Chuyển đến nội dung chính
Quay lại Đạo Gia

Bài tổng quan

Lập huyệt đất bằng: dương đến âm nhận và phép thu nước

Đạo Học - Đạo Gia07/10/202615 phút đọc1 lượt đọc
Lập huyệt đất bằng: dương đến âm nhận và phép thu nước

Ở vùng đất bằng, một chỗ nổi cao chỉ vài tấc có thể phân ranh giới giữa nơi phúc lộc và nơi tuyệt diệt. Người xưa dặn rằng đặt huyệt trên chỗ thấp bằng thì dù núi nước có tình, nhà ở cũng mau suy bại. Nhưng nước ở gần hay ở xa mới là nước đúng?


Nhận ra tổ sơn, lưng và mặt của dải đất

Mỗi vùng đều có một tổ tông sơn riêng. Việc đầu tiên là xem tổ sơn của mạch rồng: nó bắt nguồn từ đâu, nước bắt nguồn từ đâu, tản chảy đi từ nơi nào, nhập vào đường lớn ở chỗ nào, các dòng nước giao nhau ở đâu, các ngọn sa tụ họp ở đâu. Rõ những điều ấy thì biết nơi nước chảy đến là lưng, nơi nước giao hội là mặt.

Biết lưng và mặt rồi thì xem nước theo mạch rồng chảy về hướng nào, sa hộ mạch uốn vòng về hướng nào. Nơi sa và nước vòng trở lại, lưu luyến không dứt là rồng; nơi sa và nước chạy thẳng đi, không ngoái lại thì không phải rồng.

Quá hiệp: nơi mạch rồng đổi xương

Cái eo hẹp nơi mạch rồng bị hai dòng nước nhỏ kẹp lại giống như khớp xương, chỗ ấy cho biết rồng khỏe hay yếu.

Đã biết thân rồng thì xem kỹ từng đốt. Nếu hai bên thân rồng có hai dòng nước nhỏ đối xứng kẹp lại, thành hình chữ Bát, thế đi ngược chiều thì đó là nơi quá hiệp của mạch rồng. Quá hiệp càng nhiều thì thần thái mạch rồng càng quý hiếm. Nhưng quá hiệp phải có hộ tùng hai bên; nếu không thì gió dữ quét thổi, nước xói mòn, đất ấy không còn quý về phong thủy.

Còn có loại quá hiệp bị đứt đoạn, có nước xuyên qua. Làm sao nhận ra mạch quá hiệp loại này? Đại khái rồng thật khi đi xuyên qua nước thì hai bên nhất định có sa và nước hộ tống, trong nước nhất định có doi đất hơi nhô lưng, mùa đông nước chảy chậm, đáy nước là đất rắn chắc. Biết rõ quá hiệp rồi thì hiểu được chuyện rồng vượt sông và dòng nước hộ tống mạch rồng.

Nơi tận cùng của rồng thật

Đã biết tổ tông, lưng mặt, thân rồng, quá hiệp thì xem tiếp nơi tận cùng của nó. Rồng thật chạy đến chỗ tận cùng kết huyệt thì hai bên huyệt nhất định có hai dòng nước nhỏ như hai cái bọc, thong thả dồn khí của rồng vào huyệt ở giữa. Phía trước huyệt nhất định có minh đường thấp hẹp, nước hai bên theo rồng chảy đến trước minh đường mà giao hội. Phía trước minh đường có sa, có núi án cùng nước bao quanh huyệt. Sa bốn phía hộ vệ đều có tình lưu luyến, sa bên trái quay mặt sang phải, sa bên phải quay mặt sang trái, huyệt ngồi ở chính giữa như quan lớn ở công đường. Đó là huyệt kỳ diệu.

