Chuyển đến nội dung chính
Quay lại Khuyên Thiện

Bài tổng quan

Tính lành như nước, làm thiện được đền, làm ác phải trả

Đạo Học - Khuyên Thiện05/10/202617 phút đọc2 lượt đọc
Tính lành như nước, làm thiện được đền, làm ác phải trả

Nước bị dập mạnh có thể bắn vọt qua trán người, nhưng bản tính của nước chưa bao giờ là chảy ngược. Người ta làm điều dữ cũng vậy: một dòng trong trẻo bị vật dục chắn lại giữa đường. Vậy khi dòng ấy còn nguyên, một ý nghĩ lành của ta đi được xa đến đâu…


Dòng nước trong và những thứ làm nó đục

Nho gia tin rằng con người sinh ra vốn có tính thiện, bản tính ấy là chí linh và chí thiện, chẳng kể khôn dại sang hèn. Nếu vậy thì điều ác từ đâu ra? Câu trả lời là từ chỗ con người tập nhiễm vật dục. Kinh Dịch dạy phải nối tiếp lấy cái thiện, vì đã có nối tiếp thì tất có thành tính, cũng như nước có nguồn thì tất có dòng chảy. Dòng chảy có trong có đục, như khí bẩm của người có lành có dữ. Nhưng bản nhiên của nước là trong, bản nhiên của tính là thiện, chẳng có chuyện thiện ác đứng đối nhau từ gốc.

Mạnh Tử đưa ra hình ảnh này: không nước nào không chảy chỗ thấp. Đập cho nước bắn lên thì nó vọt qua trán người, ngăn cho nó đi ngược thì nó có thể tràn lên núi, nhưng đó đâu phải bản tính của nước, chỉ vì thế bị dập, bị chặn mà thành. Người làm điều bất thiện cũng thế: cái tính lành bị vật dục che lấp như dòng nước bị ngăn lại. Mấy chục lời cổ nhân dưới đây đều xoay quanh một việc là giữ cho dòng nước ấy đừng đục.

Trời đền người làm lành, giáng họa kẻ làm dữ

Dòng nước đục hay trong đều có người nhìn thấy, và người ấy không ở đâu xa.

Khổng Tử nói gọn thế này:

Vi thiện giả, thiên báo chi dĩ phúc.

Vi bất thiện giả, thiên báo chi dĩ họa.

Người làm lành thì trời đền bằng phúc, kẻ làm điều chẳng lành thì trời đáp bằng họa. Khổng Tử tên Khâu, người nước Lỗ thời Xuân Thu, chu du các nước mong thi hành chủ trương nhân trị nhưng không thành, rồi trở về quê dạy học và san định kinh sách, nên được tôn là ông tổ của đạo Nho và bậc thầy muôn thuở.

Thượng Thư cũng nói đúng ý ấy bằng một cặp câu đối nhau:

Tác thiện giáng chi bách tường.

Tác bất thiện giáng chi bách ương.

Làm lành thì trời ban xuống trăm điều may, làm ác thì trời giáng xuống trăm tai vạ. Còn Từ Thần Ông thì dặn người nghe hãy ngẫm cho kỹ:

Tích thiện phùng thiện, tích ác phùng ác.

Tử tế tư lương, thiên địa bất thác.

Chứa điều lành gặp điều lành, chứa điều ác gặp điều ác, nghĩ kỹ sẽ thấy trời đất không hề lầm lẫn. Về chữ thiện và ác, Nho gia coi chúng không phải hai vật có sẵn mà chỉ là một cái tâm: tâm thuận lẽ phải là thiện, tâm bị tư dục che lấp là ác. Phật giáo thì xét rộng hơn, một việc chỉ được kể là thiện khi lợi cho mình, lợi cho người và lợi cho muôn loài, thiếu một trong ba thì chưa đủ.

