Chuyển đến nội dung chính
Quay lại Đạo Gia

Bài tổng quan

Núi, nước, đường đi và cửa ngõ: cát hung quanh ngôi dương trạch

Đạo Học - Đạo Gia07/10/202615 phút đọc0 lượt đọc
Núi, nước, đường đi và cửa ngõ: cát hung quanh ngôi dương trạch

Một ngôi nhà không đứng một mình: sau lưng có núi, phía trước có nước, hai bên có sa như cánh ve ôm lấy. Người xưa chia nước thành sáu loại, đường thành nhiều kiểu; cổng, bếp, giếng, ao hồ, nhà vệ sinh đều có chỗ nên đặt, chỗ nên tránh. Có chỗ gắn với khí và ngũ hành, có chỗ chỉ là chuyện gió lùa, ẩm thấp, tiếng ồn...


Sa là chiếc áo khoác của long, thủy là người bạn đi cùng

"Sa" là những ngọn núi nhỏ quanh long chính, cũng gọi là các gò đống. Tùy sa nằm trước hay sau huyệt mà gọi là thị sa, vệ sa, nghênh sa, triều sa. Thật ra sa không chỉ là vật có thật mà còn là một thứ quan hệ, như chiếc áo khoác bên ngoài của long, thể hiện ý "hoa hồng cần có lá xanh nâng đỡ". Long và sa thực tế là quan hệ chủ và tòng, ăn khớp với tư tưởng phép tắc của người Trung Hoa.

Trầm Hạo trong Địa Học nói về quan hệ giữa chúng: nước nếu uốn khúc vòng vèo thì sa cũng xoay chuyển, sa và thủy vốn là một nhà. Ôm sát hai bên huyệt như cánh ve sầu là long và hổ; cánh bên trái là thanh long, bất kể thanh long hay bạch hổ, chỉ cần nước giữ được khí. Giữa long hổ là Minh Đường, giống như ngực con người. Phía trước long hổ có án, án phải thấp bằng để nhìn được xa, nước chảy ngang bên trong gọi là Trung Đường; ngoài án phải có triều sơn, như chủ nhân nghiêng mình đón khách.

Tóm lại, sa và thủy đi cùng nhau. Thanh long, bạch hổ là hai ngọn sa bên trái bên phải. Núi thấp gần phía trước huyệt gọi là án; núi lớn ở xa phía trước gọi là triều, nghĩa là triều bái. Chỗ nước uốn lượn chảy ra gọi là thủy khẩu, hai bên thủy khẩu phải có núi cao đứng khép lại gọi là thủy khẩu sa, núi ấy phải cao lớn, vòng mà khép. Nước chảy ra phải chậm, uốn lượn, không được chảy nhanh, vì chảy nhanh làm tổn sinh khí; do đó ở thủy khẩu núi càng nhiều lớp càng tốt. Hám Long Kinh viết:

Cửa khẩu có ngàn trùng khóa chặt, nhất định có vương hầu ở trong đó.

Thực chất yêu cầu ở đây là một môi trường tương đối độc lập, tĩnh mịch bình yên, nước chảy vòng vèo, lớp lớp khóa chặt, cho cảm giác được che chắn nhiều lớp.

Tọa và hướng: đo ngôi nhà bằng tám cung của la bàn

Núi và nước chỉ có nghĩa khi người ta biết mình đứng ở đâu, quay mặt về phía nào.

Muốn xác định sa thủy phải dựa vào cửu cung trên la bàn. Dùng la bàn, trước hết phải tìm được hướng chính Bắc và chính Nam. Ba trăm sáu mươi độ Nam Bắc chia thành tám phương vị bằng nhau, mỗi phương vị bốn mươi lăm độ, lấy hướng Bắc làm điểm trung tâm ở dưới. Bắc nghiêng về Đông hai mươi hai độ rưỡi đều thuộc hướng Bắc, còn gọi là hướng Khảm. Từ Bắc, thuận chiều kim đồng hồ là Đông Bắc (Cấn), Đông (Chấn), Đông Nam (Tốn), Nam (Ly), Tây Nam (Khôn), Tây (Đoài), Tây Bắc (Càn). Tám phương ấy lại được đánh số từ một đến chín theo cửu cung của Lạc Thư.