Địa hình đất đai muôn hình vạn trạng, cách kết huyệt cũng thiên biến vạn hóa. Nếu một mảnh đất lớn đến chỗ tận cùng mà hai bên không mở ra, đường chia nước lờ mờ nửa có nửa không, thế nước yếu ớt, phía trước huyệt là mảnh ruộng thấp làm tiểu minh đường thì hãy đặt huyệt ở tiểu minh đường. Nếu khí mạch kết ở một góc bên, chỉ có một dòng nước nhỏ chia mạch, nước uốn quanh theo rồng hướng ra ngoài thì nên đặt huyệt ở góc bên. Nếu một đầu bờ rộng thênh thang, nhìn không thấy bến, khí mạch tản ra bốn phía thì tùy thế rồng mà kết huyệt. Còn mạch chếch sang một bên, không giữ được sinh khí thì chỗ ấy không thể kết huyệt.

Nếu mạch rồng từ phía trước chạy đến nhưng cục diện huyệt ngược với mặt trước thì dùng phép điểm huyệt đảo ngược. Nếu sau khi kết huyệt, dư khí của rồng không ngưng tụ mà ào ào đổ về phía trước, thì cần xem sa và nước hai bên huyệt: nếu chúng hộ vệ, yểm trợ, lưu luyến có tình, hơn nữa sinh khí thịnh vượng sung mãn thì có thể dùng phép điểm huyệt thuận.

Nếu nước theo rồng giao hội ở phía ngoài núi án thì kết huyệt ở đó rất cát lợi. Nếu mạch rồng không thành núi án, nước bên ngoài tỏa ra mà không giao hội, rồi lại kết huyệt ngay trên đường rồng chạy, thì sinh khí sẽ bị tuyệt diệt.

Huyệt của mạch rồng vô cùng đa dạng, khó mà kể hết. Cần hiểu núi và nước hướng vào nhau hay quay lưng nhau, mở ra hay khép lại, tụ họp hay phân tán, sinh khí của núi nước dồn tụ ở đâu, để xác định vị trí đặt huyệt.

Dương đến âm nhận: chỗ nhô lên giữa đất bằng

Ở vùng đất bằng, nếu hình như bàn tay ngửa thì dương khí có thừa mà âm khí thiếu. Ở nơi tận cùng nhất định phải hơi nhô lên, gặp âm khí đầy đủ thì mới kết thành huyệt. Đó là phép dương đến âm nhận. Nếu đặt huyệt ở chỗ thấp bằng thì chỉ có dương khí, không có âm khí; dù sa và nước hai bên có tình, chủ nhân ở đó tuy tạm yên lành nhưng rất mau suy bại.

Vì vậy Cảnh Thuần từng nói nơi thấp bằng mà có chỗ nổi lên thì ẩn chứa phúc lộc cát lợi. Trương Tử Vi nói ở đất bằng nơi nào địa hình cứ thấp dần xuống mà đặt mộ thì con cháu bị tuyệt diệt. Bốc Tắc Nguy nói chỗ kỳ diệu của đất bằng là bốn bề thấp lõm mà riêng một chỗ nổi cao, và điều nguy hiểm nhất là đặt huyệt cạnh hố bùn.

Tìm nước cho đúng: không xa quá, không gần quá

Chuyện tìm nước cũng như chuyện nêm gia vị: quá tay hay thiếu tay đều hỏng.

Bốc Tắc Nguy còn nói rằng khi chọn huyệt ở đất bằng, trước hết phải tìm mạch nước. Nhưng tìm mạch nước cũng phải có phép. Lấy nước chảy từ xa đến làm mạch nước là sai, mà lấy nước chảy từ gần đến cũng lầm. Lấy nước chảy nghịch hướng là sai, lấy nước chảy thuận hướng cũng lầm. Lấy nước lớn mênh mông ở gần làm mạch nước là sai, lấy nước nhỏ hẹp ở gần cũng lầm. Những trường hợp ấy đều không thể coi là mạch nước thực sự.

Vậy thế nào mới là được mạch nước thật? Đạo lý biến hóa của trời đất không quá đà, rất có chừng mực, tốt nhất là sự chừng mực. Cho nên lấy nước gần làm mạch nước thì phải có dư khí, nếu không thì chân sẽ teo tóp. Lấy nước xa làm mạch nước thì minh đường phải thấp vừa, nếu không sinh khí sẽ tiêu tán. Lấy nước lớn ở gần thì huyệt phải lùi về phía sau, nếu không sẽ bị xung kích làm lung lay đầu não. Lấy nước nhỏ ở gần thì huyệt phải nhô cao, nếu không thì không nhìn thấy nước. Lấy nước chảy nghịch hướng thì huyệt phải gần núi án để nước không xói thẳng vào huyệt. Lấy nước chảy thuận hướng thì nước phải giao nhau, để đực cái giao phối với nhau.

