Bài tổng quan
Nhà ở chọn đất theo thời vận: ba dạng đường cuộc và chín bước lập hướng
Cùng sống trong một thành phố, có người thịnh qua nhiều đời, có người chỉ thịnh một thời, có người cả đời không ngóc đầu lên được. Phong thủy nhà ở giải thích khác biệt ấy bằng vận khí của đường cuộc. Và từ đó, có chín bước để chọn một ngôi nhà cho đúng thời.
Nhà ở khác mồ mả ở chỗ nào
Dương trạch, tức nhà ở, so với âm trạch, tức mồ mả tổ tiên, có một điểm khác. Nhà ở không chỉ lấy Lý Khí làm trọng mà còn phải hiểu về quang tuyến, tức phép định vị trí ngôi nhà trong hoàn cảnh hình thế chung quanh. Ở những khu đô hội, thị thành, nhà cửa san sát nhau thì không thể không xét tới quang tuyến.
Người xưa đã nói điều này từ rất sớm. Trong "Tam chương" của Thi Miên có nhấn mạnh hai chữ "chỉ" và "thời": "chỉ" là dừng lại, tức cách cuộc Loan Đầu có khí tụ; "thời" là thời vận, tức cách cuộc Lý Khí đúng vận. Dựng nhà phải xét chữ thời, nghĩa là xét thiên tâm chính vận. Đọc đoạn ấy có thể thấy người xưa khi định chỗ ở đã phối hợp Hình Thế và Lý Khí rất thành thạo. Chương thứ bảy trong "Văn Vương hữu thanh" có câu nói người ta khảo sát hình thế để dựng nhà cho vua ở đất Cảo. Đó là chuyện lập ấp thời Tây Chu: người ta nhấn mạnh các yếu tố hình thế như đất rộng mà dài, gò cao lớn, và cả quái lý âm dương. Nói chung họ phối hợp Loan Đầu với Lý Khí rất nhuần nhuyễn, và đó chính là yếu quyết để định chỗ ở.
Bạch Hạc Minh giải thích rằng khi chọn dương trạch, trước hết phải xem sơn thủy có hoàn mỹ hay không. Chỗ long đến, núi không làm tán khí, phải đủ điều kiện như cây cối xum xuê, hình dáng hữu tình, khiến gió được giữ và khí được tụ. Phải có núi, có nước: núi cai quản nhân đinh, nước cai quản tài phú. Phúc dày hay mỏng do đường cuộc, tức cách cuộc Loan Đầu của ngôi nhà, hoàn mỹ nhiều hay ít quyết định: chỗ đất hẹp vụn vặt thì phúc mỏng, chỗ rộng rãi thông thoáng thì phúc dày. Loan Đầu quyết định thành tựu của người đời sau, hướng nước quyết định sự giàu có của người đời sau.
Mỗi vùng đất có một nhịp thịnh suy riêng, và ba loại địa hình lớn cho thấy nhịp ấy rõ nhất.
Đô thị, đồng bằng, núi non: ba dạng đường cuộc
Theo sự tiến bộ của xã hội, các nhà phong thủy chia đường cuộc của nhà ở thành ba dạng cơ bản: vùng đô thị, vùng đồng bằng và vùng cao nguyên núi non.
Đô thị hiện đại phần lớn nằm ở miền duyên hải, nơi có đầu mối giao lưu quan trọng và thương nghiệp phồn vinh. Đường cuộc của đô thị thường có khí thế bàng bạc hùng hậu, vì thế long đến lớn, thế nước đến cuồn cuộn; tùy thời vận đổi thay, tuy có lúc vượng lúc suy nhưng không bao giờ nhập tù. Dân sống trong đô thị có vận số khác nhau dù ở chung một vùng: có người phồn vinh từ đời này qua đời khác, khoa bảng đỗ đạt liên tiếp; có người chỉ thịnh một thời, vận qua thì gia nghiệp suy; có người suốt đời lao lực vẫn không ngóc đầu lên được, lưu lạc đầu đường xó chợ. Lên lên xuống xuống, thịnh thịnh suy suy, tất cả do vận khí của đường cuộc quyết định. Nói chung cốt lõi của đời sống con người là ở vận khí; không ai phồn vinh mãi mãi, cũng không ai suy bại đời đời, chịu khổ hết đời này sang đời khác. Đó là do thời vận luân chuyển, mỗi người được hưởng một thời.