Có người thắc mắc sao nhiều kẻ ác vẫn sống yên, thì lời dân gian đáp rằng:

Thiện hữu thiện báo. Ác hữu ác báo.

Nhược hoàn bất báo, thì thần vị đáo.

Lành có lành đền, dữ có dữ trả, nếu chưa thấy trả thì chỉ là giờ chưa tới. Bài thơ sau kéo dài ý ấy thành bốn câu:

Bình sinh hành thiện thiên gia phúc,

Nhược thị ngu ngoan thụ họa ương.

Thiện ác đáo đầu chung hữu báo,

Cao phi viễn tẩu dã nan tàng.

Suốt đời làm lành thì trời thêm phúc, ương bướng ngu ngoan thì chịu tai ương. Lành dữ rốt cuộc đều có báo, dù chạy xa bay cao cũng khó lòng trốn.

Một bài thơ khác nói rõ ai là người biết việc mình làm:

Hành tàng hư thực tự gia tri,

Phúc họa nhân do cánh vấn thùy.

Thiện ác đáo đầu chung hữu báo,

Chỉ tranh lai tảo dữ lai trì.

Việc mình làm là thật hay giả, nhà mình tự biết, nguyên do của họa phúc cần gì phải hỏi ai. Lành dữ cuối cùng đều có báo, chỉ khác nhau ở chỗ đến sớm hay đến muộn.

Lời khuyên thực hành đi liền theo đó:

Nhàn trung kiểm điểm bình sinh sự,

Tĩnh lý tư lương nhật sở vi.

Thường bả nhất tâm hành chánh đạo,

Tự nhiên thiên địa bất tương khuy.

Lúc rảnh rỗi hãy xét lại chuyện cả đời, lúc yên lặng hãy ngẫm những việc đã làm trong ngày. Cứ dốc một lòng theo đường ngay thì tự nhiên trời đất chẳng bạc đãi mình.

Điều lành tích lại thành phúc nhà, điều ác nhỏ cũng đừng làm

Họa phúc của một nhà không đến trong một đêm, nó được góp từng việc nhỏ trong nhà.

Kinh Dịch nói về cả một gia đình chứ không riêng một người:

Tích thiện chi gia tất hữu dư khánh.

Tích bất thiện chi gia tất hữu dư ương.

Nhà chứa điều lành ắt có phúc dư, nhà chứa điều ác ắt thừa tai họa. Lưu Bị, tức Hán Chiêu Liệt, người dựng nên nhà Thục Hán thời Tam Quốc, dặn con câu mà ai cũng thuộc:

Vật dĩ ác tiểu nhi vi chi.

Vật dĩ thiện tiểu nhi bất vi.

Đừng thấy điều ác nhỏ mà làm, đừng thấy điều lành nhỏ mà bỏ qua. Trang Tử thì nói về mặt trái của việc lơ là:

Nhất nhật bất niệm thiện, chư ác giai tự khởi.

Một ngày chẳng nghĩ đến điều lành thì mọi điều ác tự nổi lên. Tây Sơn Chân tiên sinh thêm vào cách giữ mình:

Trạch thiện cố chấp, duy nhật tư tư.

Nhĩ thính thiện ngôn, bất đọa tam ác.

Nhân hữu thiện nguyện, thiên tất tri chi.

Chọn điều lành rồi giữ chặt, hằng ngày chăm chắm không rời. Tai nghe lời lành thì khỏi sa vào tam ác, tức ba điều ác do miệng nói, mắt nhìn và thân làm. Người có nguyện lành thì trời ắt biết.

Nước Tấn có câu so sánh hai con đường:

Tòng thiện như đăng, tòng ác như băng.

Theo điều lành như leo núi, theo điều ác như núi lở. Thái Công dặn thêm cho đủ ba vế:

Thiện sự tu tham, ác sự mạc lạc.

Kiến thiện như khát, văn ác như lung.

Vi thiện tối lạc, đạo lý tối đại.

