Bài tổng quan
Lễ, đức trị, chữ tín và chữ hiếu qua lời Khổng Tử
Tề Cảnh Công nghe Khổng Tử nói xong thì thở dài: nếu vua chẳng ra vua, cha chẳng ra cha, thì dù lúa đầy kho ta cũng không ăn ngủ yên được. Câu trả lời ấy chỉ có tám chữ, mà nó chạm vào cả chuyện lễ, chuyện cai trị và chuyện giữ lòng tin giữa người với người. Còn lại nó chạm tới đâu nữa…
Theo tác giả, trong Luận Ngữ có những câu về lễ nằm ngay giữa các lời dạy về nhân, về chính trị, về chữ tín và về chữ hiếu. Đọc riêng từng câu thì thấy ngắn, nhưng đọc cùng nhau thì thấy chúng đang nói chung một việc: con người phải biết giữ mình trong quan hệ với người khác, từ trong nhà tới ngoài nước.
Lễ: nhìn, nghe, nói, làm đều có chừng mực
Tác giả mở đầu bằng câu về lễ nổi tiếng nhất trong thiên Nhan Uyên:
Phi lễ vật thị, phi lễ vật thính, phi lễ vật ngôn, phi lễ vật động.
Việc gì không hợp lễ thì chớ nhìn, không hợp lễ thì chớ nghe, không hợp lễ thì chớ nói, không hợp lễ thì chớ làm. Tác giả giải: đó là danh ngôn về lễ nghĩa của Khổng Tử, khuyên mọi người rằng nhìn, nghe, nói, làm của một cá nhân đều phải hợp lễ. Ông còn liên hệ với thời nay: việc "nén mình để phụng sự việc công", phụng sự việc công theo pháp luật, chính là thể hiện "ép mình theo lễ".
Câu thứ hai cũng trong thiên Nhan Uyên:
Quân quân, thần thần, phụ phụ, tử tử.
Vua làm trọn phận vua, tôi làm trọn phận tôi, cha làm trọn phận cha, con làm trọn phận con. Tác giả kể ý nghĩa cả câu bắt đầu từ chuyện Tề Cảnh Công hỏi Khổng Tử làm thế nào để cai trị tốt một nước. Khổng Tử đáp rằng vua phải gánh trách nhiệm của vua, bề tôi phải có trách nhiệm của bề tôi, cha phải làm đúng chức năng người cha, con phải làm đúng bổn phận người con. Tề Cảnh Công nói: người nói hay lắm; nếu vua chẳng ra vua, tôi chẳng ra tôi, cha chẳng ra cha, con chẳng ra con, thì dù lúa đầy kho, ta cũng không ăn ngủ yên. Tác giả coi đó là điểm then chốt của việc thực thi lễ, của chính sự một nước.
Câu thứ ba là câu của thiên Học nhi: dùng lễ thì lấy hòa làm quý. Khổng Tử đề xướng "lấy hòa làm quý", đó là nội dung quan trọng trong lễ của ông. Hòa tức hài hòa, an hòa, là nguyên tắc xử lý quan trọng. Ông trọng lễ vì lễ là sự tiết chế của nhân. Giữa quốc gia với quốc gia, giữa các cấp trong một nước, trong gia đình, trong quan hệ người với người đều có lễ tiết nhất định. Lễ tiết cần thiết tượng trưng cho trình độ văn minh và diện mạo tinh thần của một nước, một dân tộc, một cá nhân.
Tác giả thêm một nhận xét thận trọng: lễ tiết bất bình đẳng thì nên bỏ, vì nó không thể cùng tiếng nói với lễ tiết văn minh. Trung Quốc là một nước có nền văn hóa cổ xưa, nổi tiếng thế giới về lễ nghi, và trong xu thế luân lý đạo đức ngày nay, ôn lại đạo đức chung về lễ nghĩa của văn hóa truyền thống là điều tất yếu. Lễ là đạo đức chung của xã hội loài người, ai cũng nên thực hiện. Đề xướng trọng lễ cũng không phải để phục hồi lễ nhà Chu: việc Khổng Tử muốn khôi phục lễ Chu là do bối cảnh lịch sử, nên nhìn bằng quan điểm lịch sử để bàn chuyện lịch sử.
