Bài tổng quan
Cửa nha môn, thước tám đoạn, thế đất và nước xối nhà
Cửa nha môn phải đếm bước theo số lẻ, và con đường vào tránh hình cổ hạc thân rắn. Một cây thước Lỗ Ban chia tám đoạn, đoạn nào rơi vào cổng là cát. Còn thế đất quanh nhà, đông cao hay tây thấp, lại mang tên của từng nước…
Mục lục · 7 phần
- 01Cửa nha môn: đếm bước theo số lẻ, tránh dáng cổ hạc thân rắn
- 02Kiểu cửa Trực Mộc tinh và Hoành Mộc tinh
- 03Thước tám đoạn đo cổng
- 04Thế đất quanh nhà: đông cao, tây thấp hay ngược lại
- 05Nước xối vào nhà, nước vây quanh làng
- 06Sảnh đường: sân sâu, thềm cao, đừng trồng hoa
- 07Lục Giáp khởi vòng Phúc Đức: những sao quản mười năm
Cửa nha môn: đếm bước theo số lẻ, tránh dáng cổ hạc thân rắn
Muốn dựng một nha môn, một phủ đường, một công đường thì bắt đầu đếm từ mái hiên của gian chính sảnh phía trước cho đến cửa Nghi môn, tức cửa phòng lễ nghi. Mỗi bước tính bốn thước năm tấc, và chỉ lấy số bước lẻ. Số lẻ thuộc dương, là dương đức rộng dày, theo nghĩa sinh hóa vạn vật. Số chẵn thuộc âm, là u ám, vận nguy, nên không lấy.
Con đường thông từ Nghi môn vào chính sảnh gọi là Não Độ, nên làm rộng lớn. Chớ làm hẹp mà dài, vì như thế thành hình cổ hạc thân rắn, rất hung.
Nếu cục điện như cổ hạc thân rắn thì nha môn công đường sẽ gặp hung họa: mọi việc suy bại, kho lẫm rỗng không, quan dân đều khốn khổ.
Nếu nha môn công đường rộng rãi vuông vức thì việc quan thông suốt, dân chúng cũng được yên vui.
Kiểu cửa Trực Mộc tinh và Hoành Mộc tinh
Cửa nha môn không chỉ để ra vào; nó còn là cái miệng của cả một cơ quan. Người xưa phân loại cửa theo hình của Mộc tinh.
Phép làm nha môn lấy kiểu cửa Trực Mộc tinh làm hàng đầu. Nếu địa thế không cho phép, như phía trước có đỉnh núi, có dòng sông, hoặc bị các nha môn khác hạn chế, không tiện làm kiểu Trực Mộc tinh, thì chọn phương vị hai bên tả hữu mà làm kiểu Hoành Mộc tinh. Nước từ bên hữu phía trước chảy tới thì mở cửa Hoành Mộc tinh ở bên hữu. Nước từ bên tả phía trước chảy tới thì mở cửa Hoành Mộc tinh ở bên tả.
Nếu ở giữa đô thị, hai bên tả hữu không có sông nước chầu về, thì nên mở cửa Hoành Mộc tinh ở phương vị Thanh Long bên tả. Nếu địa thế có chướng ngại, thì cả hai kiểu Trực Mộc tinh lẫn Hoành Mộc tinh đều không nên làm, mà nên mở cửa ở khoảng giữa Thiên Tài và Thái Âm. Ngày mở cửa cũng nên chọn các phương vị Thiên Đạo, Thiên Nguyệt Ân, Thiên Nguyệt Đức.
Thư viện của Nho học cũng lấy Trực Mộc tinh làm kiểu cửa thích hợp nhất, Hoành Mộc tinh kém hơn một chút; nên chọn các phương vị Khoa Giáp, Văn Khôi, Ngọc Đường, Tướng Lộc cho lành. Cửa phủ tướng quân cũng lấy Trực Mộc tinh làm thích hợp nhất, Hoành Mộc tinh kém hơn một chút; ngày giờ nên chọn các phương vị Tướng tinh, Uy đảm, Thiên mã, Tướng quân, Thắng quang, Binh phúc, Vũ Khúc, Tấu Khúc cho lành.
Thước tám đoạn đo cổng
Độ dài của cửa, của cổng phải theo Ngọc Xích. Ngọc Xích chia làm tám đoạn là Tài, Bệnh, Ly, Nghĩa, Quan, Kiếp, Hại, Bổn. Tài và Bổn là lành, việc công việc tư, trong ngoài đều thông đạt. Nhà dân thường dùng thước Lỗ Ban, lấy thước quan dài một thước hai tấc làm chuẩn, chia đều tám đoạn; các đoạn ấy gọi là Tài, Bệnh, Ly, Nghĩa, Quan, Kiếp, Hại, Bổn, ứng với bảy sao trong chòm Bắc Đẩu và sao Tả Phụ, phân thành các sao Tham Lang, Phá Quân, Vũ Khúc, Cự Môn, Văn Khúc, Liêm Trinh, Lộc Tồn và Tả Phụ.
