Bài tổng quan
Sinh khắc phải trung hòa, Đông Tây tứ trạch và hóa giải
Sinh chưa chắc là lành, khắc chưa chắc là dữ: có lửa mà không có nước thì nhà cháy, có nước mà không có đất thì nhà lụt. Từ chỗ ấy người xưa dựng cả một phép đọc nhà bằng tám quẻ, bảy sao và những cách hóa giải. Có một phương pháp chỉ cần đào một cái ao hình chữ Đinh…
Mục lục · 7 phần
Sinh chưa chắc lành, khắc chưa chắc dữ
Gieo một quẻ thì quẻ có tượng, tượng có hào. Hào là sự mô phỏng biến động của trời đất. Khi đã đoán ra nhà dữ, người ta tu tạo nhà dữ cho thành nhà lành. Nếu tu tạo nhà lành mà lại gặp tai họa, ấy là đã đổi nhầm tượng, chọn nhầm hào.
Vì thế, âm dương ngũ hành không thể luận đơn giản rằng sinh là lành, khắc là dữ. Hỏa khắc Kim, dĩ nhiên không tốt; nhưng Kim không được lửa tôi luyện thì Kim non yếu, nhân đinh và tài sản trong nhà đều không hưng vượng. Thổ sinh Kim thì lành; nhưng Thổ chồng Thổ sẽ chôn vùi Kim, người và của cũng chẳng vượng.
Thủy khắc Hỏa thì không lành; nhưng Hỏa quá mạnh mà không có Thủy dập bớt thì cứ thiêu đốt, e gia đình vướng kiện tụng thị phi, phụ nữ cô quả. Mộc sinh Hỏa là lành; nhưng Mộc vượng quá thì Hỏa quá vượng, gây hỏa tai và vạn sự rối ren. Kim khắc Mộc tuy không lành, nhưng nhiều Mộc mà không có Kim thì Mộc sẽ quá cứng. Thủy sinh Mộc là lành; nhưng nước nhiều cây ít thì cây nổi trôi trên mặt nước, người nhà sức khỏe kém, gia sản sơ sài.
Mộc khắc Thổ là không lành, song nếu đất ít cây thì đất không thông khí. Hỏa sinh Thổ là lành, nhưng lửa nhiều quá thì đất khô nóng, muôn vật không sinh trưởng. Thổ khắc Thủy là không lành, nhưng nếu không có Thổ thì Thủy tràn ngập thành lụt. Kim sinh Thủy là lành, nhưng Kim quá nhiều, Thủy quá vượng thì nam nữ sinh dâm loạn, phóng đãng.
Sinh khắc ngũ hành lấy trung hòa làm quý; quá độ thì hại nhân đinh và gia sản. Có sinh mà không khắc thì gia đình chẳng hưng vượng. Có khắc mà không sinh thì gia đình nghèo khổ. Sinh khắc trung hòa, có chừng mực thì người và của đều vượng, đại phú đại quý.
Nói về số gian nhà thì lấy con số âm dương của Lạc Thư làm chuẩn; nói về phương vị thì phải dùng âm dương bát quái, dùng Lạc Thư để luận phương vị là sai. Chọn nhà phải xem hình thế: sơn thủy hữu tình, bốn phía đoan chính, sa thủy bao quanh thì ở lành. Nếu núi xung phạm, lồi lõm, nham nhở, nghiêng lệch, nước như bắn thẳng tới hoặc chảy xiết, thì dù là nhà lành cũng không nên ở.
Ba quẻ lành, bốn quẻ dữ nằm sẵn trong Tiên thiên
Mỗi sao trong tám sao du niên đều có một hình đồ riêng. Nhìn hình đồ ấy là thấy sao đó mang hơi ấm hay hơi lạnh của vợ chồng, cha con, thù địch.
Đồ hình thứ nhất cho biết bốn quẻ Kiền, Đoài, Ly, Chấn, số đi thuận thì lành; bốn quẻ Tốn, Khảm, Cấn, Khôn, số đến nghịch thì dữ. Đó là số tự nhiên của tạo hóa.
Với sao Thiên Y, ngũ hành tuy có thể tương sinh, nhưng cuối cùng khí của trời xoay chuyển hỗn tạp, không còn dấu vết rõ.