Việc lành nên ham, việc ác chớ thích. Thấy điều lành thì khát khao, nghe điều ác thì như người điếc. Làm lành là vui nhất và là lẽ lớn nhất. Mã Phục Ba tính sổ kỹ hơn:

Chung thân hành thiện, thiện do bất túc.

Nhất nhật hành ác, ác tự hữu dư.

Trọn đời làm lành vẫn e chưa đủ, một buổi làm dữ đã thừa. Kinh Dịch còn nói đến sức lan của một lời nói:

Cư kỳ thất xuất kỳ ngôn thiện, tắc thiên lý chi ngoại ứng chi.

Cư kỳ thất xuất kỳ ngôn bất thiện, tắc thiên lý chi ngoại vi chi.

Ở trong nhà mà nói lời phải thì ngoài ngàn dặm cũng có người ứng theo, nói lời trái thì ngoài ngàn dặm cũng có người lánh xa.

Còn đường dài phía trước của đời người thì nhìn thế này:

Đãn tồn tâm lý chính, bất dụng vấn tiền trình.

Đãn năng y bổn phận, tiền trình bất dụng vấn.

Nhược yếu hữu tiền trình, mạc tố một tiền trình.

Chỉ cần giữ lòng ngay thì khỏi phải dò hỏi đường phía trước, chỉ cần làm đúng phận mình thì cũng thế. Muốn có đường phía trước thì đừng làm những việc cụt đường. Từ chữ tiền trình, người xưa hiểu rộng ra là hậu vận.

Tư Mã Ôn Công, trong bài gia huấn, so ba thứ để lại cho con cháu:

Tích kim dĩ di tử tôn, tử tôn vị tất năng thủ.

Tích thư dĩ di tử tôn, tử tôn vị tất năng độc.

Bất như tích âm đức ư minh minh chi trung dĩ vi tử tôn trường cửu chi kế.

Chứa vàng để lại, con cháu chưa chắc giữ nổi. Chứa sách để lại, con cháu chưa chắc đọc. Chi bằng ngầm tích âm đức trong chốn mù mịt, làm kế lâu dài cho con cháu. Âm đức là những việc tốt xuất phát từ lòng lành mà không để ai hay, tục ngữ ta cũng có câu cây đức trồng cho đời cháu con.

Bốn câu dưới đây nối tâm với mệnh, hai thứ mà người xưa hay đem ra cân:

Tâm hảo mệnh hựu hảo, phát đạt vinh hoa tảo.

Tâm hảo mệnh bất hảo, nhất sinh dã ôn bảo.

Mệnh hảo tâm bất hảo, tiền trình khủng nan bảo.

Tâm mệnh đô bất hảo, cùng khổ trực đáo lão.

Tâm tốt mệnh cũng tốt thì phát đạt vinh hoa sớm. Tâm tốt mệnh kém thì cả đời vẫn ấm no. Mệnh tốt tâm xấu thì đường phía trước e khó giữ. Tâm lẫn mệnh đều xấu thì nghèo khổ đến già. Người xưa nhìn tâm quan trọng hơn mệnh, vì tâm là phần mình sửa được.

Cảnh Hạnh Lục ghi một cặp lời đối nhau về thứ để lại cho đời sau:

Dĩ trung hiếu di tử tôn giả xương, dĩ trí thuật di tử tôn giả vong.

Dĩ khiêm tiếp vật giả cường, dĩ thiện tự vệ giả lương.

Lấy trung hiếu để lại cho con cháu thì nhà thịnh, lấy mưu mô khôn khéo để lại thì nhà vong. Lấy khiêm nhường mà tiếp người thì mạnh, lấy lòng lành mà giữ mình thì yên.

Rộng làm ơn nghĩa, không kết thù oán

Người làm lành khôn ngoan nhất là người mềm như nước, đi đến đâu cũng tìm được đường.