Nước chảy nghịch hướng phải có dáng chầu về, tốt nhất giống chữ Chi, chữ Huyền, uốn lượn quanh co mà thong thả chảy tới; nếu xối thẳng như mũi tên thì bất lợi. Nước tràn qua minh đường tốt nhất uốn quanh ngoằn ngoèo như rắn bò, không nên như mũi tên xuyên thẳng. Nước lớn mênh mông cuộn sóng trào trề là bất lợi. Nước nhỏ yếu nhưng uốn lượn như cây roi mềm, như dây lưng thì rất thích hợp.

Dáng hung sát gồm: như hai thanh kiếm giao nhau thành chữ Thập, như hai cánh cung đối đầu, như tấm màn chụp xuống, như lưng rộng mà vai hẹp, như giao long cuộn mình nằm ngủ, như phát ra tiếng bi thương mà cuồn cuộn chảy tới. Phải quan sát kỹ chỗ nước vào, chỗ nước ra, hướng thu nạp và tiêu tán của nước. Chỉ lấy nơi nước chảy mạnh tới, tích nạp sinh khí vượng thịnh mới đúng phép.

Đại sư Tả Khâm từng nói xác định rõ hình thái chầu hướng của mạch nước thì thấy một bên cát tường, một bên hung sát ứng hợp với nhau; ba hợp nối nhau như chuỗi ngọc đều tăm tắp thì chủ cát tường may mắn. Đem phép này kiểm nghiệm các huyệt đã có đều thấy phù hợp đúng như vậy.

Lập hướng thu nước theo Thủy cục, Kim cục, Hỏa cục, Mộc cục

Khi lên huyệt trường, định xong huyệt đạo, còn phải xem nước phát nguyên từ đâu chảy đến minh đường, từ đâu chảy ra khỏi minh đường, rồi dùng la bàn xác định phương hướng, vị trí của nước. Nếu nước chảy đến hợp với phương vị Thủy cục thì dùng phép Thủy cục mà thu nạp; hợp với Kim cục thì dùng phép Kim cục; hợp với Hỏa cục hay Mộc cục thì dùng phép Hỏa cục hay Mộc cục. Đó là cách nhận mạch nước, định hướng và thu nạp nước đến.

Nước nhất thiết phải từ nơi hoài thai, dưỡng dục, sinh trưởng, quan vận hanh thông, sinh khí sung mãn, vạn sự như ý chảy đến, đồng thời phải từ nơi suy lão, bại lạc, bệnh tật, tử vong, họa hại, sinh khí tản thoát mà chảy đi. Nước từ nơi hoài thai, dưỡng dục, sinh trưởng chảy đến thì nhân đinh hưng vượng, con cháu đầy nhà. Nước từ nơi quan vận hanh thông, vạn sự như ý chảy đến thì trời đất hưng vượng, tài lộc dồi dào.

Nhưng chảy đến thế nào còn là điều hệ trọng. Nếu cuồn cuộn xối thẳng đến, xung phá mạch đất cát tường thì bao điều tốt đẹp đều tiêu tán, chỉ còn họa hại, tuyệt diệt, suy bại, dâm loạn.

Vùng đất bằng phải quan sát kỹ hướng nước chảy, rồi theo đó mà thu nạp hay tiêu tán nước. Hướng nước vốn không phân cát hung, nhưng sự đổi hướng, chuyển hướng của nước quyết định họa hay phúc. Nếu một dòng nước uốn lượn từ phương Tốn, Tỵ chảy đến, đổi hướng ở Canh, Thân, Dậu, chảy ra từ Sửu, Cấn thì thành Thủy cục. Xác định phương Tốn, Tỵ thu nước đến thì nhân đinh hưng vượng, con cháu đầy nhà. Xác định phương Canh, Dậu thu nước đến thì nhân đinh và tài lộc cùng hưng vượng, vạn sự như ý. Đại loại là sinh khí tràn trề, nước hưng vượng nhất định phải chảy qua từ phía trước huyệt. Đó là dùng phép Kim cục để thu nước chảy đến từ phương vị Kim cục.