Với sao Diên Niên, Kiền trời Khôn đất định phương vị; Cấn núi Đoài đầm thông sinh khí; Chấn sấm Tốn gió cùng yếu đi; Khảm nước Ly lửa không va chạm. Đó là ý đạo âm dương phối hợp với nhau.
Với sao Tuyệt Mệnh, chín kẻ địch gặp nhau, không thể phối thành, nên thành Tuyệt Mệnh.
Với sao Ngũ Quỷ, đường đời suy bại, lòng người trở trái, binh khí gặp nhau; đó là do tính của sao Quỷ Sát đang hoành hành.
Với sao Họa Hại, sự tương khắc hiện rõ dễ thấy, sự tương sinh ẩn giấu khó tìm. Cho nên Hỏa sinh Thổ mà phát ra tai họa, ân bị khắc hại, sinh mà hóa hại; nhưng chính cái hại lại có lúc sinh ân đức.
Với sao Lục Sát, hai sát cùng sinh thành, việc không thuận, thấy sinh mà chẳng sinh, ngược lại thành suy bại, họa hại, tạo nên điều ác. Lục Sát chủ dâm loạn, tà ác.
Đông tứ trạch và Tây tứ trạch
Tám đồ hình Tiên thiên bát quái ấy chia thành ba lành bốn dữ. Sao tinh khí thuận hành: Kiền Đoài gặp nhau, Cấn Khôn liền kề, Khảm Tốn tương sinh, Chấn Ly nuôi nhau. Cho nên bốn vị Khảm, Tốn, Ly, Chấn là Đông tứ trạch; Kiền, Đoài, Cấn, Khôn là Tây tứ trạch.
Với sao Thiên Y tương sinh, Khảm, Chấn, Tốn, Ly tương sinh với nhau; Cấn, Kiền, Khôn, Đoài nuôi nhau, nên phân thành Đông và Tây tứ trạch. Với sao Diên Niên đắc phối, Kiền làm cha, Khôn làm mẹ, Chấn, Khảm, Cấn là ba con trai, Tốn, Ly, Đoài là ba con gái; âm dương phối hợp mà chia ra Đông Tây tứ trạch. Vì vậy, Tây tứ trạch an ở phía tây, Đông tứ trạch an ở phía đông mới là lành như ý; Tây tứ trạch an ở phía đông, Đông tứ trạch an ở phía tây thì hung hiểm, tà ác.
Mỗi sao ghép những cặp quẻ nào
Bảy sao du niên không đứng một chỗ; mỗi sao là một cách ghép đôi giữa hai trong số tám quẻ, và ghép theo chiều nào cũng cho ra cùng một sao.
Sao Sinh Khí, tức Tham Lang thuộc Mộc, là một dương: Kiền với Đoài, Khôn với Cấn, Chấn với Ly, Tốn với Khảm, và ngược lại. Sao Thiên Y, tức Cự Môn thuộc Thổ, là hai dương: Kiền với Cấn, Khôn với Đoài, Chấn với Khảm, Tốn với Ly. Sao Diên Niên, tức Vũ Khúc thuộc Kim, là ba dương: Kiền với Khôn, Khảm với Ly, Cấn với Đoài, Chấn với Tốn.
Sao Họa Hại, tức Lộc Tồn thuộc Thổ, là ba âm: Kiền với Tốn, Khảm với Đoài, Cấn với Ly, Chấn với Khôn. Sao Lục Sát, tức Văn Khúc thuộc Thủy, là hai âm: Kiền với Khảm, Cấn với Chấn, Tốn với Đoài, Ly với Khôn. Sao Ngũ Quỷ, tức Liêm Trinh thuộc Hỏa, là một âm: Kiền với Chấn, Khảm với Cấn, Tốn với Khôn, Ly với Đoài. Sao Tuyệt Mệnh, tức Phá Quân thuộc Kim, là một âm: Kiền với Ly, Khảm với Khôn, Cấn với Tốn, Chấn với Đoài.
Cửa chính, cửa góc và ngũ hành của các sao du niên
Bốn cung Khảm, Ly, Chấn, Đoài là tứ chính môn; bốn cung Kiền, Khôn, Cấn, Tốn cũng có thể xem là tứ chính môn. Phép quán tinh là khởi tính từ bản cung, dùng du niên đếm thuận đến cửa chính để xem đó là sao gì. Chẳng hạn tầng thứ nhất là Kim tinh, tầng thứ hai là Thủy tinh. Có câu nói rằng cửa ở vị tứ chính thì phải xem sao ở cung ấy, đối chiếu với mười tám cửa góc.