Có hai câu đi liền nhau về chuyện đường đời hẹp:

Ân nghĩa quảng thi, nhân sinh hà xứ bất tương phùng.

Thù oan mạc kết, lộ phùng hiểm xứ nan hồi tị.

Rộng làm ơn nghĩa thì đời người ở đâu cũng gặp lại nhau trong vui vẻ. Chớ kết thù oán, vì khi gặp đường hiểm mà đụng đầu kẻ thù thì khó tránh. Trang Tử thì đi xa hơn:

Ư ngã thiện giả, ngã diệc thiện chi.

Ư ngã ác giả, ngã diệc thiện chi.

Ngã ký vô ác, nhân năng ư ngã hữu ác tai.

Ai tốt với ta, ta cũng tốt lại. Ai ác với ta, ta vẫn tốt lại. Ta đã không có ác thì người ác với ta bằng cách nào được?

Lão Tử nhìn kẻ dữ và người lành như hai mặt của một tấm gương:

Thiện nhân, bất thiện nhân chi sư. Bất thiện nhân, thiện nhân chi tư.

Nhu thắng cương, nhược thắng cường, cố thiệt nhu thường tồn, xỉ cương tắc chiết.

Người lành là thầy của kẻ dữ, kẻ dữ là chỗ nhờ cậy của người lành, vì nhìn kẻ dở mà người hay biết tự chỉnh mình. Mềm thắng cứng, yếu thắng mạnh, nên lưỡi mềm còn mãi mà răng cứng thì gãy. Thái Công thêm một câu ngắn:

Nhân từ giả thọ, hung bạo giả vong.

Người nhân từ thì sống lâu, kẻ hung bạo thì chết sớm. Rồi Lão Tử trở lại hình ảnh người làm thiện giống nước:

Quân tử vi thiện nhược thủy, ủng chi khả dĩ tại sơn, kích chi khả dĩ quá tảng, năng phương năng viên, ủy khúc tùy hình.

Cố quân tử năng nhu nhi bất nhược, năng cường nhi bất cương, như thủy chi tính dã.

Thiên hạ nhu nhược mạc quá ư thủy. Thị dĩ nhu nhược thắng cương cường.

Bậc quân tử làm thiện như nước: ngăn thì nước dâng lên núi, đập thì nước vọt qua trán, muốn vuông thành vuông, muốn tròn thành tròn, uốn theo hình dạng mà đi. Vì thế quân tử mềm mà không yếu, mạnh mà không cứng, như tính của nước. Trên đời không gì mềm yếu hơn nước, thế mà mềm yếu thắng được cứng mạnh.

Cảnh Hạnh Lục đưa ra một chuỗi lời khuyên mà cuối cùng gom về hai chữ giúp người:

Vị tử tôn tác phú quý kế giả, thập bại kỳ cửu.

Vị nhân hành thiện phương tiện giả, kỳ hậu thụ huệ.

Dữ nhân phương tiện, tự kỷ phương tiện.

Nhật nhật thường phương tiện, thời thời phát thiện tâm.

Thiên kinh vạn điển, hiếu nghĩa vi tiên.

Thiên thượng thế gian, phương tiện đệ nhất.

Tính kế làm giàu sang cho con cháu thì mười điều hỏng hết chín. Giúp người bằng việc lành thì đời sau được nhận ơn. Giúp người chính là giúp mình. Ngày ngày giúp người, lúc lúc nảy lòng lành. Muôn kinh nghìn điển lấy hiếu nghĩa làm đầu, trên trời dưới đất lấy giúp người làm nhất. Phương tiện ở đây là chữ nhà Phật, chỉ những việc làm tùy nghi, không có phép tắc nhất định, miễn giúp ích cho người khác.

Kinh Thái Thượng ghi bốn câu cho thấy họa phúc không có cửa riêng:

Họa phúc vô môn, duy nhân tự chiêu.

Thiện ác chi báo như ảnh tùy hình.

