Bài tổng quan
Bốn bộ kinh huyền không, năm cách dùng và nước tương khắc
Cha mẹ đảo vị là chân long, cha mẹ thuận vị thì nghèo hèn suốt đời, chỉ vì nước chảy từ nhất long sang tứ long hay đi ngược lại. Mỗi đường long nuôi một phòng con cháu, nước đặt sai chỗ khiến cả nhà phải tha hương hoặc con cái phải đi buôn xa. Vì sao cùng một dòng nước, có dòng nuôi người mà có dòng hại người?
Mục lục · 9 phần
- 01Cha mẹ đảo vị: nước đi ngược từ bốn long về nhất long
- 02Thầy xem đất đời nay chỉ biết thiên tâm mà bỏ quên chín sao
- 03Bốn bộ kinh của huyền không đại quái
- 04Năm cách dùng của huyền không
- 05Bốn long và chuyện kim gặp kim, mộc gặp mộc
- 06Chân vị bốn người con và chuyện người dưới đi lẫn với người trên
- 07Tương sinh tương khắc trong bốn hành của hai mươi bốn núi
- 08Tương hình giữa kim và hỏa, và cách chuyển cung để hóa giải
- 09Hai mươi bốn núi và bốn đường hoàng tuyền cần tránh
Cha mẹ đảo vị: nước đi ngược từ bốn long về nhất long
Cha mẹ đảo vị là chân long, phú quý song toàn. Cha mẹ thuận vị thì nghèo hèn suốt đời.
Đó là phép chiết thủy theo bốn long. Người xưa lấy nhất long làm cha mẹ, nhị long làm con, tam long làm anh em, tứ long làm cháu. Nước chiết cần đi từ tứ long ngược về tam long, rồi nhị long, rồi nhất long; như vậy gọi là cha mẹ đảo vị, mới là tốt. Nếu đi từ nhất long sang nhị, tam, tứ long thì gọi là thuận vị, như thế là xấu.
Ngô công nói: cha con tương sinh thì tiền của và phúc đều vượng, anh em cùng sinh thì làm quan. Cha con tương khắc thì chủ về hình thương, anh em tương khắc thì chủ về cô độc.
Nhất long ở trong cung có nước đi qua thì con cháu gian khổ. Tứ, tam, nhị, nhất đảo vị thì bốn người con đều hiển vinh. Long đi xa thì con cháu xa quê, bốn người con đều làm nghề buôn bán.
Phàm nước chiết rời đi từ nhất long đến tứ long thì con cháu nghèo khổ; nước chiết đi từ tứ, tam, nhị, nhất thì đời sau phú quý. Nước chiết ra khỏi quái gọi là long đi xa, chủ về chuyện rời bỏ quê cha đất tổ ra nước ngoài; nhưng nếu chiết lại để trở về bản quái của cha mẹ thì chủ về phát đạt nhờ buôn bán.
Thầy xem đất đời nay chỉ biết thiên tâm mà bỏ quên chín sao
Các nhà phong thủy bây giờ phần nhiều không biết phép chín sao, chỉ dựa vào thiên tâm; của cải ở phía đông thì chuyển sang hướng tây, coi phía bắc thành phía nam. Chân long nằm cả ngày trong núi mà làm sao tìm ra? Chỉ vì tự mình không thấy lại đi tìm lung tung.
Câu này nói về những người xem đất không biết phép chín sao mà chỉ nhờ thiên tâm thập đạo để lập hướng. Nước của sinh vượng ở phía đông thì họ lại lấy hướng tây; nước của lâm quan ở phía bắc thì họ lại lấy phía nam. Dù long là chân long, huyệt là chính huyệt mà mất chuẩn mực của dòng nước thì có khác nào quăng xác ngoài đồng.