Hướng về cung Đoài hay Khảm mà mở cửa Kiền; hướng về cung Khảm hay Chấn mà mở cửa Cấn; hướng về cung Chấn hay Ly mà mở cửa Tốn; hướng về cung Ly hay Đoài mà mở cửa Khôn: đó là bốn cửa góc. Chính môn và ngung môn đều dùng phép ngũ hành thuận sinh của bát quái để quán tinh, như Kim sinh Thủy, Thủy sinh Mộc, Mộc sinh Hỏa.
Nhưng ngũ hành của du niên thì không theo thứ tự thuận sinh ấy. Quẻ Lục Sát thuộc Thủy, quẻ Thiên Y thuộc Thổ, quẻ Ngũ Quỷ thuộc Hỏa, quẻ Họa Hại thuộc Thổ, quẻ Diên Niên thuộc Kim, quẻ Sinh Khí thuộc Mộc. Thủy sinh Mộc thì được, nhưng Mộc không thể sinh Hỏa; Hỏa tuy sinh Thổ, Thổ tuy sinh Kim, nhưng Kim làm sao sinh được Thổ đã đứng sau nó?
Đoán ngũ phòng thì chuyên dựa vào độ cao lớn của nhà, xem hào tương ứng, dùng du niên thuận thứ tự mà lập quẻ rồi luận sinh khắc ngũ hành. Ví dụ cửa thuộc Thổ tinh, phòng cũng thuộc Thổ, là hai Thổ tỉ hòa; nhưng nếu nhập cung Thủy thì sao khắc cung. Cửa Ly cũng khắc cung Thủy.
Kinh Thư nói: Thủy gặp Thổ mà không có Kim thì Thủy nhất định bị khắc, Thổ bị nước cuốn trôi. Thổ gặp Mộc mà không có Hỏa thì Thổ nhất định bị khắc, ba năm sau Mộc cũng theo Thổ mà chết. Các hành khác theo đó mà suy.
Cách hóa giải của Lại Bố Y
Lại Bố Y đưa ra một phương pháp hóa giải hung họa, căn cứ vào việc quan sát sơn hình thủy cục. Nếu sa sơn chầu hữu tình, nước uốn lượn vây bọc, núi có khí sinh vượng, nước chảy về hướng bại tuyệt, thì là cách tận thiện tận mỹ, không cần dùng phép này. Nếu có sát tinh chiếu từ trên cao, nước ác xối tới, hung họa khó tránh, thì phải dùng phép này để hóa giải, hoặc dùng can chi khắc chế, hoặc dùng nạp giáp, dịch quẻ để khắc chế.
Lấy ví dụ: Quý Mão thuộc cung Chấn, làm nhà ở Nhâm sơn hướng Bính, quay mặt về núi. Sơn thủy nghiêng chếch, nước chảy ra vị trí Tốn, đó là hướng Bính Hoàng Tuyền. Nếu núi ở vị trí Khôn cao, cung Đoài thấp hãm thì phải dùng phép dịch quẻ mà luận giải. Chấn vị với Ly sơn giao nhau, ở Ly nổi lên sao Tham Lang, ở Cấn, Bính là sao Văn Khúc, thuộc Thủy. Nước Nhâm mênh mông, chủ người nhà ly tán, đi xa.
Còn luận về khai môn nạp Giáp: Giáp vị khai môn, đón nước Giáp, lấy Thổ là số năm, cho nên "Thổ sơn, hướng Bính, Giáp vị khai môn thì trong năm trăm năm gia đình sẽ xuất hiện nhân tài lừng lẫy. Nếu chuyển đến Tử Dương sơn xả nước, thì trong ba năm nhà có trẻ con phải chết". Tử Dương sơn xả nước là nước Tốn, nên phải đào một cái ao hình chữ Đinh ở hướng nam để khắc chế. Vì quẻ Tốn nạp Tân, quẻ Đoài nạp Đinh; dùng Đinh khắc Tân, tức là dùng quẻ Đoài khắc quẻ Tốn.