Tâm khởi ư thiện, thiện tuy vị vi, nhi cát thần dĩ tùy chi.

Tâm khởi ư ác, ác tuy vị vi, nhi hung thần dĩ tùy chi.

Tằng hành ác sự, hậu tự cải hối, cửu cửu tất hoạch cát khánh, sở vị chuyển họa vi phúc dã.

Họa phúc không có cửa, chỉ do người tự rước lấy. Báo ứng lành dữ theo người như bóng theo hình. Lòng vừa nảy ý lành, dù chưa làm, cát thần đã theo bên. Lòng vừa nảy ý dữ, dù chưa làm, hung thần đã tới nơi. Người từng làm ác mà về sau biết hối đổi thì lâu ngày ắt được điều tốt lành, ấy gọi là chuyển họa thành phúc.

Đông Nhạc Thánh Đế nói thêm cho rõ rằng trời không nhận quà để bênh ai:

Thiên địa vô tư, thần minh thời sát.

Bất vị tế hưởng nhi giáng phúc, bất vị thất lễ nhi giáng họa.

Trời đất chẳng riêng ai, thần minh luôn xét. Không vì được cúng tế mà ban phúc, không vì thiếu lễ mà giáng họa. Một lời dặn về chừng mực gồm ba điều:

Phàm nhân hữu thế bất khả ỷ tận. Hữu phúc bất khả hưởng tận. Bần cùng bất khả khi tận.

Thử tam giả nãi thiên địa tuần hoàn, chu nhi phục thủy.

Cố nhất nhật hành thiện phúc tuy vị chí, họa tự viễn hỹ. Nhất nhật hành ác họa tuy vị chí, phúc tự viễn hỹ.

Có quyền thế đừng dựa hết vào quyền thế, có phúc đừng hưởng cạn phúc, người nghèo khó đừng khinh đến cùng, vì ba điều ấy là vòng xoay của trời đất, hết một vòng thì quay lại chỗ đầu. Cho nên làm lành một ngày, phúc chưa đến mà họa đã xa. Làm dữ một ngày, họa chưa đến mà phúc đã lìa.

Hai hình ảnh sau là những câu dễ nhớ nhất của cả loạt:

Hành thiện chi nhân, như xuân viên chi thảo, bất kiến kỳ trưởng, nhật hữu sở tăng.

Hành ác chi nhân, như ma đao chi thạch, bất kiến kỳ tổn, nhật hữu sở khuy.

Tổn nhân ích kỷ, thiết nghi giới chi.

Người làm lành như cỏ trong vườn xuân, không thấy lớn mà ngày một thêm. Người làm ác như đá mài dao, không thấy mòn mà ngày một hao. Hại người lợi mình thì nhất thiết phải tránh.

Và hai cặp câu sau nhắc rằng thiện bắt đầu từ những việc rất nhỏ:

Nhất hào chi thiện, dữ nhân phương tiện.

Nhất hào chi ác, khuyến nhân mạc tác.

Y thực tùy duyên, tự nhiên khoái lạc.

Toán thậm ma mệnh, vấn thậm ma bốc?

Lành dù chỉ bằng sợi tơ cũng nên giúp người, dữ dù nhỏ nhặt cũng nên khuyên người đừng làm. Cơm áo tùy duyên thì tự nhiên vui thỏa, tính mệnh làm gì, hỏi quẻ làm gì? Câu này thể hiện tinh thần quân tử an bần, người đạt biết mệnh của Nho gia.

Khi nhân thị họa, nhiêu nhân thị phúc.

Thiên võng khôi khôi, báo ứng thậm tốc.

Lừa người là họa, tha người là phúc. Lưới trời lồng lộng, báo ứng rất nhanh.

Ba bậc người và của báu duy nhất của nước Sở

Cuối cùng, ai cũng phải tự hỏi mình đang đứng về bên nào.