Vùng đồng bằng duyên hải thì long thường đến từ phương xa, dừng lại nơi sông biển gặp nhau, nên người ta hay chọn ở gần vùng sông nước. Đất bằng ngàn dặm, nhận được sự ngầm giúp của "tiềm long", hưởng được cái đức của "vượng thủy". Dọc theo hướng nước, thôn trang nối liền một dãy, người ở thường có con cháu sung túc đời này qua đời khác. Cũng vì thời vận lưu chuyển nên chỗ này vượng thì chỗ kia suy, nhà này thịnh thì nhà nọ tàn. Đường cuộc đồng bằng duyên hải dựa vào nước (sông biển) để tìm long, núi ở sau xa ngàn dặm, phía trước là ngã ba hội tụ các dòng sông chính, thế nước uốn lượn vòng quanh; gặp lúc đắc thời đương vận thì gia vận hưng vượng, một khi thời vận chuyển dời khó tránh suy tàn, cửa nhà sa sút hoặc lưu lạc nơi đất khách.
Làng bản ở cao nguyên núi non thì sơn long ngay bên cạnh, sông suối vòng trước cửa, nhưng phần nhiều chỉ là những khoảnh đất nhỏ liền nhau, hình thế chật hẹp. Người ta thường chọn những khoảnh đất có núi nước vây quanh để ở; vì địa hình nhỏ hẹp nên sự chi phối của thời vận càng rõ. Gặp đúng thời hợp vận thì vươn lên phơi phới, núi biếc nước xanh, khắp nơi hiện ra cảnh sắc tươi đẹp. Không đúng thời hợp vận, hoàn cảnh đổi thay, núi non úa trọc, sông suối cạn khô, đầu thôn cuối xóm tường đổ nhà xiêu, hoang tàn xơ xác. Vì vậy việc chọn nơi ở trước hết phải tìm cho được đường cuộc hoàn mỹ, sau đó phải hợp với "lai long khứ thủy", tức sơn mạch và thủy mạch, và đúng thời vận mới ở lâu dài được.
Chọn được đường cuộc vừa ý rồi thì mới xét tới tọa sơn lập hướng để xây nhà dựng cửa ở lâu dài. Các bước được tóm lại theo thứ tự như sau.
Bước đầu tiên là nhìn núi: xem dãy núi đi từ đâu tới và dừng ở đâu.
Bước một: lấy thế rồng đến làm phép lập hướng
Phải căn cứ vào địa thế tự nhiên, lấy sơn và hướng của chỗ "lai long nhập thủ" làm quy tắc lập hướng. "Lai long" là thế của dãy núi đi tới. Nếu dãy núi xa ở tây bắc, dãy gần ở đông nam, thế núi đi theo hướng Kiền Tốn; núi xa ở đông bắc, núi gần ở tây nam, thế núi đi theo hướng Cấn Khôn; núi xa ở tây, núi gần ở đông thì đi theo hướng Đoài Chấn; núi xa ở bắc, núi gần ở nam thì đi theo hướng Khảm Ly. Bốn phương tám hướng gồm hai mươi bốn hướng thế núi đi. Nguyên tắc là phải liền một dãy, ở giữa không có sông ngòi chia cắt; nếu có thì đó là nhìn lầm thế núi. Nơi "lai long nhập thủ" là chỗ tận cùng của thế núi, nói chung là điểm sông nước giao hội. "Lai long" lấy nước làm giới hạn, gặp nước thì dừng. Nơi này phần nhiều có đất bằng phẳng bồi đắp, hình thành đường cuộc có núi vây quanh, sông ngòi bao bọc, ở đó gió được giữ, khí được tụ, đúng là nơi có thể quây quần ở.
Thế răng núi đi tới tuy có hai mươi bốn hướng nhưng thực tế chỉ có ba nguyên:
- Tám hướng Tý, Ngọ, Mão, Dậu, Kiền, Tốn, Cấn, Khôn thuộc thiên nguyên long.
- Tám hướng Thìn, Tuất, Sửu, Mùi, Nhâm, Bính, Giáp, Canh thuộc địa nguyên long.
- Tám hướng Quý, Đinh, Ất, Tân, Dần, Thân, Tỵ, Hợi thuộc nhân nguyên long.
Tọa sơn lập hướng phải theo nguyên tắc một khí đồng nguyên. Chỗ thế núi nhập thủ là thiên nguyên long thì lập hướng cũng phải là thiên nguyên long; nhập thủ là địa nguyên long thì lập hướng cũng địa nguyên long; nhập thủ là nhân nguyên long thì lập hướng cũng nhân nguyên long. Chỉ có một khí đồng nguyên mới đảm bảo quẻ thuần thanh. Ví dụ chỗ thế núi nhập thủ là hướng Tốn, Tốn thuộc thiên nguyên long, thì có thể chọn hướng Tốn, hướng Ngọ, hướng Khôn, hướng Mão, hướng Dậu.