Quẻ Khôn là sao Liêm Trinh. Trong quẻ nói: sao Ngũ Quỷ thuộc Hỏa, là phương hung, không nên làm nhà cao. Bên ngoài phải dựng một tòa lầu cao, mở các Tướng quân, dùng hình cung của tướng quân mà bắn vào nó. Đem sơn màu đen lên nhà cửa, tượng Thủy khắc Hỏa.
Long Quý Mão có nạp âm thuộc Kim, Kim vượng thể ở cung Dậu, cung Dậu không nên thấp lõm, cho nên làm một ngôi lầu cửa triều thủy, cột cao bốn trượng, mặt trước đón nước Dậu, trữ nước thành ao hồ, rồi đắp đá thành cầu cho mọi người qua lại. Làm như vậy một là trấn giữ phương vượng khí, hai là đón nước vượng chảy đến. Phương pháp của Lại Bố Y đại để như thế.
Một phép kinh vĩ: đọc nhà theo từng tầng
Có một cách đọc nhà theo thứ tự các tầng, từ ngoài vào trong, mỗi tầng ứng với một sao và một chi trong dòng họ.
Ví dụ nhà ngồi Sửu sơn, cửa mở Mùi. Sửu sơn là quẻ Đoài, Mùi môn là quẻ Chấn, thành sao Tuyệt Mệnh, sao Phá Quân thuộc Kim, chủ không phát tài. Lại tính từ Đoài sơn, từ Chấn khẩu thuận nhập tầng thứ hai là sao Sinh Khí, sao Tham Lang thuộc Mộc, ở vị trí Kiền thuộc Kim, là cung khắc sao, tuy phát tài nhưng dòng con trưởng nghèo khổ.
Tầng thứ ba là Họa Hại, sao Lộc Tồn thuộc Thổ, ở vị trí Khảm thuộc Thủy, sao khắc cung, chủ chi thứ ba suy bại. Tầng thứ tư là Diên Niên, sao Vũ Khúc ở vị trí Cấn thuộc Thổ, cung sinh sao, chủ phát tài cho chi thứ ba. Tầng thứ năm là Tuyệt Mệnh, sao Phá Quân Kim ở vị trí Chấn thuộc Mộc, sao khắc cung, tổn hại chi trưởng. Tầng thứ sáu là Lục Sát, sao Văn Khúc thuộc Thủy, ở vị trí Tốn thuộc Mộc, sao sinh cung, chủ tổn hại chi thứ hai. Tầng thứ bảy là Ngũ Quỷ, sao Liêm Trinh thuộc Hỏa, ở vị trí Ly thuộc Hỏa, cung và sao tỉ hòa, chủ tổn hại chi trưởng. Còn một tầng nữa là Thổ tinh ở vị trí Khôn thuộc Thổ, cung và sao tỉ hòa, chủ phát tài cho chi thứ hai.
Sao và cung tương sinh tương hợp là tốt nhất; nếu xung khắc thì dù là cát tinh cũng thành hung họa.
Đổi sao, đổi khí: phần nào đổi được, phần nào không
Khí của bản cung là khí Tiên thiên, chủ yếu nhất, không thể cải biến. Khí của sao ở cửa là khí Hậu thiên thai nguyên, có thể cải biến. Khí âm ắt bắt đầu từ âm, khí dương ắt bắt đầu từ dương; khi khí âm dương biến đổi thì khí của cung và sao cũng đổi theo. Cho nên muốn đổi sao biến khí, trước hết phải luận khí thai nguyên, tức khí Hậu thiên.
Từ đầu, căn cứ khí của nhà mà phân âm dương, dựng đường ốc theo Huyền Không tạo hóa; đường đi tới chỗ nhà ngồi là hào số không, tùy theo cửa mà tu bổ; mỗi tiết, mỗi điều vạch thêm một nét; tùy sao và cung biến hóa mà hiện ra tượng lành. Phòng hướng đông bắc lấy làm hào dương, phòng hướng tây nam lấy làm hào âm. Đường vào là chủ, đường ra là khách; mở cửa dựng nhà về hướng nào, sắp hào trên hào dưới thành quẻ, tất sẽ yên ổn. Phối hợp âm dương, sáu hào trên dưới sao cho thích hợp. Đó là khẩu quyết Huyền Không đích thực, chứa đủ cát hung họa phúc.
Nguồn: Lưu Bá Ôn, Địa Lý Toàn Thư, tập 2.