Đức trị: sao Bắc thần đứng yên mà muôn sao chầu
Lễ nếu chỉ giữ trong nhà thì chưa xong. Khi bước ra việc nước, nó đổi tên thành một cách cai trị.
Thiên Vi chính chép câu mở đầu về chính trị:
Vi chính dĩ đức, thí như Bắc thần, cư kỳ sở nhi chúng tinh củng chi.
Người cầm quyền biết dùng đức thì như sao Bắc thần ở một chỗ mà các vì sao khác đều chầu theo. Tác giả giải rằng Khổng Tử cho vua nếu thi hành chính sách nhân đức thì được thần dân ủng hộ, giống như muôn sao hướng về sao Bắc Đẩu.
Cũng thiên Vi chính chép tiếp: nếu nhà cầm quyền dùng chính lệnh dẫn dắt dân, dùng hình phạt để chỉnh dân, thì dân chỉ tránh được tội mà không biết xấu hổ; nếu dùng đức dẫn dắt, dùng lễ chỉnh dân, thì dân biết xấu hổ mà trở nên tốt. Tác giả chú: dùng mệnh lệnh hành chính và hình pháp khắc nghiệt thì không khiến dân tự giác tuân theo, chỉ có dùng lễ ràng buộc, dùng đức câu thúc thì trăm họ mới tự giác theo mà biết nhục, biết vinh.
Đạo chi dĩ chính, tề chi dĩ hình, dân miễn nhi vô sỉ; đạo chi dĩ đức, tề chi dĩ lễ, hữu sỉ thả cách.
Câu thứ ba cũng ở thiên Vi chính: Lỗ Ai Công hỏi làm thế nào để dân phục. Khổng Tử đáp: đề cử người ngay thẳng, đặt lên trên những kẻ cong vạy thì dân phục. Tác giả giải ý chỉ cần tuyển dụng người chính trực, tức chọn người hiền nắm quyền mới nhận được sự ủng hộ. Thiên Tử Lộ thêm: tha lỗi nhỏ, cất nhắc người hiền tài. Theo tác giả, đề xướng cất nhắc người hiền, để người tài đức giữ trọng trách là một trong những chủ trương tiên tiến của Luận Ngữ; Quản Tử cũng nói thấy người hiền không bỏ, không thể không tôn lập "lập chính" lên đầu. Cất nhắc người hiền là một nội dung của nhân đức, và Mạnh Tử kế tục và mở rộng tạo thành một hệ thống tư tưởng chủ yếu của Nho học.
Ai Công vấn viết: Hà vi tắc dân phục? Khổng Tử đối viết: Cử trực thố chư uổng, tắc dân phục.
Tóm lại, theo tác giả, Khổng Tử bàn chính trị là trọng lễ nghĩa, thi hành nhân chính, lấy hòa làm quý, nhấn mạnh nghĩa vua tôi, cha con, và từng là bài học cho các triều đại sau.
Trung và tín: lời nói thật, việc làm dày
Còn một đức tính nữa không thể thiếu cho cả lễ lẫn chính trị: lòng tin giữa người với người.
Thiên Vệ Linh Công nói: lời nói phải trung tín, việc làm phải dày dặn, kính cẩn. Thiên Nhan Uyên nói: lấy trung tín làm chủ, theo nghĩa mà làm, đó là nâng cao đức. Tác giả chú rằng cụm "trung, tín, đốc, kính" là lời nổi tiếng của Khổng Tử, nhấn mạnh khi làm người và xử việc cần trung thành, thật thà, giữ chữ tín. Khổng Tử chủ trương treo dòng chữ ấy lên tấm biển gỗ phía trước xe, còn học trò Tử Trương viết nó lên dải áo của mình. Bốn chữ ấy ảnh hưởng lớn tới hậu thế và tới dân tộc Trung Hoa.