Khi dùng la bàn đo phương hướng, người ta nhìn từ mặt chính diện của bức tường nhà để định vị trí ngôi nhà. Nói giản đơn, mặt cửa của tòa nhà quay ra đường lớn gọi là "hướng", mặt quay lưng ngược lại gọi là "tọa". Ví dụ đường của một ngôi nhà nằm ở hướng Bắc thì gọi là tọa Ly (Nam) hướng Khảm (Bắc). Hay như một ngôi nhà mà bức tường ở vào hai mươi độ từ Bắc nghiêng về Đông, vẫn thuộc phạm vi hướng Đông Bắc, thì nhà ấy tọa Khôn (Tây Nam) hướng Cấn (Đông Bắc).

Khi đo phương vị nhà ở, cũng cần chú ý phương vị của địa thế núi sông chung quanh: ngọn núi cao hơn nhà ở gần nằm hướng nào, tầm nhìn ra sông là hướng nào. Nếu chung quanh nhà không thấy núi sông thì có thể coi những tòa nhà cao như núi, đường phố như sông; sau khi phán rõ sa và thủy quanh nhà thì mới bắt đầu phán đoán phong thủy ngôi nhà tốt hay xấu.

Sáu loại nước quanh nhà, ao hồ, rãnh nước và giếng

Người Trung Hoa coi nước là của quý để hưởng; nơi ở có nhiều nước thì giúp cứu được cảnh nghèo đói. Theo quan niệm phong thủy, nước quanh nhà chia sáu loại: triều thủy, như sông chín khúc; hoàn thủy, chảy vòng như thắt lưng, như cánh cung; hoành thủy, dòng thẳng như chữ nhất; tà lưu thủy, chảy xiên; phản phi thủy, đội ngược lại; trực phi thủy, chảy tuột đi. Ba loại đầu chủ cát, ba loại sau chủ hung.

Nước gần nhà mà cắt ngang trước cửa là không tốt; nước chảy thẳng vào trước cửa là không tốt. Rãnh nước, hồ nước, giếng nước cũng có điều cấm kỵ. Cống nước là rãnh ngầm từ nhà chảy ra, nên đi ngầm đừng để lộ; đào cống phải thuận địa thế, thuận địa thế mà chảy ngoằn ngoèo thì khí không tản đi; chảy thẳng ra phía trước thì tiền của không giữ được; đối diện cửa thì không tụ tài. Nước ở hai bên thì phú quý lâu dài. Hễ theo hướng Bính Ngọ thì rãnh nước phải từ bên phải thiên tỉnh phía trước chảy vòng lại theo phương Tân; thiên tỉnh giữa thì chảy vòng theo phương Canh; thiên tỉnh sau thì chảy vòng theo phương Càn. Nếu có vài nhà liền nhau thì bên ngoài cửa đào một rãnh ngang để thoát nước.

Ao hồ là nơi chứa nước thải của nhà. Hồ vuông thì hưng thịnh may mắn; hồ hình úp thì phú quý vô cùng. Nhà to hồ nhỏ không tốt, nhà nhỏ hồ to cũng không tốt; hồ to trước cửa hay sau nhà đều không tốt, và ao to trước cửa thì không thọ, ao to sau nhà thì chết yểu từ nhỏ. Ao trước thẳng dài, ao sau hẹp nhỏ, kẹp ao trước ao sau, ao to nuốt ao nhỏ, ao trên lấn ao dưới, trong nhà có bể nước, giữa ao có thủy đình, trong ao có núi nhỏ, nước ao như bùn vàng, đều là cách xấu. Ao trước nhà có góc nhọn chĩa vào cửa thì dễ ốm đau. Trước nhà có hồ hình bán nguyệt, phần thụt vào ở ngoài, phần tròn ở trong thì nhà thịnh vượng.