Cách dùng thước này là bắt đầu tính từ đoạn có chữ Tài. Bất kể là một trượng hay hai trượng, chỉ tính số tấc; hễ rơi vào cát tinh là tốt nhất. Cửa hoặc cổng của nha môn công đường nên lấy chiều rộng một trượng một thước năm tấc.
Thế đất quanh nhà: đông cao, tây thấp hay ngược lại
Nhà ở của người ta, bên trái có dòng nước chảy gọi là Thanh Long, bên phải có đường lớn gọi là Bạch Hổ, phía trước có ao hồ gọi là Chu Tước, phía sau có gò đống gọi là Huyền Vũ. Đó là địa thế tôn quý nhất.
Địa thế phía đông cao, phía tây thấp thì sinh khí giáng xuống nền nhà. Phía tây cao, phía đông thấp thì không giàu không quý. Phía trước cao, phía sau thấp thì có cô nhi, quả phụ, lụn bại. Phía trước thấp, phía sau cao thì nhà nuôi được nhiều trâu bò ngựa. Đất nhà bằng phẳng gọi là đất Lương; trước thấp sau cao gọi là đất Tấn; hai thế đất ấy đều lành. Đông cao tây thấp gọi là đất Lỗ, ở đây đại phú đại quý, thường sinh người hiền. Trước cao sau thấp là đất Tề, ở đây hung hiểm. Bốn phía cao, giữa thấp gọi là đất Vệ, ở đây trước giàu sau nghèo.
Phía đông nhà có dòng nước chảy ra sông biển là lành; có đường lớn thì bần cùng. Phía bắc có đường lớn là hung hiểm. Phía nam có đường lớn thì đại phú đại quý. Nhà ở gần cung điện thì tăng tuổi thọ, bình an sung túc. Không nên ở gần nơi thờ cúng như nhà thờ, chùa chiền, đền miếu, cũng không nên gần phần mộ, doanh trại quân đội, bãi chiến trường xưa. Không ở nơi cây cỏ khô cằn, không ở cửa thành, không ở nơi đối diện nhà lao.
Xét địa thế xung quanh nhà, nếu Mão Dậu khuyết hãm thì không đáng lo; nếu Tý Ngọ khuyết hãm thì hung hiểm. Nam bắc dài, đông tây hẹp thì lành; đông tây rộng, nam bắc dài thì trước hung sau lành. Nhà ở nơi đất ẩm ướt thì tốt hơn nơi khô cạn.
Làm nhà, kỵ làm cổng và xây tường bao trước vì sợ khó hoàn tất. Hai cánh cổng và tường bao nên lớn nhỏ như nhau: cánh trái lớn thì chủ nhà đổi vợ, cánh phải lớn thì nhà có cô nhi quả phụ. Cửa lớn có mười trụ, cửa nhỏ có sáu trụ, đều phải chắc chắn thì lành. Cánh cổng cao hơn tường bao thì trong nhà nhiều chuyện buồn. Đường lớn đâm thẳng vào cổng nhà thì rất tổn thọ. Ngã tư kẹp cổng lớn thì nhà nhiều người chết. Gần cổng có giếng nước thì hung hiểm. Cửa kho đối diện cổng thì gia nghiệp suy bại. Trước cổng có liễu rũ thì bất lợi. Trước cổng kỵ có hai ao, vì thành chữ khốc, nghĩa là khóc.
Nước xối vào nhà, nước vây quanh làng
Mạch rồng nghìn chi vạn nhánh là do càn khôn tạo hóa mà thành, có lành có dữ khác nhau. Nước xối thẳng từ phương chính nam tới thì gia đình gặp tai họa, bị sung quân. Nước xối thẳng vào phía sau nhà thì có ôn dịch, người dâm đãng thông gian, đàn ông cô độc, đàn bà góa. Phía tây có nước xối thẳng vào hông nhà thì gia nghiệp lụn bại. Phía đông có nước xối thẳng vào sườn nhà cũng chủ họa, như hình ngục, thương tích, nghèo khổ. Nước chảy thẳng vào cổng thì kéo theo nhiều bệnh tật.
Một thôn làng có hai phía đông tây có sông thì dân làng tản mác, chỉ tốt cho nhà thứ nhất và thứ năm. Nếu hai phía nam bắc có sông thì dân làng nghèo khổ, phải đi làm thợ nơi xa, chỉ có nhà thứ hai, thứ chín, thứ mười ba khá giả. Làng ở giữa, xung quanh có nước bao bọc như thắt eo thì gặp nghiệp sẽ phát đạt nhanh, vinh hoa phú quý, có người làm đại quan. Một ngôi mộ nằm thẳng vào cổng thì trong nhà sinh bệnh, lo buồn triền miên. Hai bên nhà có mộ phần cũng hung hiểm, nhưng có nước ngăn cách thì không đáng ngại. Phương Khôn có dòng nước chảy thẳng sang phương Tốn thì người ở nơi này thuộc loại bất lương, mang lòng giết người, chết trong ngục. Quan sát một thôn làng, thấy cây cỏ khô héo thì làng sắp tàn; cây cỏ tươi tốt thì làng sắp phát.