Thiên Vi chính còn chép câu: người mà không có chữ tín thì không biết có thể làm nên việc gì. Thiên Tử Trương chép: nắm giữ đức mà không rộng, tin đạo mà không vững, thì có người ấy cũng được, không có cũng chẳng sao. Tác giả hiểu rằng nếu không có lòng tin thì không biết lập thân xử thế, và kẻ giữ đức, làm điều nhân mà không kiên định là kẻ không trung thực với đạo nghĩa, với niềm tin, không cần cho xã hội. Cho nên chữ tín được coi là quy tắc quan trọng để xử thế làm người.
Khổng Tử nhấn mạnh trung, tín là phẩm chất đạo đức quan trọng của con người. Qua các thời, người người đều nói giữ tín nghĩa là vinh, không giữ tín nghĩa là điều đáng hổ thẹn. Tam quốc diễn nghĩa nói bậc đại trượng phu lấy tín nghĩa làm trọng (hồi 50); Đông Chu liệt quốc cũng nói kẻ không trung tín sao đứng nổi giữa trời đất (hồi 38); thời cận đại có câu gió lớn mới biết cỏ mạnh yếu, thời loạn mới biết kẻ ngay người gian. Đều đề cao tiết tháo trung, tín, nghĩa của con người. Tác giả nhấn mạnh đề xướng trung tín là phẩm đức tối thiểu của cá nhân, không thể đồng nhất với chữ hiếu, trung của giai cấp thống trị phong kiến, và không thể vì thế mà phủ định đạo đức luân lý tối thiểu của cá nhân.
Hiếu đễ: cái gốc của người con
Lòng tin giữa người với người, rốt cuộc, nảy mầm từ nơi gần nhất. Đó là trong nhà.
Thiên Học nhi nói hiếu đễ là cội gốc của điều nhân (hiếu là kính cha mẹ, đễ là kính yêu anh và người lớn tuổi hơn mình). Cũng thiên này dạy: đệ tử ở nhà thì hiếu, ra ngoài thì đễ, cẩn thận mà tín, yêu rộng mọi người và gần gũi người nhân; làm những điều ấy mà còn dư sức thì mới học văn. Người biết đổi lòng ham sắc thành lòng trọng người hiền, hết lòng phụng sự cha mẹ, tận thân phụng sự vua, giao thiệp bạn bè chân thành, thì dù chưa học, ta vẫn bảo là đã học rồi. Tăng Tử nói: cẩn thận trong tang lễ cha mẹ, nhớ tế tự tổ tiên xa, thì đức dân sẽ dày lên mà quay về điều hậu.
Tác giả chú: Khổng Tử chủ trương hiếu trước hết là hiếu kính cha mẹ, người thân của mình. Hiếu kính là đạo đức đẹp của người phương Đông, là tình cảm cao thượng của người Trung Quốc từ xưa đến nay. Con cái không chỉ có trách nhiệm phụng dưỡng chăm lo cho cha mẹ mà còn có nghĩa vụ kính yêu cha mẹ. Hiếu kính người già cả là tượng trưng cho nền văn minh của bất kỳ đất nước nào.
Phẩm chất đạo đức: từ chuyện đặt mình vào chỗ người khác đến chuyện xét mình mỗi ngày
Khi lễ, chính trị, tín và hiếu đã có chỗ đứng, Luận Ngữ còn một nhóm lời dạy riêng cho việc nuôi dưỡng chính bản thân người học.
Tác giả mở nhóm này bằng hai câu quen thuộc: muốn lập mình thì lập cho người, muốn đạt thì giúp người đạt (Ung dã); điều mình không muốn thì đừng làm cho người (Nhan Uyên). Ông chú rằng yêu cầu đầu tiên là muốn tự lập ở bản thân thì phải lập cho người khác, muốn được giúp thì trước hết hãy giúp người khác đạt được; đó là tình cảm cao thượng vì người khác mà Khổng Tử đề xướng. Còn câu "điều mình không muốn thì đừng làm cho người" là đẩy bản thân theo kịp người khác, đặt mình vào vị trí của người khác khi hành xử.
