốc rất sớm. Kinh Dịch, tác phẩm lâu đời nhất của Trung Quốc, cũng đã trình bày và phân tích về rồng, mà lời miêu tả ở quẻ Càn thể hiện rõ sự sùng bái thời cổ. Sơn hải kinh cũng ghi chép về rồng, như ứng long, chúc long, hổ giao, hải ngạc. Ông dẫn một đoạn trong phần Đại hoang đông kinh: ở biển đông có núi Lưu Ba, vào sâu khoảng bảy nghìn dặm có một con thú hình giống trâu, mình xanh mà không có sừng, chỉ có một chân, bơi trong nước, mắt sáng như mặt trăng mặt trời, tiếng như sấm, tên là quỳ. Vương Đại Hữu cho rằng con rồng được nói đến ở đây có thể là một loài thú biển.

Theo ông, trong những mảnh gốm vỡ thời văn hóa Ngưỡng Thiều tìm thấy ở cống ngầm dưới miếu Hà Nam đã có hình con ngạc. Trên đĩa gốm thời văn hóa Khuất Gia Lĩnh tìm thấy ở Hồ Bắc có đầu cá sấu Dương Tử, đầu dài, môi dài, miệng rộng lộ răng, giống đầu rồng đời sau. Điều đó chứng tỏ cách đây năm nghìn năm người Trung Quốc cổ đã sùng bái rồng. Văn hóa Long Sơn ở Liêu Ninh và Sơn Tây cũng có hình tượng rồng, xác nhận biểu tượng ấy thực sự tồn tại. Trên một chiếc bình nhỏ ở di chỉ Ngưỡng Thiều vùng Thiểm Tây có bức vẽ màu gọi là "ngư điểu văn", trong đó con cá thân trụ tròn, có tai mà không có chân, có người cho rằng đó là hình con ly, tức rồng không sừng.

Chữ "long" trên đỉnh vàng, trong văn giáp cốt thời Thương Chu cũng phản ánh hình tượng rồng, như có chân, đầu dài, răng to, chứng tỏ biểu tượng rồng thời này đã bắt đầu định hình. Lịch sử sùng bái rồng đã có từ lâu, nhất là thời nhà Chu. Sơn hải kinh còn có chỗ nhân cách hóa rồng: từ núi Thủ Dương đến núi Bính gồm chín ngọn núi, dài khoảng hai trăm sáu mươi bảy dặm, thần ở các núi ấy đều thân rồng mặt người, hay theo cách dịch của sách là mặt người mình rắn.

Vậy rồng có thật không? Trước đây người ta cho rằng rồng là biểu tượng trừu tượng được thần thánh hóa, hóa thân từ rắn, chim, thằn lằn, ngựa, hươu, cá. Sách cổ Nhĩ nhã dực, phần Thích ngư, mô tả: sừng giống sừng hươu, đầu giống đầu ngựa, mắt như mắt quỷ thần, cổ như cổ rắn, bụng như thần, vảy như cá, móng như móng chim ưng, chân như chân hổ, tai như tai trâu. Nhưng hiện nay nhiều học giả cho rằng rồng thực sự là một loài vật. Lưu Chí Hùng và Vương Đại Hữu, trong Truyền thuyết về rồng và Nguồn gốc văn hóa rồng phượng, cho rằng rồng là động vật thuộc họ thằn lằn cổ, gồm cá sấu biển, cá sấu sông, cá sấu Dương Tử. Họ nêu những đặc điểm như sức mạnh dời non lấp bể, gọi gió hô mưa, sống được trên cạn lẫn dưới nước, báo trước thời tiết, và giao long bay lên khi có sấm chớp. Theo họ đó đều là hình dạng ban đầu của rồng. Vì vậy con người kính sợ, rồi dần dần sinh ra sự sùng bái biểu tượng rồng.

Tác giả còn nhấn mạnh rồng có khả năng biến ảo khôn lường nên được coi là một nguồn gốc của chữ "dịch", tức biến dịch, trong Kinh Dịch. Sách Thuyết văn ghi: rồng có vảy dài, thân thể biến thành tối thành sáng, thành to thành nhỏ, có thể ngắn, có thể dài, mùa xuân bay lên trời, mùa thu ẩn dưới vực.

Nguồn: Kinh điển văn hóa 5000 năm Trung Hoa - Tập 1 (Dương Lực), thuật lại có lược bớt.

Kiều Oanh Trần

Tác giả

Kiều Oanh Trần

Nghiên cứu Mệnh lý - Tử vi - Tâm lý học

Theo dõi trên Facebook

Chia sẻ bài viết

FacebookXLinkedInZalo
Quay lại Khuyên Thiện