Nếu nước từ phương vị Kim cục chảy đến mà lại dùng phép Hỏa cục để thu thì nước không đến được minh đường, nhân đinh sẽ không hưng vượng. Nếu dùng phép Thủy cục để thu nước đến thì nước tràn trề sinh khí cũng không đến được trạch cục, khiến nhân đinh, tài lộc kém sút.

Cửa nước nơi đất bằng: nhìn hình để biết họa phúc

Cửa nước là nơi nước ra khỏi cục đất, và người xưa đọc từ đó cả tính nết lẫn số phận của người ở.

Chọn mạch kết huyệt nơi đất bằng tuy không có núi cao đẹp, cảnh bên ngoài mỹ lệ, nhưng trấn giữ cửa nước vẫn cần sự diệu kỳ của dòng nước chầu về huyệt mà lưu luyến, sa hai bên đan xen như dệt cửi, rồi duỗi dài thênh thang đi thì mới tốt. Nếu nước ngậm hình ấn ngọc, hòm vàng, bày thành chữ Nhất, hoặc sa đá uốn lượn như cây bút thần thì càng quý. Có gò cao đối xứng hai bên nước, có ngọn núi cao nguy nga bên một bờ nước, phía trước nước có cầu đá bắc ngang thì càng quý hiếm.

Địa hình tuy kết huyệt ở bên trong mà họa phúc lại biểu lộ ở bên ngoài. Nếu thấy dáng như vị hàn lâm học sĩ dùng bút mực thì biết đó là huyệt thanh nhã, ắt sinh văn nhân mặc khách. Thấy dáng như võ sĩ dùng khí giới thì biết đó là huyệt hùng cường, ắt sinh võ tướng dũng mãnh. Thấy dáng như kho lương thì biết đó là huyệt chiêu tài thu phú, ắt sinh nhà đại phú. Thấy dáng như con rùa đen nằm ngủ, như hạc trắng thơ thẩn, như cây gậy chống thì biết đó là huyệt giấu khí tiên, ắt sinh tăng lữ hoặc đạo sĩ giỏi bàn chuyện huyền diệu.

Cửa nước rộng hay hẹp cho biết nhà ấy đoàn tụ hay vợ con ly tán. Nước uốn lượn hay chảy thẳng cho biết chủ nhân là người văn nhã cao thượng hay phàm tục thấp hèn. Sa và nước trùng trùng điệp điệp hay thưa thớt lẻ tẻ cho biết chủ nhân được vinh hoa phú quý hay nghèo khó. Đầu các ngọn sa đối diện nhau hay quay lưng nhau cho biết chủ nhân xử sự thân tình hay bạc bẽo.

Sa ở cửa nước nếu thuận theo nước như bay đi xa thì báo điềm bỏ quê hương, tha phương cầu thực. Nếu nghiêng lệch, nhọn nhỏ, đối đầu nhau thì báo tranh giành khốc liệt, sát thương tàn tệ. Nếu như nanh vuốt mãnh hổ hoặc xiềng gông của phạm nhân thì báo kiện tụng, tù ngục, trừng phạt nặng nề. Nếu như mỹ nhân nâng váy yếu điệu múa may thì báo chuyện nam nữ hẹn hò, ham vui giao hoan.

Cho nên mới nói ở trong cổng lớn là bậc chính nhân quân tử, ở ngoài cổng lớn là kẻ tiểu nhân thiển cận. Khi tìm cửa nước nơi đất bằng, cứ xét hình dạng cụ thể của minh đường và cửa nước thì rõ cát hung họa phúc. Nhưng hình núi nước thiên biến vạn hóa, lời nói không tả hết được, phải là người đọc một hiểu mười mới thấu đáo.