Thiên Học nhi có câu: có bạn từ phương xa đến, chẳng phải là điều vui sao. Tác giả nhận xét Trung Quốc có nền văn minh lâu đời, nổi tiếng thế giới về nghi lễ, người Trung Quốc vốn hiếu khách. Đời Đường, Vương Bột trong bài thơ tiễn Đỗ Thiếu Phủ nói rằng trong nước còn tri kỷ thì dù xa như bầu trời vẫn có láng giềng; đời Thanh Triệu Dực cũng có câu về chuyện người trên đời sao lại không gặp gỡ. Đều biểu thị niềm vui giao hữu của người Trung Quốc.
Tiếp theo là hai câu về việc xét mình. Thiên Học nhi: mỗi ngày ta tự xét mình nhiều lần. Thiên Nhan Uyên: tự xét lòng mà không thấy điều xấu, thì còn lo gì sợ gì. Tác giả nói Khổng Tử rất chú trọng tu thân, câu "mỗi ngày xét mình nhiều lần" là cách ngôn tu thân, khuyên người ta thường xuyên xem lại bản thân và đã ảnh hưởng lớn đến hậu thế. Âu Dương Tu đời Tống nói người quân tử tu thân thì lòng phải ngay, lời nói bên ngoài cũng ngay (Tả thị biện); Chu Hy đời Tống cũng chịu ảnh hưởng ấy mà nói xem xét lại mình hằng ngày, có sai thì sửa, không sai thì càng cố gắng (Tứ thư tập chú). Câu của ông lưu danh ngàn đời, đủ thấy ảnh hưởng của Khổng Tử lớn nhường nào.
Thiên Thuật nhi chép một câu cách ngôn luân lý nổi tiếng: quân tử thản nhiên lồng lộng, tiểu nhân hay lo lắng ưu sầu. Ý khuyên mọi người nên dốc bầu tâm sự, cởi mở phóng khoáng, có lồng ngực của bậc đại trượng phu mà không cần để ý lời nói nhỏ nhen của kẻ tiểu nhân.
Rồi tới chuyện lời nói và việc làm. Thiên Tử Lộ: nói thì phải giữ lời, làm thì phải có kết quả. Thiên Hiến vấn: người quân tử lấy làm xấu hổ khi lời nói vượt quá việc làm. Tác giả cho đó là phẩm đức tối thiểu của một cá nhân. Đời sau có câu làm trước người mà nói sau người (Đại đới Lễ ký, Tăng Tử lập sự), và câu nói như người khổng lồ, làm như người lùn; đều là mở rộng quan điểm ngôn hành của Khổng Tử.
Cuối cùng là một câu nặng lời trong thiên Công Dã Tràng: gỗ mục không chạm khắc được, tường bùn không trát vẽ được. Khổng Tử nói thêm: trước đây ta nghe người nói mà tin việc làm của họ; nay ta nghe lời họ nói mà còn phải xem việc làm của họ. Tác giả giải rằng nghe lời người ta nói thì đừng vội tin ngay vào lời, mà phải xem người ấy làm ra sao. Ông kết nhận xét rằng Luận Ngữ rất phong phú các câu cách ngôn như thế.
Từ chỗ ấy, tác giả dẫn thêm vài câu ngắn như những cái ghim đóng trên tường. Thiên Học nhi: đừng lo người không biết mình, hãy lo mình chưa biết người. Cũng thiên Học nhi: quân tử ăn không cần no, ở không cần yên, làm việc thì mẫn cán, nói năng thì thận trọng, đến gần người có đạo mà sửa mình, thì có thể gọi là người hiếu học. Thiên Vệ Linh Công: kẻ trí không bỏ mất người, cũng không uổng lời; quân tử lo mình không có tài năng, không lo người không biết mình. Cũng thiên ấy: quân tử không vì lời nói của người mà đề cử người, cũng không vì người mà bỏ lời hay; có lỗi mà không sửa, thế mới gọi là lỗi; người có thể mở rộng đạo, chứ không phải đạo mở rộng người. Còn thiên Thuật nhi chép: người sắp vào việc mà biết lo sợ dè dặt, biết mưu tính cho thành, thì ta cùng làm. Thiên Công Dã Tràng chép ngắn gọn: nghĩ ba lần rồi hãy làm.
Nguồn: Kinh điển văn hóa 5000 năm Trung Hoa - Tập 2 (Dương Lực), thuật lại có lược bớt.