Biến hóa của chín sao huyền diệu vô cùng. Có sao Tham Lang thì vinh hoa quý hiển. Cát tinh thứ hai là sao Cự Môn, chủ thu hoạch mùa màng cao. Sao Lộc Tồn chủ tai họa như cô quả, kiện tụng, dâm loạn, cường tặc, bệnh tật. Sao Văn Khúc chủ nếp nhà bại hoại, họa hình ngục. Sao Liêm Trinh hung hiểm, nhà có kẻ bất lương phạm tội. Sao Vũ Khúc là Học Đường tinh, chủ nhà có người hiền đức, đỗ cao. Sao Phá Quân hung hiểm, gia sản lụn bại, ô danh. Tả Phụ, Hữu Bật là cát tinh, nhà sẽ đại phú quý. Phá Quân, Cự Môn và Tả Phụ chủ về trưởng nam; Văn Khúc, Vũ Khúc chủ về trung nam; Lộc Tồn, Tham Lang và Hữu Bật chủ về thứ nam.
Sảnh đường: sân sâu, thềm cao, đừng trồng hoa
Chuyện làm ăn của một nhà cũng nằm trong cách xếp sảnh đường và sân trước. Một mẩu lời xưa về an trạch kể rõ những điều ấy.
Thiên tỉnh, tức cái sân trước sảnh, phải sâu và kín thì ruộng vườn và làm ăn mỗi năm thêm tăng tiến. Hai thước bảy tấc thì hợp cho sự phát đạt của nhà lương thiện. Điền trang có mười lăm bậc thềm thì tiền tài tích lũy ngày một nhiều. Không nên đem các loại hoa trồng trong sân, sợ nuôi con gái bất lương ngầm phá thai.
Buồng vệ sinh không được đối diện sảnh đường, kẻo phụ nữ dâm loạn đa tình. Cửa đại sảnh đối diện tiểu sảnh cũng vậy. Hậu thất không đối diện quỷ sơn, kẻo phạm tội hình. Nước độc bỗng nhiên xối vào cổng chính thì mỗi năm có bệnh ôn dịch. Chín sao chiếu rọi, họa phúc khác nhau: Lộc Tồn chủ nhiều tai họa, Liêm Trinh chủ lắm ưu phiền, Phá Quân thì nhà bị trộm cướp, Tả Phụ nửa lành nửa dữ phần lớn chủ sự suy bại, Tham Lang thì lành.
Đặt nước chảy về hướng Huyền Vũ thì gia sản tăng tiến. Làm nhà kho đúng hướng Bạch Hổ thì thu hoạch cao; hướng Thanh Long cũng vậy. Nước Thái Âm chảy về hướng Huyền Vũ thì quỷ thần phù trợ, không cần lo.
Lục Giáp khởi vòng Phúc Đức: những sao quản mười năm
Sau tất cả những phép đo bằng bước, bằng thước, bằng nước, vẫn còn một vòng sao đi theo thời gian, mỗi sao giữ nhà mười năm.
Lấy sáu giáp là Giáp Tý, Giáp Tuất, Giáp Thân, Giáp Ngọ, Giáp Thìn, Giáp Dần để khởi vòng Phúc Đức, mỗi sao chủ quản mười năm. Năm Giáp Tý thì Phúc Đức khởi ở Tý; Giáp Tuất ở Tuất; Giáp Thân ở Thân; Giáp Ngọ ở Ngọ; Giáp Thìn ở Thìn; Giáp Dần ở Dần. Từ Phúc Đức, các sao nối nhau theo vòng: Hoạt Diệu, Tràng Sinh, Tử Thụ, Khẩu Thiệt, Kiện Tụng, Đại Trang, Văn Xương, Kim Chương, Thái Dương, Huyết Khí, Điền Thương, Thái Âm, Dâm Xương, Táo Hỏa, Trường Bệnh, Si Ưu, Điên Cuồng, Độc Hỏa, Suy Bệnh, Vinh Quý, Hoạn Lạc, Quan Phủ, Phá Bại.
Mỗi sao có nghĩa riêng. Khẩu Thiệt chủ thị phi. Kiện Tụng chủ chuyện quan phủ. Đại Trang chủ việc tiến điền sản. Văn Xương lợi cho thi cử. Kim Chương chủ sự quý hiển. Thái Dương chủ sinh con trai; Thái Âm chủ sinh con gái. Huyết Khí chủ tai họa về máu. Điền Thương chủ chuyện vướng mắc ở ruộng đất. Dâm Xương chủ sự loạn. Táo Hỏa chủ hỏa tai. Si Ưu chủ quỷ quái. Điên Cuồng chủ bệnh cuồng. Vinh Quý và Hoạn Lạc là những sao lành. Mỗi sao ấy lại có sáu vị trí riêng ứng với sáu giáp, nên cùng một sao ở mỗi giáp lại đứng ở một chỗ khác.
Bốn giáp còn lại mà có cát tinh tại vị thì dù có sao dữ cũng không gây ra tai họa, vẫn có thể chủ quản cát tường mười năm.
Nguồn: Lưu Bá Ôn, Địa Lý Toàn Thư, tập 2.