Giếng dùng lấy nước, đào giếng phải chọn hướng đẹp; hướng lành thì sinh con thông minh; giếng nằm ở vị trí thiên can là lành, ở vị trí địa chi là dữ. Xây nhà mà lấp nhiều giếng, rãnh thì khó bền: giếng cũ thường là đất mới san lấp, không chắc, dễ lún, đổ nhà; có khi thoát địa khí hoặc rỉ nước mạch, bất lợi cho người ở; xung quanh ẩm ướt, người ở dễ bị phong thấp. Thiên tỉnh là khoảng đất trống lộ thiên trong nhà; không được có hình chữ nhất, không được xây nhà phòng trên thiên tỉnh, không chứa nước, không xếp đá lung tung, không quá sâu quá dài, tốt nhất vuông vắn như bàn cờ.

Cổng, tiền sảnh, bếp, nhà vệ sinh và bức tường

Người thuộc Đông tứ trạch mà ở nhà thuộc Tây tứ trạch, hoặc ngược lại, thì "trạch" và "mệnh" không hợp nhau, mọi việc không thuận. Nếu hướng nhà Đông hay Tây khó đổi thì phải sửa cửa chính, sao cho cửa chính và quẻ mệnh tương phối. Người hành Mộc, Hỏa, Thủy là mệnh Đông tứ trạch, nếu cửa mở hướng Tây tứ trạch, tức các hướng Tây, Tây Bắc, Tây Nam hoặc Đông Bắc, thì không lý tưởng vì gặp khí khắc. Người mệnh Thổ hoặc Kim thuộc Tây tứ trạch, mở cửa hướng Đông, Đông Nam, Nam hoặc Bắc là không tốt.

Cổng tuy không phải cửa chính nhưng cũng là một phần của ngôi nhà; nguyên lý xem cổng giống cửa chính, trước là cung, sau là hướng. Cổng nhà người Trung Hoa xưa thường là một khối kín và dày; trước cổng nên đặt một đôi sư tử đá để xua tà khí bên ngoài, giúp chủ nhà khỏe mạnh, làm ăn phát đạt. Nên làm cổng vòm cong úp xuống, tượng trưng cho việc hoàn thành mọi mục tiêu. Có người đi sâu vào thiền định đã nhận ra khí vận động theo hình hai chữ "8" lồng nhau; ngày nay khoa học thấy quỹ đạo xoắn "8" có trong mọi cấu trúc từ ADN đến sự vận hành của vũ trụ. Với phong thủy, những đường lượn quanh co hình chữ "8" rất tốt, dẫn được luồng khí may mắn đến người ở, nên có câu "sinh khí đi theo đường vòng, ác khí đi theo đường thẳng".

Tiền sảnh không chỉ là nơi đón khách mà còn là khoảng ngăn cản các xung sát từ ngoài tác động vào. Phong thủy cho tiền sảnh phải tương ứng quy mô nhà, giống cửa là nơi nạp khí: nhà lớn mà lối vào nhỏ hoặc không có tiền sảnh thì dễ tán khí; nhà nhỏ mà tiền sảnh rộng quá thì phí diện tích. Nhà cao bề thế thì tiền sảnh có thể thêm mái phụ hạ thấp để giới hạn vùng đệm, tạo sự gần gũi. Ở xứ nhiệt đới, tiền sảnh thường không cửa không tường, đóng vai nơi tiếp khách tạm, kết hợp chỗ để giày dép, mũ nón, áo mưa, đồng hồ điện nước để giảm "áp lực" cho phòng khách bên trong. Về hình dáng và màu sắc, có thể bố trí theo ngũ hành tương sinh: nhà vuông (Thổ) thì mái đón nên nhọn (Hỏa) để Hỏa sinh Thổ; nhà sơn xanh dương (Thủy) thì mái đón sơn trắng (Kim) để Kim sinh Thủy; lối vào có góc nhọn vát xéo (Hỏa) thì đặt non bộ, gương soi (Thủy) để bớt Hỏa; tiền sảnh dài (Mộc) thì dùng mảng gạch trang trí thô, điểm nhấn vuông (Thổ) để giảm cảm giác hun hút.