Bốn bộ kinh của huyền không đại quái
Huyền không quái cũng là bốn kinh ngũ hành, và nó có năm cách dùng. Quái thiên, địa, âm dương còn gọi là huyền không quái. Cần tìm nguồn gốc của Càn, Khôn, Cấn, Tốn, Khảm, Ly, Chấn, Đoài, phải phân thiên địa, tìm ngũ hành ở đó. Bốn kinh là:
Một là Thiên Bảo Kinh: Càn, Bính, Ất cùng Tí, Dần, Thìn, sáu vị này đều thuộc kim. Hai là Huyền Nữ Kinh: Cấn, Canh, Đinh cùng Mão, Tị, Sửu, sáu vị này đều thuộc thủy. Những số kể trên đều thuộc dương, nên núi dương và nước dương mới có thể phối với nhau. Ba là Long Tử Kinh: Khôn, Nhâm, Tân cùng Ngọ, Thân, Tuất, sáu vị này đều thuộc mộc, mà ít người biết. Bốn là Bảo Chiếu Kinh: Tốn, Giáp, Quý cùng Hợi, Dậu, Mùi, sáu vị này đều thuộc hỏa. Những số này thuộc âm, ứng với núi âm và nước âm.
Đó đều là thiên địa âm dương quái trong ngũ hành, nên gọi là tứ kinh. Nếu dòng nước phá phương vượng thì tài lộc hội tụ, nếu phá phương sinh thì tổn hao người. Ở chỗ hoàng tuyền, nếu đóng trên vị trí tràng sinh mà năm ấy xương cốt tiêu hóa đi thì tất bị hình thương. Đó là khẩu quyết thật của Cửu Thiên Huyền Nữ, không nên xem nhẹ mà truyền cho kẻ bạc phúc.
Năm cách dùng của huyền không
Cách thứ nhất: chủ thần là chính, can thần là linh; chính thần ở trên núi, linh thần ở dưới nước. Cách thứ hai: núi chủ về nhân đinh, nước chủ về tài lộc, bốn long chia thành bốn phòng. Cách thứ ba: núi, hướng, đường nước phải theo thứ tự nhất, nhị, tam, tứ, tức là núi khắc hướng thì thuận, chủ đại phú quý; hướng khắc núi thì nghịch, chủ nghèo hàn. Cách thứ tư: núi, hướng và nước cùng nằm trong quái thì phú quý; rời quái thì nghèo hèn. Cách thứ năm: nước đi phải quay đầu, trong bốn long phải có nước của bản long mới tốt; không có nước bản long thì chỉ giàu mà không sang. Ví dụ Ất, Bính: đặt nước mấy lần cho thành nước Ất, Bính, như thế gọi là quay lại.
Bốn long và chuyện kim gặp kim, mộc gặp mộc
Nhất long ở vị kim thì chủ phú quý, con cháu đầy nhà. Núi Thìn hướng Càn đặt nước Càn, hay núi Càn hướng Ất đặt nước Ất, đều là kim gặp kim, chủ phú quý song toàn. Nhị long ở vị mộc thì vượng về nhà cửa, đất đai: núi Khôn hướng Nhâm đặt nước Nhâm là mộc gặp mộc, rất tốt. Tam long rời bản vị thì vàng bạc đầy nhà: núi Cấn hướng Đinh đặt nước Đinh, hoặc hướng Canh đặt nước Canh, là thủy gặp thủy, chủ phát về giàu có. Tứ long đi đến vị của hỏa thì phú quý song toàn: núi Dậu hướng Giáp đặt nước Giáp là hỏa gặp hỏa.
Chính thần trên núi thì con cháu đầy nhà; linh thần dưới nước thì chủ cao sang. Linh thần gặp chính thần thì chủ tai họa. Chính thần phải ra ngoài trăm bước mới thành long; nước ngắn thì hưng, còn linh thần thì bất kể nước dài hay ngắn. Ý ở đây là cách tìm linh thần và chính thần: chính thần tìm trên núi, linh thần tìm dưới nước, và coi trọng việc chính thần phải ra ngoài trăm bước mới thành chân long cùng độ dài ngắn của dòng nước.