Nước nhỏ, nước lớn và lời xưa về hướng nước

Có mạch rồng ắt có dòng nước đi cùng. Nước lớn mênh mông bên cạnh mạch rồng cho biết họa phúc, sang hèn của chủ huyệt nhiều đời; nước nhỏ yếu ớt cạnh mạch rồng cho biết họa phúc, sang hèn của chủ huyệt chỉ lúc còn nhỏ tuổi.

Hình dạng sa cũng báo trước cát hung họa phúc, nhưng ứng nghiệm không mạnh bằng nước. Hình thái khác nhau của nước tất báo cát hung họa phúc, lại ứng nghiệm rất nhanh, có khi tức thời. Tính tình của nước dễ nhận ra hơn tính tình của núi. Vì vậy khi tìm rồng phải xem kỹ tình thế của nước, rõ thế nước rồi mới chọn huyệt.

Xem mạch nước phải xem hình thái cụ thể của nó: có cung kính chầu đón quan quý, phúc lộc hay không; có đưa tiễn, vòng tránh suy vong bệnh tật hay không; có thành nơi hoài thai sinh trưởng hay không; có yên lành bình tĩnh mà kết huyệt hay không; có linh hoạt lưu động vươn tới quan quý phúc lộc hay không.

Nước đi theo mạch rồng chủ yếu từ cửa nước rất lớn mà chảy ra. Mạch rồng vận động nghịch thế thì nước chảy thuận hướng; nước chảy nghịch hướng thì mạch rồng vận động thuận hướng. Vận động thuận là tính Dương, vận động nghịch là tính Âm. Dùng chính thân mạch rồng mà tiêu tán và thu nạp nước lớn chảy mạnh đến; dùng hướng của nước mà tiêu tán và thu nạp nước nhỏ chảy yếu tới. Nếu hướng bên trong không hợp thì thông qua trong ngoài mà tiêu, nạp nước đến. Nơi sinh khí hưng vượng thì thu nạp, kết tụ nước chảy đến; nơi sinh khí suy bại thì tiêu trừ cho nước chảy đi. Được nước hai bên uốn lượn đúng phép mới thực sự phù hợp.

Một huyệt mộ, nếu sau huyệt có mạch rồng dài tám thước, trước huyệt có nước tản rơi trong phạm vi vài trượng là được. Nếu nước bên huyệt không hợp phép thì dù mạch đất cát lợi cũng không đáng kể là tốt đẹp. Vì thế người xưa có câu nói rằng mạch rồng đẹp không bằng huyệt đẹp, huyệt đẹp không bằng hướng nước đẹp.

Vì sao gọi là bình dương và vì sao nên chôn nông

Vùng bình dương phân bố chủ yếu ở dải ven biển Giang Nam. Sở dĩ gọi là bình vì nó thừa nước mà thiếu núi. Sở dĩ gọi là dương vì chỗ của nó nằm trong nước. Cho nên cách mai táng ở đây tốt nhất là chôn nông rồi đắp đất lên cao.

Văn công tiên sinh thời xưa từng nói vùng bình dương chỉ có một dải hồ đầm, không thể đào sâu. Đất vùng hồ đầm đào xuống một tấc đã thấy nước. Gặp chủ nhân đặt huyệt ở đây đều thấy họ phát đạt nhanh chóng, lại còn để âm đức lâu dài cho đời sau. Người thời nay không chịu quan sát kỹ địa mạo thích hợp, cứ đào khoét sâu xuống, vì ít người thông minh tài trí. Địa hình ở phương nam khác hẳn phương bắc, vùng bình dương phương nam cũng khác bình dương phương bắc, nên càng phải biết phân biệt rõ ràng.

Nguồn: Lưu Bá Ôn, Địa Lý Toàn Thư, tập 2.

Kiều Oanh Trần

Tác giả

Kiều Oanh Trần

Nghiên cứu Mệnh lý - Tử vi - Tâm lý học

Theo dõi trên Facebook

Chia sẻ bài viết

FacebookXLinkedInZalo
Quay lại Đạo Gia