Bếp, theo cha ông ta, quyết định sự thịnh vượng của cả gia đình; theo thuật phong thủy, bếp là một trong ba yếu tố quan trọng nhất của ngôi nhà, ví như dạ dày của cơ thể, là nguồn tài lộc. Bếp tránh bị nhìn trực diện từ cổng hay cửa phòng khách, tránh đối diện nhà vệ sinh, tránh gió, tránh đường đi; bếp lộ thì bất lợi cho tài lộc, bếp là nơi "hậu cung" đặt trong cùng của nhà. Một quầy bar chắn giữa bếp và phòng khách vừa phân lớp không gian vừa giữ kín cho bếp. Màu sắc bếp hài hòa theo bát quái: bếp ở góc Đông Bắc hay Tây Nam nên dùng màu vàng; ở góc Tây hay Tây Bắc nên dùng trắng, ghi; ở Đông, Đông Nam hay Bắc hợp màu xanh; ở Nam nên dùng vàng, ghi, kỵ đỏ vì hỏa quá vượng dễ sinh hỏa hoạn. Bếp không đặt dưới xà ngang vì xà ngang đè bếp chủ hao tài; phải đủ ánh sáng, tránh ẩm tối, có cửa thông gió, khử mùi.

Nhà vệ sinh không thể thiếu, theo nguyên tắc "tọa hung" nên đặt ở các hướng bất lợi về khí hậu và phối hợp được ngũ hành, âm dương: ví dụ hướng Bắc thuộc Thủy, hướng Tây và Tây Bắc thuộc Kim, Kim sinh Thủy nên các hướng này hợp đặt vệ sinh. Khi mặt tiền hướng Tây nắng gắt có thể đưa phòng tắm trên lầu ra trước làm không gian đệm che nóng. Những lời kiêng kỵ dân gian có thể giải thích theo khoa học và kiến trúc: tránh đặt khu vệ sinh trên đầu bếp, vì các phòng vệ sinh nên thẳng hàng trên dưới cho hợp đường ống, và đặt bếp (Hỏa) dưới Thủy là xung khắc ngũ hành; tránh mở cửa phòng vệ sinh thẳng cửa chính, vì ngoài thẩm mỹ còn gây gió lùa, cần bình phong hay vách ngăn nếu không xoay được; tránh đặt vệ sinh ngay trung cung, vì trung tâm của cuộc đất vốn thuộc Thổ, là nơi trang trọng, cần cao ráo, sáng sủa, thoáng (nhà xưa đặt bàn thờ ở trung cung), đặt vệ sinh ở đó vừa làm hỏng nội khí của nhà vừa khó thông thoáng.

Tường rào là giới hạn của "thế giới" nhỏ là ngôi nhà. Tường không được nứt vỡ, dây leo không được bám đầy vì dễ có sâu bọ và tăng độ ẩm; không cao quá hay thấp quá, không áp sát nhà; góc Đông Bắc không được vỡ nứt; không được xây tường rào trước, xây nhà sau, kẻo phạm chữ "tù". Mái hiên trên tường vây không được rộng quá hai thước, nếu không vợ lẽ sẽ nắm quyền trong nhà. Hai bên cổng lớn, tường phải cao thấp rộng hẹp bằng nhau và đúng quy cách.

Nhà gần mồ mả, cầu bao quanh sân và các dòng nước

Ngày càng đông người mà đất không sinh thêm, nên nhà ở cứ lấn dần đến sát nghĩa địa.

Xây nhà trên hay gần khu nghĩa trang, xét về khoa học là không tốt cho sức khỏe; về phong thủy, việc âm dương đảo lộn cũng là nguyên nhân ảnh hưởng sức khỏe và công danh của chủ nhà. Phía trước nhà có mộ gọi là "dương đuổi âm", chủ không tốt; phía sau nhà có mộ gọi là "âm đuổi dương", cũng không tốt; hai bên trái phải có mộ thì nhà ở giữa gọi là "hai âm kẹp một dương", không tốt; góc Tây Bắc của dương trạch có mộ gọi là "bạch hổ ngậm phúc", chủ không tốt.