Nếu ngũ hành khắc hướng thì con cháu giàu sang; nếu gặp hướng mà thấy hai thần đi cùng thì phú quý lâu dài. Phàm núi khắc hướng thì tốt, như núi Tí hướng Ngọ, Tí thuộc thủy, Ngọ thuộc hỏa, là trưởng khắc thứ, thủy khắc hỏa; thủy là một thần, hỏa là một thần nên gọi là gặp hướng có hai thần đi cùng.
Nơi sinh nhất long có tam long thì đời đời vinh hiển. Tam long là chủ của ngũ hành, bản thân nó thuộc thổ. Nước trong ngũ hành phải được thổ, sinh vượng mộ cũng vậy. Tam long cát thì nhất, nhị, tứ long cũng cát; nếu hung thì cùng hung. Chỉ có tam long kiêm hai hành thủy và thổ, và thủy thổ cũng có sinh vượng mộ như vậy, nên tam long cát hay hung thì ba long kia cũng cát hay hung theo.
Chân vị bốn người con và chuyện người dưới đi lẫn với người trên
Tí, Dần, Thìn cùng Càn, Bính, Ất là chân vị của trưởng nam. Ngọ, Thân, Tuất cùng Khôn, Nhâm, Tân là chân vị của con thứ. Mão, Tị, Sửu cùng Cấn, Canh, Đinh là chân vị của con thứ ba. Dậu, Hợi, Mùi cùng Tốn, Giáp, Quý là chân vị của con út. Chiết nước thứ nhất là chiết nước của phòng trưởng, gồm Càn, Bính, Ất; chiết nước thứ hai là tình hình của phòng thứ, Khôn, Nhâm, Tân cùng đi; chiết nước thứ ba thuộc phòng ba, Cấn, Canh, Đinh; chiết nước thứ tư là cung vị của phòng út, Tốn, Giáp, Quý gặp nhau ở đây.
Nhất long rời xa thủy khẩu thì con cháu bất lợi, chủ về tha phương cầu thực, nhưng nếu ở ngay vị trí của nước thì không đáng ngại. Nhị long đi trước, còn lại một nhất long đơn độc thì có người nuôi dưỡng con cháu. Nhị long chiết nước mà gặp chân long thì tay trắng làm nên cơ nghiệp. Tam long đi trước, nhất long đơn độc thì phải ở nhờ và nhờ người nuôi dưỡng con cháu. Không phân rõ vị trí của tứ long thì cả nhà chịu chết. Dùng hai mươi bốn núi để nói về cha mẹ, anh em, con cháu thì phải có thứ bậc trên dưới; người dưới đi lẫn với người trên là loạn thứ tự ngũ hành, con cháu sẽ được người khác nuôi.
Kim, mộc, thủy, hỏa mỗi hành có một cung vị riêng, sinh khí và vận mệnh cũng khác nhau; hiểu tỉ mỉ sinh khí của bốn hành hợp với vận mệnh thì tự nhiên phát phúc, phát thịnh. Kim sinh thủy thì người mệnh kim, thủy sẽ phú quý; mộc sinh hỏa thì người mệnh mộc phú quý song toàn; núi thuộc thủy thì người mệnh thủy, thổ phú quý. Nước can và nước chi phải hỗ trợ nhau. Ở cung Chấn, trưởng nam đạt nhiều may mắn; cung Đoài là vị trí của con út; cứ chiếu theo đó mà tính, nhưng với con cháu thì khác. Chấn là trưởng, Đoài là út, Ly và Khảm ở giữa; đó là hình thế của núi mà người ta thường nói tới.