Hướng đi của thế núi nói chung quanh co khúc khuỷu, nên chọn một đoạn tới đầu tiên làm căn cứ. Nhiều nơi mạch núi xa vời vợi không quan sát được, đành dùng cách lấy nước để chứng minh long mà phán đoán. Ví dụ ở chỗ ba ngã nước gặp nhau, chọn một đoạn ở hai bên trái phải chỗ giao nhau, hình thành một góc kẹp; đường phân giới ở giữa, tức đường chia đôi góc kẹp, là hướng đi của thế núi đến.
Tuyến vị kiêng kỵ nhất là tuyến tọa hướng lập trúng đường phân giới của hai quẻ, gọi là đại không vong; dùng thì đại hung. Nếu đè lên đường phân giới của thiên nguyên long với địa nguyên long thì là tiểu không vong, dùng thì hung sát. Nếu đè lên đường phân giới của thiên nguyên long với nhân nguyên long thì tuy không phải khí âm dương lẫn lộn nhưng cũng không nên dùng. Dù là đè lên đường phân giới năm chữ phân kim, đường phân giới sáu mươi bốn quẻ, hay đường phân giới tiết khí cũng không hợp. Tóm lại đè lên bất kỳ tuyến phân giới nào đều sai. Có vài vùng đường cuộc tuy đẹp nhưng thuộc tuyến kỵ xuất quái hoặc khí âm dương lẫn lộn thì đều không dùng được.
Lập hướng cũng phải xem nước của hướng, và việc chọn nước cũng phải giữ khí đồng nguyên: tọa sơn là thiên nguyên long thì nước của hướng cũng phải thiên nguyên long; tọa sơn là địa nguyên long thì nước của hướng cũng phải địa nguyên long; tọa sơn là nhân nguyên long thì nước của hướng cũng phải nhân nguyên long. Nếu không cùng một nguyên thì dù có được nước cũng chỉ là sát thủy. Đó là điều "Thiên ngọc kinh" nói: sơn Kiền hướng Kiền, nước cũng hướng về Kiền, đạt được núi Kiền sẽ xuất trạng nguyên.
Nước đến phải uốn lượn quanh co, nước đi phải tách ra hai bên, nước đến và nước đi phải cùng một nguyên mới gọi là "hợp tuyến pháp". Ngay cả nước của thành môn cũng thế. Ví dụ lập sơn Tý hướng Ngọ thì nước phải đến từ phương Khôn, đi theo phương Cấn; hoặc đến từ Cấn, đi theo Khôn; hoặc đến từ Tốn, đi theo Kiền; hoặc đến từ Kiền, đi theo Tốn. Nước đến, nước đi kỵ nhất là chảy thẳng tới hay xiết như thác ghềnh; phải uốn quanh hữu tình, hoặc chảy thong thả như mặt hồ lay động mới tốt.
Ở chỗ "sơn long nhập thủ" sẽ xuất hiện hiện tượng cuộn qua phải kết huyệt hay cuộn qua trái kết huyệt. Ví dụ long đến nhập thủ từ phương Tý (Tý là thiên nguyên long) rồi bất ngờ cuộn qua phải kết huyệt thì phải lập sơn Kiền hướng Tốn (Kiền Tốn cũng là thiên nguyên long) mà không thể lập sơn Tý hướng Ngọ. Đây gọi là vượt bốn vị trí để lập quẻ phụ mẫu. Sơn Tý nhập thủ thì nước tất phải ở phương Ngọ. Muốn tìm nước ở phương Ngọ thì phải chọn hướng Tốn để phương Ngọ làm thành môn; như vậy gọi là long âm lập hướng dương. Nếu gặp long hồi đầu thì phải chọn long dương mà lập hướng âm, hoặc long âm lập hướng dương, như thế mới gọi là hợp tuyến pháp. Nếu không sẽ xuất hiện hiện tượng tọa sơn bất chính. Chẳng hạn sơn Tý cuộn qua phải mà lập sơn Tý hướng Ngọ, phương tọa sẽ không thẳng góc với sơn long, như vậy là tọa bị lệch.
Có hướng rồi, việc kế là đặt đường kẻ lên la bàn sao cho không chạm vào các đường cấm.
Bước hai và bước ba: tìm điểm lập cực rồi lập quẻ
Bước hai: khi lập tuyến chọn hướng, quan trọng nhất là tìm điểm lập cực. Tìm được điểm lập cực rồi thì theo nguyên tắc khí đồng nguyên mà chọn tuyến vị. Nếu hướng đi long mạch của đường cuộc là thiên nguyên long thì theo thiên nguyên long mà lập tuyến vị chọn hướng; là địa nguyên long thì theo địa nguyên long; là nhân nguyên long thì theo nhân nguyên long. Như vậy có được tuyến vị tọa hướng trên la bàn. Gặp trường hợp "tuyến bất khả lập", chẳng hạn gặp đại không vong hay tiểu không vong, thì nên bỏ cuộc đất ấy, đừng dùng. Gặp chính hướng hoặc kiêm hướng thì có thể theo chính hướng mà lập quẻ, hoặc theo kiêm hướng mà lập quẻ.