Thiệu Khang Tiết chia người làm ba bậc:

Thượng phẩm chi nhân, bất giáo nhi thiện. Trung phẩm chi nhân, giáo nhi hậu thiện. Hạ phẩm chi nhân, giáo diệc bất thiện.

Bất giáo nhi thiện, phi thánh nhi hà? Giáo nhi hậu thiện, phi hiền nhi hà? Giáo diệc bất thiện, phi ngu nhi hà?

Bậc trên không dạy vẫn lành, bậc giữa dạy rồi mới lành, bậc dưới dạy cũng không lành. Không dạy mà lành thì không phải thánh là gì, dạy rồi mới lành thì không phải hiền là gì, dạy cũng chẳng lành thì không phải ngu là gì. Ông khép lại bằng chuyện lành là cát, chẳng lành là hung:

Thiện dã giả, cát chi vị dã. Bất thiện dã giả, hung chi vị dã.

Cát dã giả, mục bất quan phi lễ chi sắc, nhĩ bất thính phi lễ chi thanh, khẩu bất đạo phi lễ chi ngôn, túc bất tiễn phi lễ chi địa, nhân phi nghĩa bất giao, vật phi nghĩa bất thủ. Thân hiền như tựu chi lan, tị ác như úy xà hạt.

Hung dã giả: ngữ ngôn quỷ quyệt, động chỉ âm hiểm, háo lợi tập phi, tham dâm lạc họa, tật lương thiện như thù khích, phạm hình hiến như ẩm thực. Tiểu tắc vẫn thân diệt tính, đại tắc phúc tông tuyệt tự.

Truyện hữu chi viết: Cát nhân vi thiện, duy nhật bất túc. Hung nhân vi bất thiện, diệc duy nhật bất túc. Nhữ đẳng dục vi cát nhân hồ? Dục vi hung nhân hồ?

Người cát là người mắt không nhìn sắc trái lễ, tai không nghe tiếng trái lễ, miệng không nói lời trái lễ, chân không đặt lên đất trái lễ, không giao du với kẻ bất nghĩa, không lấy của bất nghĩa, gần người hiền như đeo cỏ chi hoa lan, tránh kẻ ác như sợ rắn rết. Người hung là người lời lẽ quỷ quyệt, hành vi âm hiểm, ham lợi theo thói bậy, tham dâm thích họa, ghét người lương thiện như thù, phạm pháp như cơm bữa. Nhỏ thì mất mạng tiêu tính, lớn thì mất dòng tuyệt giống. Người tốt làm lành suốt ngày vẫn thấy chưa đủ, kẻ hung làm dữ suốt ngày cũng chưa nguôi. Ông hỏi thẳng: các anh muốn làm người cát hay người hung?

Nước Sở ngày trước có một lời đáng để khắc lên cửa:

Sở thư viết: Sở quốc vô dĩ vi bảo, duy thiện dĩ vi bảo.

Sách nước Sở nói rằng nước Sở không coi vật gì là báu, chỉ coi điều thiện là báu. Cuối cùng là bốn câu của Khổng Tử, mỗi câu là một cách nhìn người khác để sửa mình:

Kiến thiện như bất cập.

Kiến bất thiện như thám thang.

Kiến hiền tư tề yên.

Kiến bất hiền như nội tự tỉnh dã.

Thấy điều lành thì như sợ chạy theo không kịp, thấy điều chẳng lành thì như nhúng tay vào nước sôi mà rụt lại. Thấy người hiền thì mong sao bằng được, thấy người dở thì quay vào soi lại chính mình.

Nguồn: Minh Tâm Bảo Giám, Nguyễn Quốc Đoan chú dịch.

Kiều Oanh Trần

Tác giả

Kiều Oanh Trần

Nghiên cứu Mệnh lý - Tử vi - Tâm lý học

Theo dõi trên Facebook

Chia sẻ bài viết

FacebookXLinkedInZalo
Quay lại Khuyên Thiện