Tương sinh tương khắc trong bốn hành của hai mươi bốn núi
Bốn vị long kim, mộc, thủy, hỏa mà tương sinh thì cát, tương khắc thì hung; họa phúc nằm trong tương sinh, tương khắc. Sáu núi thuộc kim là Tí, Dần, Thìn, Càn, Bính, Ất; kim và thủy tương sinh là thuận long. Chẳng hạn hướng Bính nên đặt nước Đinh, là kim sinh thủy; đặt nước Canh cũng vậy. Đặt nước Tân là kim khắc mộc thì hung.
Sáu núi thuộc mộc là Ngọ, Thân, Tuất, Khôn, Nhâm, Tân; núi đến lập hướng tối kỵ tương khắc. Chẳng hạn hướng Tuất không nên đặt nước Càn, vì kim khắc mộc. Sáu núi thuộc thủy là Mão, Tị, Sửu, Cấn, Canh, Đinh. Ví dụ núi Mùi hướng Sửu không nên đặt nước Quý, vì Mùi là hỏa, Sửu là thủy, Quý cũng là hỏa, nước khắc lửa nên bất lợi. Sáu núi thuộc hỏa là Dậu, Hợi, Mùi, Giáp, Tốn, Quý. Ví dụ núi Dậu hướng Giáp không nên đặt nước Đinh, vì hướng Giáp thuộc hỏa mà Đinh thuộc thủy, thủy khắc hỏa nên hung.
Tương hình giữa kim và hỏa, và cách chuyển cung để hóa giải
Kim đến cung hỏa thì người chết sạch; hỏa đến cung kim thì hại vợ con. Kim hỏa tương hình thì người phải tự vẫn và ly biệt. Ví dụ núi Hợi hướng Bính là hỏa đến cung kim; núi Càn hướng Tốn là kim đến cung hỏa. Tuy vậy vẫn có cách chuyển cung thuận long để hóa giải tai họa dữ. Ví dụ núi Hợi hướng Bính mà có nước tới Tốn, Giáp; núi Dậu hướng Ất mà có nước tới Mùi, Quý; núi Ngọ hướng Quý mà nước về Giáp, nếu có nước Canh, Dậu, Tân thì phát phúc lâu dài. Nước về cung Cấn thì phát giàu, nhưng con cháu sinh bệnh tật.
Hai mươi bốn núi và bốn đường hoàng tuyền cần tránh
Núi Tí, Dần, Thìn, Càn, Bính, Ất tối kỵ nước Tốn chảy đi. Núi Ngọ, Thân, Tuất, Khôn, Tân, Nhâm kỵ nước Càn. Núi Mão, Tị, Sửu, Cấn, Canh, Đinh kỵ nước Khôn. Núi Dậu, Hợi, Mùi, Tốn, Giáp, Quý kỵ nước Cấn.
Tí, Dần, Thìn, Càn, Bính, Ất thuộc kim, là nhất long, sinh ở Tị; Tốn cùng cung với Tị, nước chảy tới thì phá tràng sinh. Ngọ, Thân, Tuất, Khôn, Tân, Nhâm thuộc mộc, là nhị long, sinh ở Hợi; Càn cùng cung với Hợi, nước chảy tới thì phá tràng sinh. Mão, Tị, Sửu, Cấn, Canh, Đinh thuộc thủy, tức tam long, sinh ở Thân; Khôn cùng cung với Thân, nước chảy tới thì phá tràng sinh. Dậu, Hợi, Mùi, Tốn, Giáp, Quý thuộc hỏa, tức tứ long, sinh ở Dần; Cấn cùng cung với Dần, nước chảy tới thì phá tràng sinh.
Còn có bốn đường hoàng tuyền theo thiên can: Canh, Đinh kỵ gặp nước Khôn; Ất, Bính kỵ gặp nước Tốn; Giáp, Quý không nên gặp nước Cấn; Tân, Nhâm sợ nhất nước Càn đến.
Nguồn: Lưu Bá Ôn, Địa Lý Toàn Thư, tập 2.