Bước ba: lập quẻ tức là lập theo chính hướng, xem quẻ thuộc cuộc nào trong hai trăm mười sáu cuộc khởi tinh rồi đoán tốt xấu. Bất kể lập quẻ nào cũng rơi vào một trong ba loại kết quả:
- Đáo sơn đáo hướng, tức vượng sơn vượng hướng: vận tinh đương lệnh bay đến vị trí tọa sơn, và vận tinh đương lệnh bay đến vị trí đầu hướng. Cần lưu ý trong trường hợp dùng quẻ thế có thể xuất hiện hiện tượng "thế mà không thế": bề ngoài giống đáo sơn đáo hướng nhưng thực ra không phải vượng sơn vượng hướng. Chẳng hạn vận 4 sơn Giáp hướng Canh (kiêm Mão Dậu hoặc Dần Thân) hay sơn Canh hướng Giáp (kiêm Dậu Mão hoặc Thân Dần), bề ngoài tựa như đáo sơn đáo hướng nhưng thực tế phạm sai lầm "hướng xuất quái". Bởi Giáp Canh và Canh Giáp thuộc hai quẻ Chấn Đoài, còn Dần Thân và Thân Dần thuộc hai quẻ Cấn Khôn; quẻ khác nhau thì khí cũng khác nhau. Đồng thời còn phạm âm dương lẫn lộn, vì Giáp Canh, Canh Giáp tuy cùng quẻ với Mão Dậu, Dậu Mão nhưng một bên thuộc dương, một bên thuộc âm; kiêm cả âm lẫn dương thì khí quẻ hỗn tạp.
- Thướng sơn há thủy, chủ về tổn đinh phá tài: hướng tinh đương lệnh bay sang tọa sơn, còn sơn tinh đương lệnh đến đầu hướng. Sự đảo ngược vị trí này gọi là long thần của nước bao bọc lên núi, long thần ở núi xuống nước. Núi vốn cai quản con người, nước vốn cai quản tài sản; nay thần núi xuống nước, thần nước lên núi, hình thành cuộc diện đảo ngược nên tổn đinh phá tài. Gặp cách cuộc này thông thường không nên chọn, trừ trường hợp sơn thủy của đường cuộc trái ngược với tượng quẻ mà lại rất đẹp.
- Song tinh đáo hướng hoặc song tinh đáo sơn: hai sao đương lệnh của sơn và hướng cùng đến đầu hướng gọi là cuộc "há thủy"; hoặc cùng đến tọa sơn thì gọi là cuộc "thướng sơn". Hai vượng tinh cùng đến tọa sơn có thể vượng đinh nhưng phá tài; các cuộc này nói chung không nên dùng, trừ khi gặp đường cuộc đặc biệt như phương tọa vừa có núi vừa có nước, gọi là cuộc "sơn mãn triều không" (tọa đầy đủ mà hướng chầu thì trống). Ngược lại, hai vượng tinh cùng đến đầu hướng thì có thể vượng tài nhưng tổn đinh. Cách cuộc này nhiều địa sư hay chọn vì đường cuộc tương đối phổ biến, tức phương hướng có nước nhưng đồng thời cũng có núi, núi nước cùng một phía. Nếu phương tọa gặp sơn tinh thuộc sinh khí có thể xếp vào cuộc "tọa mãn triều mãn" (tọa đầy đủ, hướng chầu cũng đầy đủ); nếu gặp sơn tinh suy tử thì có thể xếp vào cuộc "tọa không triều mãn" (tọa trống không mà hướng chầu thì đầy đủ).
Sau khi biết cuộc thuộc loại nào, còn sáu việc nữa phải làm trước khi động thổ.
Sáu bước còn lại trước khi khởi công
Bước bốn: xem quan hệ sinh khắc giữa hướng tinh ở đầu hướng, tức vượng tinh đáo hướng, với sơn long nhập thủ.
Bước năm: chọn cửa nước của thành môn.
Bước sáu: vận dụng phép phân kim, cân bằng quan hệ bổ trợ hoặc tiết giảm.
Bước bảy: thu sơn xuất sát.
Bước tám: xem xét các quan hệ cát hung của tượng quẻ, gồm âm dương hợp thập, quẻ tam ban, phản ngâm phục ngâm, địa vận, đả kiếp, nhập tù, quẻ thuần, Thái Tuế xung phạm tọa hướng, và các điều tương tự.
Bước chín: chọn ngày khởi công xây dựng.
Nguồn: Nguyễn Vũ Anh, Thẩm Thị Huyền Không Học – Phong Thủy Trong Bối Cảnh Kiến Trúc Hiện Đại.