Tám phương bốn hướng của dương trạch mà có cầu vây quanh là một bố cục nhiều ý nghĩa. Cầu ở gần cung Khảm thì chủ nhân không tốt, và dù xa hay gần, lối đi của cầu hướng vào nhà thì không tốt. Cầu ở cung Cấn thì lợi cho chủ: đàn ông trong nhà có công danh, con cháu thành đạt, chủ nhân vui vẻ may mắn. Cung Chấn thuộc Mộc, không thể xây cầu; nhưng Thủy sinh Mộc, gọi là "thanh long xuất hải", ở xa thì gia chủ gặp may, ở gần thì không tốt, và lối trên cầu không được hướng vào nhà. Cung Tốn gọi là "thanh long tàn thủy", chủ cát khánh phú quý, người ở đó mãi mãi không buồn. Cung Khôn gọi là "chu tước đầu giang", không thể xây cầu; cung Đoài gọi là "bạch hổ trương khẩu", cũng không thể xây cầu; cung Càn gọi là "bạch hổ ngậm phúc", cũng không tốt.

Về nước, có đến, có đi, có cát có hung. Hoàn bao thủy (nước vòng quanh) có dòng nước ở phía trước, kết hợp giao nhau cả trái phải, chủ nhân giàu có, vui vẻ. Yêu đới thủy (nước ở lưng chừng) có nước hai bên tương sinh bao quanh, biểu thị vợ chồng chung sống tốt, phú quý hữu tình. Bát tự thủy: trước cửa có hai nhánh nước hình chữ bát, anh em nên đoàn kết, vợ chồng nên hòa thuận. Vô tình thủy: nước ở sau nhà hướng vào góc tường rồi quay về Đông Bắc mà không trở lại, không tốt. Thủy phá thiên tâm: trước nhà có nước hướng thẳng vào, không tốt. Còn xung phát thủy, dâm loạn thủy, huyền yêu thủy, quán nhĩ thủy là các thế nước từ những cung xấu xung vào nhà, đều không tốt.

Về đường đi: trước cửa có con đường rộng dần thì người trong nhà bình yên; đường trước cửa hẹp thì không tốt; đường hình cung ngược hướng ra ngoài thì không tốt. Đường hướng thẳng vào nhà gọi là "thượng nhãn lộ", như mũi tên bắn vào; đường thẳng ở phía sau, đường như tên bắn vào sườn phải hay sườn trái đều không tốt. Trước mặt có đường như vòng cung ôm lấy, nơi ở trong vòng cung gọi là "hoàn bao", nhất định phú quý, cát tường, hưng thịnh; trước nhà phía Đông có đường bao quanh gọi là "hữu tình lộ" hay "tân nguyệt lộ", chủ đại cát, nhưng sát nhà quá thì không tốt. Đường hình chữ "tỉnh", bốn mặt bao quanh nhà, cũng không tốt.

Với cửa nhà, ví dụ tọa Bắc hướng Nam thích hợp mở cửa Bính, ở nơi đó có sao Tham Lang, sinh môn tài vượng, đại cát; mở cửa Tý thì nhà không lợi. Tọa Đông hướng Tây hợp mở cửa Canh, chủ cát khánh phú quý; mở cửa hướng Tây thì gặp tuyệt mệnh tinh, tức Phá Quân, và Mão Dậu xung nhau, không tốt. Tọa Nam hướng Bắc thích hợp mở cửa Khảm (Tý), là Diên Niên, chủ trường thọ, vợ chồng tốt, còn gọi là thủy hỏa tương tế, đại phúc tinh. Tọa Tây hướng Đông mở cửa Thìn, ở cung Đoài hướng cung Chấn thì cát tường, cửa Thìn gọi là Thanh Long, người và của cải đều vượng. Tọa Bắc hướng Nam mở cửa Mậu thì hậu thế sống lâu, nhưng đừng đẻ quá nhiều con; mở cửa Ngọ, Quý đều không tốt; mở cửa Dậu thì gọi là "huyền yêu môn", cửa tai họa, không tốt. Tọa Đông hướng Tây mở cửa Tuất, Mão, Dần đều không tốt.

Nguồn: Thiệu Vĩ Hoa, Phong Thủy Toàn Thư.

Kiều Oanh Trần

Tác giả

Kiều Oanh Trần

Nghiên cứu Mệnh lý - Tử vi - Tâm lý học

Theo dõi trên Facebook

Chia sẻ bài viết

FacebookXLinkedInZalo
Quay lại Đạo Gia